LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số vấn đề về tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng của nó và một số biện pháp để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của tỷ giá hối đoái trong giai đoạn hiện nay": http://123doc.vn/document/1051924-mot-so-van-de-ve-ty-gia-hoi-doai-anh-huong-cua-no-va-mot-so-bien-phap-de-co-the-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-cua-ty-gia-hoi-doai-trong-giai-doan-hien-n.htm
kho bạc.
Chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định, đồng tiền rất ít khi bị mất giá,
việc thanh toán nợ nần giữa các quốc gia cũng đợc thực hiện bằng vàng nh vậy
nó thực sự đẩm bảo một cơ chế tự động điều chỉnh sự mất cân đối trong thơng
mại và thanh toán quốc tế. Vì vậy chế độ này đã đợc sử dụng hầu nh suốt thế
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở các nớc. Bản vị vàng có một u điểm lớn và một nhợc
điểm đáng kể. Bằng cách gắn chặt, nếu không phải là hoàn toàn mức cung tiền
nội địa với mức dự trữ vàng, bản vị vàng thực sự đã loại trừ việc phát hành tiền
liên tục trên quy mô lớn và tỉ lệ lạm phát một cách thờng xuyên cao. Tuy
nhiên do cơ chế chủ yếu để phục hồi công ăn việc làm đầy đủ là sự giảm giá
và tiền lơng nội địa mà phải mất nhiều năm để điều chỉnh hoàn toàn theo mức
giảm đáng kể về tổng cầu cho nên thời kì của bản vị vàng là thời kì trong đó
các nền kinh tế riêng lẻ dễ bị tổn thơng dẫn tới những giai đoạn suy thoái lâu
dài và sâu sắc.
2. Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods :
Dới chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đợc cố định một cách
vô thời hạn. Bây giờ chúng ta sẽ bàn về hệ thống điều chỉnh hạn chế, trong đó
các tỷ giá hối đoái thông thờng đợc cố định nhng một đôi lúc các nớc đợc
phép thay đổi tỷ giá hối đoái của mình. Hệ thống này đợc ra đời gần cuối thế
chiến thứ hai trong một hội nghị đa quốc gia đợc tổ chức ở Brentton Woods
New Hampshire để hoạch định" một hệ thống tỷ giá hối đoái có trật tự thuận
lợi cho luồng thơng mại tự do". Theo hệ thống này tỉ giá chính thức giữa đồng
tiền của các nớc thành viên đợc hình thành trên cơ sở so sánh hàm lợng vàng
của đô la Mĩ (1 USD= 0,888671 gram vàng) và chỉ đợc phép dao động trong
biên độ 1% của tỉ giá chính thức đã đợc đăng kí tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF vì
thế hệ thống tỉ giá này còn đợc biết với đến với tên gọi bản vị đôla. Theo chế
độ bản vị đô la, các đồng tiền đợc chuyển đổi theo đôla chứ không phải theo
vàng. Tại mức tỷ giá hối đoái cố định, các ngân hàng trung ơng cam kết mua
hoặc bán đôla từ nguồn dự trữ ngoại hối hoặc lợng đôla hiện có của họ. Họ
cam kết can thiệp vào thị trờng ngoại hối để bảo vệ tỷ giá hối đoái cố định
theo đồng đôla.
5
Sự khác nhau căn bản giữa bản vị vàng và bản vị đôla là ở chỗ không còn
sự đảm bảo đổi lại 100% đối với đồng tiền nội địa, các chính phủ có thể in
thêm tiền để làm tăng sức cạnh tranh trong nớc. Nếu tình trạng thâm hụt ngân
sách kéo dài chính phủ phải dùng ngày càng nhiều dự trữ ngoại hối của mình
để trang trải cho thâm hụt, thì cuối cùng đất nớc sẽ cạn kiệt dự trữ ngoại hối,
lúc đó nhà nớc sẽ phải phá giá tỉ giá hối đoái của mình chuyển sang một nớc giá
trị ngang giá thấp hơn theo đôla để cố gắng tăng thờng xuyên sức cạnh tranh và
loại trừ sự mất cân đối cơ bản trong thanh toán quốc tế.
Tỷ giá hối đoái cố định, nếu bền vững hay đợc coi là bền vững thì sẽ tạo
cho các doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch và tính toán giá, nh vậy sẽ thúc
đẩy đầu t và thơng mại quốc tế; tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự hạn chế đối
với chính sách tiền tệ trong nớc vì do tỷ giá hối đoái cố định nên không
khuyến khích sự luân chuyển vốn vào hay ra khỏi quốc gia và do đó không
cần thiết phải có sự quan tâm thờng xuyên của ngân hàng trung ơng. Tỷ giá
hối đoái cố định sẽ là tối u nếu các ngân hàng trung ơng có thể thực hiện đợc
sự điều chỉnh cho tới mức tỉ giá tơng đối cân bằng và thực hiện việc cố định tỉ
giá ở mức đó; cơ chế tỉ giá cố định trực tiếp đặt ra sự tuân thủ đối với chính
sách tiền tệ và có thể đợc coi là phù hợp trong tình huống các công cụ tài
chính và thị trờng tài chính cha phát triển đủ mức cho sự vận hành của chính
sách tiền tệ theo cơ chế thị trờng.
Tuy nhiên tỷ giá hối đoái cố định trong trờng hợp thiếu tin cậy sẽ bị ảnh
hởng rất lớn của đầu cơ, điều này có thể dẫn tới sự phá vỡ hoàn toàn sự ổn
định tiền tệ, ổn định kinh tế hay ảnh hởng tới dự trữ ngoại hối; tỉ giá hối đoái
cố định có thể làm ngời ta phải từ bỏ đầu cơ, do đó thị trờng sẽ buồn tẻ, khó
có thể xác định đâu là tỉ giá hối đoái tối u, hay hợp lý cho một nền kinh tế,
mặc dù cả chính phủ và nhân hàng trung ơng đều cần thiết phải hiểu hơn ai
hết đâu là mức cân bằng. Tỉ giá hối đoái danh nghĩa cố định có thể là quan
trọng nhng nó không quyết định tỉ giá hối đoái thực tế mà nó chỉ đợc coi là
chỉ số hay mục tiêu quan trọng mà thôi. Duy trì tỉ giá hối đoái cố định đòi hỏi
ngân hàng trung ơng phải luôn sẵn sàng can thiệp vào thị trờng ngoại hối để
đảm bảo mức tỉ giá hối đoái cố định.Tuy nhiên, khó có thể đa ra về mức độ
cần can thiệp nh thế nào để tác dộng vào nền kinh tế nhằm đạt đợc mục tiêu
can thiệp. Ngân hàng trung ơng cần thiết phải duy trì một mức nhất định về dự
trữ ngoại hối, nh vậy chi phí về quản lý tài sản sẽ lớn. Tỉ giá hối đoái này cũng
6
phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của quốc gia khác, và đó là điều đôi khi gây
bất lợi do việc gắn đồng tiền bản tệ vào một đồng ngoại tệ nào đó.
* Tỷ giá hối đoái thả nổi:
Là tỷ giá hối đoái đợc hình thành trên cơ sở diễn biến cung cầu. Có hai
loại tỷ giá thả nổi là thả nổi tự do và thả nổi có quản lý. Chúng ta biết rằng
nền kinh tế cân bằng dài hạn là phải cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài (tức là
đầy đủ việc làm, xuất khẩu ròng bằng không và tài khoản vãng lai cân bằng)
Nhu cầu nhập khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng trong nớc và tỷ giá hối đoái
thực tế. Nhu cầu xuất khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng ở nớc ngoài và tỉ giá
hối đoái thực tế. Do đó khi nền kinh tế trong nớc và nớc ngoài đều ở trong tình
trạng cân đối hoặc ở mức sản lợng tiềm năng,thì chỉ có một tỉ giá chính thức
duy nhất đồng thời tơng ứng với sự cân bằng bên ngoài.ở bầt kì mức tỉ giá hối
đoái nào cao hơn nền kinh tế nội địa cũng có sức cạnh tranh kém hơn. Nhập
khẩu sẽ cao hơn và xuất khẩu sẽ thấp hơn, nền kinh tế sẽ bị thâm hụt trong tài
khoản vãng lai. Ngợc lại ở bất kì một mức tỷ giá hối đoái thực tế nào thấp hơn
với xuất khẩu cao hơn và nhập khâủ thấp hơn, nền kinh tế nội địa sẽ có một
khoản thặng d trong vãng lai. Chỉ có một tỉ giá hối đoái thực tế duy nhất tơng
ứng với sự cân đối bên trong và bên ngoài.
Khi tỷ giá thả nổi tự do, thì không có sự can thiệp nào trên thị trờng
ngoại hối và không có khoản chuyển nhợng ròng về tiền giữa các nớc với nhau
vì cán cân thanh toán luôn bằngkhông. Và về lâu dài, tỉ giá hối đoái danh
nghĩa sẽ phải điều chỉnh để đạt tới mức tỉ giá hối thực tế duy nhất cần thiết
cho sự cân đối bên trong và bên ngoài trong sự cân bằng dài hạn .
Ưu điểm của tỷ giá hối đoái thả nổi là nó đợc hình thành trên cơ sở cung
cầu trên thị trờng. Qua cơ chế thị trờng các nguồn lực đợc phân bổ một cách
thành công và có hiệu quả. Cung cầu nội tệ và ngoại tệ sẽ đợc tự cân bằng trên
thị trờng. Ngân hành trung ơng sẽ không cần cũng nh không có phải có trách
nhiệm can thiệp vào thị trờng hối đoái mà chủ yếu thực hện theo yêu cầu của
khách hàng. Nhìn chung, tình hình thị trờng trong nớc sẽ không bị ảnh hởng
bởi các luồng vốn bên ngoài và vì vậy ngân hàng trung ơng có thể theo đuổi
chính sách tiền tệ một cách độc lập không phụ thuộc vào chính sách tiền tệ
của quốc gia khác.
7
Tuy nhiên cơ chế này cũng có những nhợc điểm vì thị trờng luôn có rủi
ro, nhiều khi quá tải sẽ dẫn đến tỉ giá hối đoái không ở mức phù hợp với các
chỉ số kinh tế cơ bản của nền kinh tế, thậm chí tồn tại trong thời gian khá dài.
Hơn nữa khuynh hớng của tỉ giá trong tơng lai sẽ không chắc chắn, điều đó sẽ
khó khăn trong việc lập kế hoạch và tính toán giá cả. Những biến động không
chắc chắn của tỉ giá hối đoái có thể đợc khắc phục bằng các công cụ phòng
tránh rủi ro(nh hợp đồng kỳ hạn, quyền lựa chọn) nhng sẽ gây ra thay đổi rất
lớn trong giá thành sản phẩm. Mặt khác sự tự do hoạt động của chính sách
tiền tệ trong nớc có thể bị lợi dụng, chẳng hạn nh chính phủ, do không có
trách nhiệm phải ngăn chặn sự mất giá của đồng tiền, nên có thể dễ thực hiện
việc lạm phát qua đờng ngân sách và tiền tệ.
Nh vậy trong chừng mực nào đó có thể nói rằng tỉ giá hối đoái thả nổi
hay cố định cũng đều có những u điểm và hạn chế. Việc lựa chọn một cơ chế
tỉ giá cố định hay thả nổi ở mức nào đó chắc chắn sẽ phụ thuộc vào từng quốc
gia với những diều kiện kinh tế và thị trờng khác nhau hay nói chung là phụ
thuộc vào lý do riêng nhằm mục đích phát huy những điểm mạnh và khắc
phục những hạn chế của mỗi cơ chế ở mỗi môi tròng kinh tế xã hội khác nhau.
Những quốc gia chủ trơng thả nổi tỉ giá hối đoái cho rằng: Nếu áp dụng cơ
chế này, thị trờng ngoại hối có tính minh bạch cao, thị tròng hoạt động hiệu
quả, và hơn nữa thị trờng phải để tự nó tự điều chỉnh. Chính sách tiền tệ phải
đợc thiết lập một cách độc lập, phù hợp với tình hình kinh tế trong nớc (nghiã
là đạt đợc sự ổn định mức giá chung của nền kinh tế), và tỉ giá hối đoái cần
phải đợc thả nổi theo bất kì hớng nào mà do thực tế đem lại mức tỉ giá hối
đoái đó.
Trong khi đó , những quốc gia chủ trơng cố định tỉ giá (tức là chủ trơng
gắn vào một hay một số đồng tiền chủ chốt, hoặc các đối tác kinh doanh chính
của nớc đó) với mục tiêu dung hoà các yếu tố chính trị, kinh tế và thơng mại.
Các nhà kinh tế công nhận tầm quan trọng và lợi ích của việc gắn đồng tiền
này trong việc thực hiện một chính sách tiền tệ chặt chẽ và tỉ giá hối đoái cố
định đợc a thích hơn bất kì một dạng thả nổi nào, vì tỉ giá hối đoái cố định
không đợc coi là công cụ độc lập hữu hiệu của chính sách tiền tệ trong dài
hạn. Những lợi ích do tỉ giá cố định đem lại đợc coi là nhiều hơn cái giá phải
trả cho những hậu quả mà nó gây ra cho nền kinh tế.
8
Các nhà nghiên cứu về tỉ giá hối đoái thờng tập trung vào vai trò của tỉ
giá trong việc bảo đảm cho nền kinh tế một mức sản lợng kinh tế cao, trong
điều kiện có rất nhiều bất ổn, hay các cú sốc trong nớc và quốc tế tác động
đến nền kinh tế. Và vì vậy, các nhà khoa học cho rằng, cơ chế tỉ giá hối đoái
thả nổi có khả năng đối phó tốt nhất đối với các cú sốc trong một nền kinh tế.
Vì sự thay đổi tỉ giá hối đoái sau mỗi cú sốc sẽ là cách hữu hiệu nhất nhằm
khôi phục lại mức sản lợng trở lại trạng thái cân bằng. Trong khi đó các nhà
kinh tế học cũng thừa nhận cơ chế tỉ giá hối đoái cố định có khả năng đối phó
một cách tốt nhất với sự mất cân đối về tiền tệ của nền kinh tế, vì rằng sự tăng
hay giảm ra từ dự trữ ngoại hối sẽ làm giảm sự tác động của sự mất cân đối
tiền tệ. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng những nớc có nền kinh tế mở cửa cao thì
nên sử dụng tỷ giá hối đoái cố định, vì với cơ chế tỉ giá thả nổi thì có rất nhiều
sự biến động của tỷ giá hối đoái danh nghĩa mọt cách mạnh mẽ, tác động đến
giá thành sản phẩm, giá cả hàng hoá mạnh đến mức mà không có một sự thay
đổi nào của tỉ giá hối đoái nào có thể điêù chỉnh đợc, thậm chí chỉ `là mức
mong muốn; tuy nhiên sự mở cửa của nền kinh tế lại cần thiết phải duy trì chế
đô tỉ giá hối đoái thả nổi nhằm đảm bảo để cho chính sách tiền tệ không bị
ảnh hởng bởi các cú sốc từ bên ngoài trong chừng mực mà bản thân nền kinh
tế cần phải đối phó.
3 Sự can thiệp của nhà nớc vào hệ thống tỉ giá hối đoái.
Hệ thống tỷ giá hối đoái do ngân hàng trung ơng trực tiếp can thiệp là
can thiệp theo trách nhiệm (trong trờng hợp tỉ giá cố định) và can thiệp tự do
(áp dụng với cả tỉ giá cố định và thả nổi).
Ngân hàng trung ơng có thể sử dụng một số công cụ khác nhau để tác
động vào nền kinh tế thông qua cơ chế về tỉ giá hối đoái. Công cụ thứ nhất có
thể sử dụng là lãi suất chiết khấu, việc tăng giảm lãi suất chiết khấu có thể làm
ảnh hởng đến cung cầu tiền vì thế sẽ làm ảnh hởng đến tỉ giá hối đoái. Khi
ngân hàng trung ơng tăng lãi suất chiết khấu các ngân hàng thơng mại sẽ phải
tăng tỉ lệ dự trữ thực tế và làm cho mức cung tiền giảm, và nh vậy sẽ tác động
tới tỉ giá hối đoái. Thứ hai là ngân hàng trung ơng có thể tác động vào tỉ giá
hối đoái bằng cách mua bán ngoại tệ trên thị trờng, khi mà giá của đồng nội tệ
giảm so với đồng ngoại tệ ngân hàng trung ơng có thể đem ngoại tệ ra bán
nhằm cứu giá trị của đồng bản tệ. Ngợc lại khi giá trị của đồng tiền nớc ngoài
giảm mà muốn làm tăng tỉ trọng xuất khẩu ngân hàng trung ơng có thể làm
9
tăng giá trị của đồng tiền nớc ngoài bằng cách mua thêm nhiều ngoại tệ trên
thị trờng ngoại hối làm cho cầu ngoại tệ tăng lên thì có thể làm cho tỉ giá hối
đoái chuyển dịch.
Một công cụ nữa mà ngân hàng trung ơng có thể sử dụng nữa là phá giá
đồng tiền. Phá giá hay nâng giá là việc giảm bớt hay tăng lên tỉ giá hối đoái
mà đợc chính phủ cam kết ủng hộ, đây là một phơng pháp điều chỉnh tỉ giá
hối đoái danh nghĩa (theo hớng làm giảm giá nội tệ so với đồng ngoại tệ). Ph-
ơng pháp này đã đợc khẳng định về mặt lý thuyết và đã đợc hầu hết các nớc
trên thế giới áp dụng.
Trong ngắn hạn, khi giá cả và tiền lơng điều chỉnh một cách chậm chạp
việc phá giá làm tăng giá trong nớc của hàng nhập khẩu và làm giảm giá ngoài
nớc của hàng xuất nớc đó. Cả hai loại tác động này đều cải tiến mức cạnh
tranh quốc tế, các nguồn lực sẽ đợc thu hút vào nền kinh tế nội địa và đặc biệt
là đợc thu hút vào các ngành xuất khẩu mà giờ có thể cạnh tranh có hiệu quả
hơn trên thị trờng nớc ngoài. Tuy nhiên việc phá giá có thể không cải thiện đ-
ợc tài khoản vẵng lai trong thời gian trớc mắt thậm chí có thể dẫn đến thâm
hụt nhng khi xét về lâu dài, khi những ngời mua và ngời bán điều chỉnh lợng
xuất khẩu và nhập khẩu thì sẽ tạo ra thặng d trong tài khoản vãng lai của cán
cân thanh toán.
Trong dài hạn, nếu nền kinh tế không thực sự phát triển, việc phá giá sẽ
làm tăng mức tiền lơng và giá danh nghĩa để cho phù hợp với mức giá nhập
khẩu cao hơn làm cho tất cả các biến số thực tế khác không thay đổi. Cuối
cùng là phá giá sẽ không có tác động gì cả.
Nh vậy phá giá thờng đợc các chính phủ sử dụng để điều chỉnh kinh tế
trong ngắn hạn, nhng nếu không xem xét một cách kĩ lỡng thì việc phá giá sẽ
gây ra những hậu quả khôn lờng. Thứ nhất phá giá sẽ làm tăng lạm phát vì nó
làm tăng giá vật t, thiết bị nhập,thu hẹp lãi của các doanh nghiệp sản xuất, sẽ
ảnh hởng đến nguồn thu tài chính và làm cho lạm phát sẽ khó kiểm soát hơn,
đồng thời lạm phát tăng sẽ làm tăng tỷ giá, càng phá giá càng không kiểm soát
nổi tiền tệ. Thứ hai là phá giá sẽ dẫn đến tăng giá hàng nhập, hạn chế tốc độ
phát triển kinh tế, tăng tỉ lệ thất nghiệp. Mặt khác khi nội tệ giảm giá sẽ làm
cho nhiều chủ đầu t dịch chuyển tài sản từ nội tệ sang đồng ngoại tệ, lúc này
cầu về ngoại tệ tăng cũng có nghĩa là giá nội tệ ngày càng giảm. Để cân bằng
10
lại và kiềm chế lạm phát thì chính phủ phải tăng lãi suất tiền gửi nội tệ, tức là
lãi suất tín dụng cho sản xuất tăng, hạn chế tốc độ tăng trởng, lạm phát tăng,
tất cả các tình hình trên tác động xấu đến xuấtt khẩu.
Một số nớc thực hiện phá giá vã đã thất bại nh Mê-xi-cô là một điển hình
: Năm1976, tỷ giá tăng từ 12,5 Peso /1USD tới 22 Peso /1 USD, song do tỉ lệ
lạm phát khá cao nên nhập khẩu gia tăng đáng kể, làm cho tỉ giá thực giảm,
do vậy cán cân thơng mại vẫn bị thâm hụt.Đến năm 1982, Mexicô gặp
khó khăn trong thanh toán nợ, thâm hụt tài chính là 15 % GDP, lạm phát lên
tới 59 %. Khi đó chính phủ lại quyết định phá giá một lần nữa, nhng kết quả là
tỉ giá hối đoái thực giảm xuống,cán cân thơng mại xấu đi và sau đó một thoài
gian việc phá giá đồng bản tệ từ 3283 Pêso /1 USD lên 7200 Pêsô /1 USD đã
làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính càng trở nên trầm trọng (hàng
chục tỉ đôla chạy ra nớc ngoài, gánh nặng nợ nớc ngoài tăng 57 %, chỉnh phủ
phải vay 20 tỉ đôla để hỗ trợ kinh tế trong điều kiện bất lợi ).Nguyên nhân là
do việc phá giá diễn ra trong lúc lạm phát đang ở mức rất cao, thâm hụt thơng
mại rất lớn và nguồn vốn nớc ngoài giảm mạnh.
Nếu quốc gia thực hiện việc phá giá vào thời điểm tỉ giá hối đoái thực
đang trong tình trạng nội tệ bị đánh giá quá cao, thì việc phá giá sẽ có hiệu
quả trong việc lấy lại mức cân bằng tỉ giá hối đoái. Và nếu việc phá giá này đi
kèm với những chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp, thì sẽ gây đợc hiệu ứng tích
cực trung hạn hay dài hạn đối với tỉ giá hối đoái thực. Do vậy việc phá giá
danh nghĩa làm cho E tăng trong tỉ giá hối đoái thực nhằm cố gắng loại bỏ
tình trạng mất cân bằng thông qua hình thức tạo ra sự giảm giá trong thực tế,
nhng phải không có bất kì mức tăng tơng ứng nào của giá. Mức tăng này có
thể phát sinh từ các chính sách mở rộng tín dụng, các chính sách tài khoá mở
rộng, tiền lơng Nếu việc phá giá danh nghĩa đợc thực hiện đồng thời với các
chính sách thắt chặt tiền tệ và tài chính không đi đôi với chỉ số tiền lơng thì
chắc chắn sẽ đạt đợc sự giảm giá trên thực tế và khiến cho tỉ giá hối đoái thực
trở về mức cân bằng.
Nh vậy không phải phá giá cũng mang lại kết quả nh ý muốn có khi
không đẩy mạnh đợc xuất khẩu mà lại gây ra hiệu quả khó lờng. Mặt khác,
xuất khẩu tăng hay giảm không chỉ phụ thuộc vào tỉ giá mà còn phụ thuộc vào
nhiều nhân tố khác, ví dụ nh đồng YEN tăng giá liên tục so với đồng USD
trong mấy thập kỉ qua nhng hàng hoá của Nhật vẫn tiệp tục cạnh tranh trên thị
11
trờng quốc tế và cả thị trờng Mĩ là bởi vì hàng hoá của Nhật có chất lợng cao
và giá thành thấp.
Về nguyên tắc, cũng có một số phơng pháp khác có thể sử dụng thay thế
cho biện pháp phá giá đồng tiền, mặc dù không phải lúc nào cũng đạt đợc mọi
kết quả mong muốn. Các biện pháp đó là đánh thuế nhập khẩu đồng thời với
hỗ trợ xuất khẩu; duy trì chế nhiều tỉ giá hối đoái danh nghĩa và các chính
sách về thu nhập.
12
Chơng II
Hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
I. Sơ lợc về hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam từ năm
1955 đến nay.
Trong giai đoạn từ năm 1955 đến 1989, mặc dù nhiều nớc trên thế giới
đang áp dụng cơ chế thả nổi và thả nổi có quản lý, nhng các nớc xã hội chủ
nghĩa, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nớc luôn can thiệp mạnh vào
mọi mặt hoạt động kinh tế, thì quả thực cơ chế hối đoái thả nổi không thể tồn
tại, và phát huy tác dụng, thay vào đó là tỉ giá cố định, Việt Nam cũng không
nằm ngoài khuôn khổ đó. Tỉ giá chính thức của VND đợc công bố vào ngày
25 / 11 / 1955, là tỷ giá giữa VND và đồng nhân dân tệ trung quốc là 1NDT
=1470 VND và giữa đồng Việt Nam với đồng Liên Xô là 1 Rúp bằng 735
đồng Việt Nam. Tỷ giá này đợc xác định bằng cách so sánh giá bán lẻ của 34
mặt hàng tiêu dùng tại thủ đô và một số tỉnh khác giữa hai nớc nhằm giả quyết
nhu cầu thanh toán giữa hai nớc trong những năm kháng chiến chống Pháp.
Sau đó các tỷ giá giữa đồng Việt Nam với các nớc khác đợc thiết lập dựa trên
tỷ giá đó. Bên cạnh tỷ giá chính thức (tỷ giá mậu dịch), nhà nớc còn đa ra hai
loại tỷ giá khác là tỷ giá phi mậu dịch và tỉ giá kết toán nội bộ (tỷ giá giữa các
đơn vị có thu chi ngoại tệ với ngân hàng ngoại thơng). Nh vậy hệ thống tỉ giá
ở Việt Nam trong giai đoạn này là chế độ đa tỷ giá, tỷ giá đợc xác định trên ý
đồ phục vụ kế hoạch của nhà nớc, các quyết định này không xuất phát từ nhu
cầu thực tại của nền kinh tế thị trờng trong và ngoài nớc, tỷ giá giữ vai trò thụ
động, cha phải là công cụ điều chỉnh kinh tế vĩ mô thực sự. Chính vì vậy, hệ
thống tỷ giá này đã gây không ít khó khăn cho việc quản lý đều hành của nhà
nớc trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, kinh tế đối ngoại, đồng thời để lại hậu quả
nghiêm trọng cho nền kinh tế. Sở dĩ có tình trạng nh vậy là vì một số nguyên
nhân, thứ nhất là do việc sử dụng tỷ giá kết toán nội bộ trong quản lý ngân
sách nhà nớc làm cho việc tính toán và thu chi ngân sách bị sai lệch nghiêm
trọng, công tác điều hành ngân sách nhà nớc khó khăn, làm giảm hiệu quả
hoạt động của ngân sách nhà nớc. Từ năm 1970 đến 1980 hàng năm Liên Xô
viện trợ cho nớc ta khoảng 15 % thu nhập của cả nớc, bình quân từ 1,2 đến 1,5
13
tỉ rúp trong 1 năm nếu tính theo tỉ giá kết toán nội bộ thì số viện trợ này khoảng
1/3 tổng thu ngân sách, nhng nếu tính sức mua trên thị trờng của đồng rúp thì tỉ
trọng này vào khoảng 6070 %. Vì vậy nhu cầu đổi mới cơ chế tỉ giá nói
riêng,đổi mới lĩnh vực tài chính tiền tệ nói chung, trở thành vấn đề cấp bách vì
nếu để tỉ giá cũ làm cho việc bù lỗ nhập khẩu vợt mức chịu đựng của ngân sách
nhà nớc, thủ tiêu động lực xuất khẩu.
Sau đại hội toàn quốc lần thứ VI, nhà nớc bắt đầu thực hiện công cuộc
đổi mới nền kinh tế, từng bớc xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, chuyển
dần sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Đây là thời kì có sự
chuyển biến mạnh mẽ trong t duy quản lý và diều hành kinh tế của nhà nớc,
nhất là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ.
Tỷ giá hối đoái, khâu đột phá có vai trò cực kì quan trọng trong cải cách
đợc đặc biệt quan tâm. Tháng 3/1989 Nhà nớc chính công bố xoá bỏ tỉ giá kết
toán nội bộ, xoá bỏ mội chế độ trợ giá cho các hoạt động ngoại thơng. Tỷ giá
chính thức đuợc Ngân hàng nhà nớc chính thức công bố căn cứ vào chỉ số lạm
phát, lãi suất trên thị trờng, cán cân thanh toán, tham khảo diễn biến giá trên
thị trờng tự do và giá vàng trên thị trờng quốc tế và trong nớc. Trên cơ sở tỉ giá
này, các ngân hàng thơng mại xây dựng cho mình một tỉ giá dùng để giao dịch
hàng ngày với biên độ giao động cho phép. Nhìn chung những giải pháp trên
đã góp phần cải thiện phần nào tình hình trên thị trờng ngoại hối, xoá bỏ tình
trạng bất hợp lý trong mua bán thanh toán, đặc biệt trong lĩnh vực nhập khẩu.
Sau năm 1990, tuy đã có những cải cách nhất định về mặt tỷ giá nhng tỷ
giá vẫn có những biến động mạnh mà điển hình là cơn sốc tỷ giá vào năm
1991, đồng Việt Nam bị mất giá 60 % so với đôla Mĩ. Nguyên nhân chính là
do ảnh hởng của tình hình cán cân thanh toán quốc tế, sự thâm hụt tài chính
của chính phủ và mức độ lạm phát nặng nề ở Việt Nam. chính vì vậy vào cuối
năm 1991 đầu năm 1992 chính phủ đã can thiệp để nâng giá đồng Việt Nam
trên thị trờng ngoại tệ. Sự can thiệp này có mục đích chống lạm phát bằng
cách giữ cho hàng nhập khẩu đợc ổn định vì từ năm 1990 trở lại đây, Việt
Nam đã nhập khẩu một số lợng lớn lợng nguyên, nhiên vật liệu để đáp ứng nhu
cầu phát triển và mở rộng sản xuất trong nớc, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của
nông nghiệp. Nếu để giá của đồng nội tệ tiếp tục giảm tất yếu sẽ làm cho giá
thành sảm phẩm sản xuất trong nớc tăng bởi vì các yếu tố đầu vào đã tăng. Trong
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét