Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Tài liệu TIỂU LUẬN: Tổ chức hoạt động quảng cáo ở một doanh nghiệp (lấy ví dụ tại Tổng công ty viễn thông quân đội Viettel Mobile) ppt


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Tổ chức hoạt động quảng cáo ở một doanh nghiệp (lấy ví dụ tại Tổng công ty viễn thông quân đội Viettel Mobile) ppt": http://123doc.vn/document/1050150-tai-lieu-tieu-luan-to-chuc-hoat-dong-quang-cao-o-mot-doanh-nghiep-lay-vi-du-tai-tong-cong-ty-vien-thong-quan-doi-viettel-mobile-ppt.htm




qua các cửa hàng tự phục vụ. Khi mọi người nói tới quảng cáo thì họ thường nghĩ về
quảng cáo quốc gia.
2.1.2 Quảng cáo bán lẻ
Quảng cáo bán lẻ không chỉ được hướng vào việc bán ra một sản phẩm mà còn hướng
vào việc khuyến khích người mua nó ở một cửa hàng đặc biệt. Người làm công việc
quảng cáo quốc gia vui mừng bán những sản phẩm của họ ở bất kỵ địa điểm nào. Quảng
cáo bán lẻ phải nêu lên cho người tiêu dùng biết lí do mua hàngở cửa hàng đơn nhất ấy.
Vì thế quảng cáo bán lẻ có tính đạc thù cao xét theo khía cạnh có lợi cho người tiêu
dùng. Về mặt truyền thống, quảng cáo bán lẻ nhấn mạnh tới giá cả, nhất là các mục bán.
Nó cũng cho biết giờ mở cửa hàng, các chính sách tín dụng và tin tức bất kì nào khác để
phân biệt được giữa một cửa hàng này với các cửa hàng khác cũng bán ra loại hàng hóa
như nhau. Giá cả và tiện lợi của sản phẩm là những chủ đề trước hết của loại quảng cáo
này. Các kích cỡ hiện có để bán, các kiểu cơ bản có thể chọn và các cửa hàng chi nhánh
có bán loại hàng này cho phép người tiêu dùng nhận biết dược thông tin cơ bản nhanh.
Vì những người bán lẻ căn cứ vào sự mua sắm tùy hứng để có một tỷ lệ phần trăm cao
trong doanh số bán ra của họ nên các thông tin quảng cáo thường được thiết kế để đề
cao hàng có bán, điều này sẽ tạo ra sự buôn bán tích trữ hàng với hy vọng rằng khách
hàng sẽ mua các khoản mục được định giá đầy đủ khác một khi họ đã vào trong cửa
hàng.
2.1.3 Quảng cáo sản phẩm cuối cùng
Quảng cáo sản phẩm cuối cùng kích thích sự hình thành nhu cầu tiêu dùng về các bộ
phận cấu thành mà chúng được kết hợp lại với nhau trong khi chế tạo ra các sản phẩm
khác. Nhà quảng cáo sản phẩm cuối cùng lớn nhất là E.I.Dupont de Nemours & Co.
Quảng cáo của hang Dupont nhằm thay mặt người sản xuất kể lại trực tiếp câu chuyện
cho người tiêu dùng thành phẩm cuối cùng. Trong việc tạo dựng nhu cầu tiêu dùng
Dupont hy vọng rằng nhhững người sản xuất sẽ có thiên hướng về sử dụng các bộ phận
cấu thành nhu cầu vào việc chế tạo ra các sản phẩm của họ. Kiểu quảng cáo trực tiếp
này được gọi là quảng cáo sản phẩm cuối cùng.


Bí mật của một dự án bẩt kỳ như vậy đề là sự nỗ lực bán hàng để lôi kéo những người
sản xuất mua sản phẩm đã được quảng cáo đưa vàio sản phẩm riêng của họ, để sử dụng
cái tên nhãn hiệu hàng của họ. Quảng cáo sản phẩm cuối cùng là một phương án của
quảng cáo quốc gia thông thường, nó đề nghị người tuêu dùng mua sản phẩm qua tên
hàng.
2.1.4 Quảng cáo đáp ứng trực tiếp
Một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất của nền kinh tế chúng ta là marketing
trực tiếp, đó là việc bán một sản phẩm từ người tham gia thị trường tới người tiêu dùng
không qua kênh bán lẻ. Quảng cáo dùng trong marketing trựv tiếp là quảng cáo đáp ứng
trực tiếp.
Ngày nay, chúng ta không chỉ thấy các ví dụ về quảng cáo đáp ứng trực tiếp trên mọi
phương tiện mà cả Telemarketing - phiếu bán hàng và nhập hàng được thực hiện qua
điện thoại – cũng trở nên rất phổ biến.
2.2 Quảng cáo hướng nghiệp và kinh doanh
Có một thế giới quảng cáo mà hầu hết người tiêu dùng ít thấy, trong đó một hãng kinh
doanh tìm cách bán một cái gì đó cho một hãng khác kể cả việc quảng cáo hướng tới
những người chuyên môn như các nhà vật lí và các nhà kiến trúc là những người chuyên
nghiên cứu sản phẩm của nhà quảng cáo để những người khác mua. Hình thức quảng
cáo này được thực hiện để hỗ trợ cho việc quảng cáo sản phẩm hướng tới người tiêu
dùng vì lợi ích cá nhân của họ.Quảng cáo hướng tới kinh doanh bao gồm các hình thức
cụ thể sau:
2.2.1 Quảng cáo thương mại
Tất cả các mặt hàng trong một cửa hàng phải được ai đó mua trước khi chúng được
phân phát tới cửa hàng khác. Quảng cáo thương mại thường được đăng trên các tạp chí
thương mại thông tin về sản phẩm bao gồm: giá cả, sự vận hành đặc thù và về bao gói.
Quảng cáo có thể kể về lợi ích mà sản phẩm đang mang lại cho khách hàng và những
người bán lẻ khác. mục tiêu của mọi công việc quảng cáo là mang lại khoản lợi nhuận
mà cửa hàng có thể thu về qua dự trữ chính sản phẩm đó. Hoạt động quảng cáo thương
mại là một sự hỗ trợ quan trọng cho bất kỳ một chiến dịch quảng cáo quốc gia nào.


2.2.2 Quảng cáo công nghiệp
Người sản xuất là người mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và các yếu tố dầu vào để
chế tạo ra các sản phẩm hàng hóa mà anh ta bán ra. Những ai có máy móc, thiết bị hoặc
vật tư để bán cho người sản xuất khác cần phả gửi tin quảng cáo của họ trên tạp chí
công nghiệp để người mua được biết.
Bản tin quảng cáo về động cơ điện tầu biển là một điển hình về quảng cáo công nghiệp.
Nội dung mang tính chất kỹ thuật với sự nhấn mạnh hoàn toàn vào sản phẩm và các chủ
đề như tiết kiệm nhiên liệu, các bộ phận thay thế lẫn nhau và không đòi hỏi phải bảo
quản phức tạp là những kiểu chủ đề chung cho quảng cáo công nghiệp. Quảng cáo công
nghiệp ít khi bán ra sản phẩm. Việc mua sắm các thiêt bị công nghiệp thường là một quá
trình phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của một số nhà sản xuất quyết định. Công việc của
quảng cáo công nghiệp là thiết lập nên một sự tưởng tượng về chất và tạo dựng nên sự
nhận biết về tên của sản phẩm; thông tin về lợi thế chủ yếu mà sản phẩm đem lại.
2.2.3 Quảng cáo có tính chất nghiệp vụ
Người quan trọng nhất trong quá trình bán ra sản phẩm là người cố vấn về chuyên môn
cho người mua như nhà vật lý hay nhà kiến trúc.Lời giới thiệu của thầy thuốc là lý do
tác động tốt nhất để người bệnh mua sản phẩm đó.
Quảng cáo có tính chất nghiệp vụ cũng có thể được dùng theo một cách gián tiếp hơn.
Trong một vài trường hợp công ty có thể tạo dựng uy tín nhờ những khách hàng chuyên
môn của mình qua việc chỉ ra tầm quan trọng của khách hàng cho công chúng biết.
Những quảng cáo dịch vụ công cộng này có tác dụng hướng dẫn, giáo dục công chúng
và tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa công ty và khách hàng chuyên môn của họ
2.2.4 Quảng cáo có tổ chức
Quảng cáo có tổ chức hay quảng cáo phường hội có một số mục đích riêng và được thể
hiện dưới nhiều hình thức. Ở mặt hàng tiêu dùng nó có thể tạo ra một hình tượng như
một công dân có tính tập thể tốt. Nó cũng có thể tìm cách chỉ ra việc nghiên cứu sản
phẩm diễn ra như thế nào, không chỉ nhằm tìm ra các sản phẩm tốt hơn mà còn giải
quyết cả vấn đề xã hội và môi trường nào đó. Khi công tác quảng cáo này hướng trực
tiếp tới những ủy viên điều hành hiệp hội thì nó thường nhấn mạnh tới chất lượng sản


phẩm của công ty. Thông thường quảng cáo có tổ chức sẽ vạch ra vai trò của công ty
trong lĩnh vực kỹ thuật cao. Mục tiêu là đẻ chứng minh rằng công ty có thể chế tạo ra
một thiết bị đặc biệt và cũng có kỹ năng, kỹ sảo để làm việc trong lĩnh vực khác. Quảng
cáo có tổ chức thường phân biệt với các quảng cáo kinh doanh ở chỗ nó xuất hiện trên
phạm vi rộng lớn và được viết cho đông đảo khán giả hơn so với các quảng cáo kinh
doanh khác.
2.3 Quảng cáo dịch vụ
Một số dịch vụ quảng cáo quốc gia như dịch vụ hàng không, ô tô cho thuê, hệ thống
hotel và motel, các địa danh du lịch…Hưởng ứng quảng cáo dịch vụ có nghĩa là đi trực
tiếp từ triển vọng hoặc qua nhiều nhất là một khâu trung gian. Bên cạnh đó quảng cáo
dịch vụ sẽ tạo ra sự độc quyền bởi lẽ không một dịch vụ có thể quảng cáo theo nhiều
cách khác nhau để tạo ấn tượng cho khách hàng, thu hút khách hàng đến với sản phẩm
của công ty. Quảng cáo có tính mềm dẻo và linh hoạt nên điều quan trọng nhất đối với
người làm công tác quảng cáo là phải xác định một cách chính xác xem quảng cáo đóng
vai trò gì trong toàn bộ chương trình marketing. Để làm được điều đó cần thiết phải
định rõ các điều kiện làm cho quảng cáo thành công. Một danh mục giới hạn các điều
kiện ấy bao gồm cả một sản phẩm có chất lượng đã được dán nhãn cùng với sự phân
biệt về lợi ích so với đối thủ cạnh tranh của nó và được bán theo giá hợp lí.
II. Những giai đoạn của quảng cáo
1. Giai đoạn mở đường
Đặc điểm nổi bật là quảng cáo sản phẩm trong giai đoạn mở đường phải chỉ ra cho
người tiêu dùng thấy rằng các nhu cầu của họ có thể được thỏa mãn theo cách mới hơn,
có hiệu quả hơn. Quảng cáo ở giai đoạn này thể hiện sự cải thiện giúp cho người tiêu
dùng tiến tới thực hiện được điều gì đó hiệu quả hơn, an toàn hơn, hinh tế hơn hoặc
thoải mái vui vẻ hơn.
Giai đoạn mở đường của một sản phẩm thường rất bất lợi cho người sản xuất. Người
bán phải mở rộng công việc phân phối sản phẩm, phải tạo ra những đợt thử ngiệm tiêu
dùng và mở rộng các thị trường về mặt địa lý. Cùng lúc này, hầu hết các vật phẩm tiêu
dùng đòi hỏi chi phí quảng cáo và xúc tiến lớn trong suốt giai đoạn mở đường. Thời


gian sản phẩm dùng trong giai đoạn mở đường càng ít thì lợi về tài chính đối với người
sản xuất càng lớn. Do vậy quảng cáo mở đường sẽ thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm khi
cản phẩm đó mới xuất hiện trên thị trường.
Lợi thế chắc chắn của người quảng cáo mở đường đó là về thời gian, cơ hội để trở thành
người đứng đầu trong lĩnh vực này. Tên của người khởi đầu là điều đầu tiên để nhắc
nhở về loại sản phẩm và nó tạo nên sự lôi cuốn khách hàng trước khi đối thủ cạnh tranh
tiến vào. Người ta quen với nhãn hiệu của người khởi xướng hơn là nhãn hiệu thương
mại của người kế tiếp. Họ tin tưởng vào sản phẩm của người đi đầu hơn vì họ cảm thấy
nó tốt hơn, có lợi hơn, do có kinh nghiệm hơn.
2. Giai đoạn cạnh tranh
Hiếm có một sản phẩm thành công nàomà không qua các cuộc chạy đua gay gắt giữa
các đối thủ cùng kinh doanh một loại hàng hóa. Người mở đường giới thiệu một sản
phẩm mới chịu một tỷ lệ chi phí cao cho việc phát triển và xúc tiến sản phẩm, cũng như
phải chịu rủi ro gắn liền với sự thất bạicó thể có của sản phẩm. Tuy nhiên, một khi
người mở đường đã thu hẹp lại những sự bất trắc của một sản phẩm mới bằng việc giới
thiệu thành công thì thị trường cũng mở ra cho những người kế tiếp tiềm năng bước
vào. Khi người tiêu dùng không còn phân vân “sản phẩm ấy để làm gì?” mà là “mình sẽ
mua kiểu nào?” thì khi ấy sản phẩm đã bước vàop giai đoạn cạnh tranh. Chúng ta nói về
quảng cáo cho một sản phẩm ở giai đoạn cạnh tranh là quảng cáo cạnh tranh.
Mục đích của quảng cáo trong giai đoạn cạnh tranh là để chỉ ra được các nét thống nhất
hay những sự hoàn thiện của một loại hàng hóa làm cho nó tốt hơn những hàng hóa
khác.
3. Giai đoạn duy trì
Khi một sản phẩm đã đạt đến độ chín muồi và dã có được sự chấp nhận rộng rãi thì nó
bước vào giai đoạn duy trì. Những nhà quảngcáo có kinh nghiệm biết rằng có những sản
phẩm bước vững chắc vào giai đoạn mở đường và giai đoạn cạnh tranh sẵn sang thách
thức với “kẻ đứng đầu”. Trong thực tế, nếu sản phẩm của bạn thực sự duy nhất trong
giai đoạn duy trì thì đó có thể trở thành nguyên nhân gây lo lắng. Điều này vó thể chỉ ra
rằng loại sản phẩm của bạn dang suy giảm và các nhà sản xuất khác nhận ra tiềm năng


bán ra nhỏ bé trong thị trường của nó. Giai đoạn duy trì luôn là giai đoạn chuyển tiếp.
Sản phẩm của bạn cuối cùng hoặc sẽ suy giảm trước đối thủ cạnh tranh mới hoặc nó sẽ
thích nghi thông qua việc ứng dụng công nghệ mới, tiến hành marketing hay xúc tiến
bán để lại tiếp thêm sức mạnh cho chính nó.
Mục tiêu của quảng cáo duy trì là đảm bảo giữ thị phần và ngăn ngừa việc thí điểm sử
dụng những sản phẩm khác của người tiêu dùng. Sản phẩm trong giai đoạn này không
nhất thiết phải cắt giảm bớt việc quảng cáo mà chúng cần sử dụng những chiến lược
marketing và xúc tiến bán khác so với những chiến lược đã sử dụng trong các giai đoạn
mở đường và cạnh tranh.
Giai đoạn duy trì cũng được đặc trưng là giai đoạn có lợi nhất. Các chi phí phát triển sản
phẩm đã được trừ dần, các kênh phân phối dã hình thành, các quan hệ bán hàng cũng đã
được thành lập. Các công ty luôn có gắng gữ cho sản phẩm của mình ở giai đoạn duy trì
càng lâu càng tốt.
Như vậy sản phẩm cũng giống như con người. Chúng cũng được sinh ra, trưởng thành
và mất đi. Quảng cáo có vai trò khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển của sản phẩm.
Quảng cáo được dẫn ra trong giai đoạn giới thiệu hoặc mở đường khác về cách tiếp cận
so với việc quảng cáo cho sản phẩm đã có uy tín trong cuộc cạnh tranh với những đối
thủ khác hoặc so với người đứng đầu lĩnh vực đang tìm cách duy trì vih trí của mình. Vì
sản phẩm chuyển dịch từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, sự chấp nhận của người
tiêu dùng cũng thay đổi nên điều này cần phải được phản ánh trong quảng cáo.
III. Những quyết định cơ bản trong hoạt động quảng cáo
1. Xác định mục tiêu quảng cáo
Bước đầu tiên phải thực hiện là xác định mục tiêu quảng cáo. Mục tiêu sẽ chi phối toàn
bộ quá trình hoạt động quảng cáo. Những mục tiêu này xuất phát từ những quyết định
về thị trường mục tiêu, về việc định vị sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp trên thị
truờng và về Marketing- Mix.
Tùy theo những điều kiện cụ thể đó mà doanh nghiệp có mục tiêu quảng cáo khác nhau.
Mục tiêu quảng cáo còn phụ thuộc vào yêu cầu của hỗn hợp truyền thông của doanh


nghiệp. Thông thường mục tiêu quảng cáo của doanh nghiệp thường hướng vào những
vấn đề sau:
- Tăng số lượng hàng tiêu thụ trên thị trường truyền thống.
- Mở ra thị trường mới.
- Giới thiệu sản phẩm mới.
- Xây dựng và củng cố uy tín của những nhãn hiệu hàng hóa đồng thời nâng cao uy tín
của doanh nghiệp.
Các mục tiêu quảng cáo có thể được xếp loại tùy theo ý muốn là thông tin, thuyết phục,
hay nhắc nhở. Quảng cáo thông tin được dùng nhiều trong giai đoạn đầu của chu kỳ
sống của sản phẩm với mục tiêu tạo nhu cầu ban đàu. Quảng cáo thuyết phục trở nên
quan trọng trong giai đoạn cạnh tranh khi mục tiêu của doanh nghiệp là làm tăng nhu
cầu. Quảng cáo nhắc nhở rất quan trọng trong giai đoạn trưởng thành nhằm duy trì
khách hàng.
2. Xác định ngân sách quảng cáo
Cần căn cứ vào mục tiêu quảng cáo của doanh nghiệp để xác định ngân sách quảng cáo.
Do vậy có bốn phương pháp xác định ngân sách như sau:
2.1 Phương pháp xác định theo tỷ lệ (%) trên doanh số
Phương pháp này yêu cầu doanh nghiệp ấn định ngân sách cho quảng cáo bằng một tỷ
lệ phần trăm nào đó so với doanh số dự kiến.
Ưu điểm của phương pháp này là:
Thứ nhất, ngân sách có thể thay đổi theo chừng mực mà doanh nghiệp có thể chịu đựng
được, làm cho các nhà quản lý yên tâm vì chi phí tquảng cáo gắn liền với sự tăng, giảm
doanh số bán của doanh ngiệp trong chu kỳ kinh doanh
Thứ hai, phương pháp này khuyến khích các nhà quảng lý làm quyết định trong khuôn
khổ của mối liên hệ giữa chi phí quảng cáo, giá bán và lợi nhuận cho mỗi đơn vị sản
phẩm
Thứ ba, phương pháp này ổn định cạnh tranh trong tình thế các doanh nghiệp khác
cũng xác định ngân sách trên doanh số theo một quan hệ tỷ lệ đã hình thành


Nhược điểm của phương pháp này đó là chưa có cơ sở thỏa đáng, chưa có luận điểm
vững vàng để bảo vệ cho nó và trong một chừng mực nào đó còn luẩn quẩn coi kết quả
doanh thu là nguyên nhân của mức độ hoạt động quảng cáo. Từ đó dẫn đến việc khó
tranh thủ các cơ hội tăng cường hoạt động thiêu thụ và quảng cáo.
2.2 Phương pháp cân bằng cạnh tranh
Phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp xác định mức ngân sách của mình bằng mức
ngân của đối thủ cạnh tranh trong khu vực thị trường và trong chu kỳ kinh doanh.
Dù sao chi phí của hãng cạnh tranh cho thấy mức độ chi tiêu hợp lí của ngành kinh
doanh. Hơn nữa việc duy trì một mức độ chi phí ngang bằng cạnh tranh sẽ loại trừ được
cuộc chiến tranh truyền thông.
Tuy nhiên trong thực tế khó mà biết được mức chi ngân sách cụ thể ở các doanh nghiệp
cho quảng cáo là bao nhiêu? Mặt khác, mục tiêu quảng cáo của các doanh nghiệp khác
nhau do vậy không thể căn cứ vào doanh nghiệp khác để xác định ngân sách cho doanh
nghiệp mình được.
2.3 Phương pháp căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ phải hoàn thành
Trước hết phải xác định các công việc quảng cáo phải làm sau đó xác định chi phí giành
cho các hoạt động quảng cáo đó. Phương pháp này yêu cầu các doanh nghiệp phải hình
thành ngân sách trên cơ sở những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cần phải giải quyết.
Ưu điểm của phương pháp này là có cơ sở khoa học hơn. Các nhà quản lý phải trình bày
rõ các yêu cầu nhiệm vụ của quảng cáo phải thực hiện, các hoạt động quảng cáo được
đề cập và chi phí giành cho nó.
Tuy nhiên, ngân sách qủang cáo không được vượt quá ngân sách Marketing của công ty.
Khi quyết định ngân sách quảng cáo còn chú ý tới tính chất của loại sản phẩm và vị trí
của nó trong chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường.
2.4 Phương pháp theo khả năng
Yêu cầu của phương pháp này là doanh nghiệp có khả năng tới đâu thì quyết định mức
ngân sách cho quảng cáo tới đó. Phương pháp này không tính đến sự tác động của
quảng cáo đối với lượng hàng hóa tiêu thụ, tới doanh số bán ra. Vì thế ngân sách này


không ổn định hàng năm và gây trở ngại cho việc hình thành chiến lược dài hạn về thị
truờng của doanh nghiệp.
3. Quyết định nội dung truyền đạt
Nhữnng nhà quảng cáo dùng nhiều giải pháp để hình thành những ý tưởng diễn tả mục
tiêu quảng cáo. Một số người sử dụng phương pháp quy nạp bằng cách nói chuyện với
khách hàng, với các nhà buôn, các nhà khoa học, các đối thủ cạnh tranh để tìm ra nội
dung cần truyền đạt. Một số khác sử dụng phương pháp suy diễn để hình thành nội dung
thông điệp quảng cáo.
Nhìn chung, nội dung quảng cáo thường được đánh giá dựa trên tính hấp dẫn, tính độc
đáo và tính đáng tin cậy. Thông điệp quảng cáo phải nói lên những điều đáng mong ước
hay thú vị về sản phẩm. Nó cũng cần nói lên những khía cạnh độc đáo, khác biệt so với
những sản phẩm khác. Doanh nghiệp cần phân tích ba tính chất này trong nội dung
thông điệp.
Sau đó, doanh nghiệp phải thể hiện được nội dung đó trong thông điệp để bảo đảm cho
sự thành công của hoạt động quảng cáo. Phải chọn lựa ngôn ngữ, phải xác định cấu trúc
thông điệp, lựa chọn phương tiện truyền tin thích hợp, bảo đảm thỏa mãn các yêu cầu
của quảng cáo. Các thông điệp quảng cáo có thể trình bày theo nhiều phong thái thể
hiện khác nhau như mẩu đời, một lối sống, một sự tưởng tượng.
4. Quyết định phương tiện quảng cáo
Doanh nghiệp căn cứ vào mục tiêu quảng cáo, đối tượng quảng cáo và đối tượng nhận
tin mà chọn phương tiện truền tin quảng cáo cụ thể. Có thể chọn phương tiện truyền
thông đại chúng hoặc phương tiện truyền thông chuyên biệt, phương tiện quảng cáo
chính và phương tiện bổ xung v.v
Những đặc tính quan trọng nhất của phương tiện quảngc áo mà các doanh nghiệp quan
tâm khi lựa chọn là mức độ trung thành của khách hàng mục tiêu đối với các phương
tiện quảng cáo nhẩt định, sự thích hợp với hàng hóa, đặc thù của thông tin và chi phí.
Một số phương tiện quảng cáo mà các doanh nghiệp thường sử dụng:
+ Báo: Ưu điểm là dễ sử dụng, kịp thời, phổ biến rộng tại thị trường dịa phương, được
chấp nhận rộng rãi, độ tin cậy cao.


Nhược điểm là tuổi thọ ngắn, số lượng độc giả hạn chế.
+ Tạp chí: Ưu điểm là có độ lựa chọn theo dân số và địa lý cao, có uy tín, có quan hệ
với người đọc lâu dài.
Nhược điểm là thời gian chờ đợi lâu, một số lượng phát hành lãng phí.
+ Rađiô: Là phương tiện thông tin đại chúng có khối lượng người nhận thông tin lớn,
nhanh và sâu rộng. Ưu điểm là nhiều người nghe, chi phí thấp, linh hoạt về địa lý có thể
nhắc đi nhắc lại nhiều lần.
Hạn chế ở chỗ chỉ giới thiệu bằng âm thanh, khả năng gây chú ý thấp, tuổi thọ ngắn.
+ Tivi: Đây là phương tiện thông tin đại chúng khá phát triển ở cả thành thị và nông
thôn. Quảng cáo qua tivi khai thác được các lợi thế về âm thanh, ngôn ngữ, hình ảnh,
màu sắc. Đối tượng khán giả thuộc nhiều tầng lớp xã hội, khả năng truyền thông tin
nhanh, dễ dàng tạo nên sự chú ý.
Nhược điểm là thời lượng có hạn, chi phí cao, khan giả ít chọn lọc, thời gian ngắn.
+ Phim quảng cáo: Phương tiện quảng cáo chuyên dùng đặc biệt đối với hàng xuất
khẩu, có thể khai thác tốt hình ảnh, âm thanh, màu sắc và cả quy trình sản xuất nguyên
liệu đóng gói, nhã, bao bì. Nó chỉ hạn chế vầe đối tượng xem không rộng rãi.
+ Quảng cáo bằng biển, panô, áp phích: phương tiện này có thể sử dụng lợi thế về kích
cỡ, hình ảnh, màu sắc, chỗ gần doanh nghiệp hoặc nơi đông người qua lại.
Nhược điểm là nội dung quảng cáo trên đó không thể chi tiết và cụ thể, đồnh thời phụ
thuộc vào số người đi qua.
+ Quảng cáo qua mạng Internet đang trở nên khá phổ biến, là hình thức quảng cáo phù
hợp với nhiều thị trường nước ngoài, đảm bảo liên hệ trực tiếp, nhanh chóng và hiệu
quả.
+ Bên cạnh đó còn có quảng cáo qua catalog, bao bì, nhã hiệu, qua truyền miệng,
telemarketing, qua hội chợ triển lãm, qua thư…
Để lựa chọn phương tiện truyền tin thích hợp, người quảngc áo phải thông qua quyết
định về phạm vi, tần suất, cường độ tác động của quảng cáo. Phạm vi chính là số khách
hàng cần truyền tin đến họ. Tần suất chính là số lần xuất hiện của quảng cáo. Cường độ
chính là mức độ gây ấn tượng của quảng cáo.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét