Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

tác động của quá trình đô thị hoá tới việc làm và thu nhập của người lao động nông nghiệp nông thôn tỉnh vĩnh phúc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "tác động của quá trình đô thị hoá tới việc làm và thu nhập của người lao động nông nghiệp nông thôn tỉnh vĩnh phúc": http://123doc.vn/document/1053350-tac-dong-cua-qua-trinh-do-thi-hoa-toi-viec-lam-va-thu-nhap-cua-nguoi-lao-dong-nong-nghiep-nong-thon-tinh-vinh-phuc.htm


GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
- Chức năng chính trị, quân sự, tôn giáo: đô thị Việt Nam chỉ thực sự
phát triển mạnh hơn từ thế kỷ XVIII trở lại đây. Đô thị cũng là sự kết hợp 2
chức năng: Đô là thành quách để bảo vệ cư dân và thị là nơi diễn ra các hoạt
động kinh tế, thương mại.
- Chức năng quản lý: Sự phát triển đô thị, một mặt được điều chỉnh bởi
các nhu cầu, trong đó nhu cầu kt là chủ yếu tác động qua cơ chế thị trường;
mặt khác chịu sự điều chỉnh do hoạt động quản lý của chính quyền và hoạt
động của các đoàn thể xã hội. Tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực
vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hóa
dân tộc, vừa nâng coa khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm
đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân.
- Chức năng sản xuất, thương mại và dịch vụ: Trong những giai đoạn
phát triển kinh tế thị trường vừa qua, chức năng kinh tế là chức năng chủ yếu
của đô thị. Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản
xuất có lợi hơn là phân tán. Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại
hinh xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, trước hết là
thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị.
- Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải
trí cao. Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tang, các
trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn.
Chức năng văn hóa của đô thị càng phát triển hơn vào thời kỳ kinh tế
phồn vinh, mức sống được nâng cao, thời gian dành cho việc hường thụ văn
hóa của mỗi người dân được tăng lên. Chức năng này càng có vị trí đặc biệt
trong giai đoạn chuyển tiếp từ nền văn minh công nghiệp lên nền văn minh
hậu công nghiệp hiện nay, sự phát triển bền vững cần đến nguồn nhân lực có
chất lượng cao hơn. Trong lĩnh vực kinh tế, những “ công nhân áo trắng” hay
“ công nhân trí thức” và những nhà khoa học ngày càng quan trọng hơn so với
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
5
GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
thiết bị công nghệ và tài chính. Kể cả trong lĩnh vực xã hội và chính trị cũng
ngày càng đòi hỏi một trình độ dân trí cao hơn. Do đó vai trò của văn hóa,
khoa học giáo dục sẽ được phát huy từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc của bất
kỳ quá trình vận động nào trong một thế giới phát triển bền vững.
- Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng
với tăng quy mô dân cư đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại… là
những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường. Nhìn chung
các đô thị, chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô
thị, mà còn vìchính những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại có thay đổi.
1.2. Những vấn đề lý luận chung về đô thị hóa
1.2.1. Khái niệm
- Trên quan điểm một vùng: Đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát
triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
- Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá hoá là một quá trình biến
đổi về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân,
bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển
các đô thị hiện có theo chiều sâu.
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản
xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình
thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo
chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân
số.
1.2.2. Đặc điểm của đô thị hoá
- Đô thị hoá là sự phát triển về quy mô, số lượng, nâng cao vai trò của đô
thị trong khu vực và hình thành các chùm đô thị.
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
6
GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
- Đô thị hoá gắn liền với một thể chế kinh tế xã hội nhất định, gắn liền
với sự biến đổi về kinh tế xã hội của đô thị và nông thôn, sự biến đổi ấy thể
hiện ở sự phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ…
Phương hướng, điều kiện phát triển của đô thị hoá phụ thuộc vào trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
+ Ở các nước phát triển, đô thị hoá đặc trưng cho sự phát triển các nhân
tố theo chiều sâu, tạo điều kiện để điều tiết và khai thác tối đa các ích lợi, hạn
chế bất lợi của quá trình đô thị hoá, nâng cao điều kiện sống và làm việc, công
bằng xã hội, xoá bỏ khoảng cách thành thị và nông thôn…
+ Ở các nước đang phát triển, như Việt Nam, biểu hiện của đô thị hoá là
sự bùng nổ về dân số, sự phát triển công nghiệp tỏ ra yếu kém, sự gia tăng
dân số không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế. Mẫu
thuẫn giữa thành thị và nông thôn có biểu hiện gia tăng do sự mất cân đối
trong các cơ hội phát triển…
+ Công nghiệp hoá là cơ sở cho sự phát triển của đô thị hoá. Đô thị hoá
trên thế giới bắt đầu từ cách mạng thủ công nghiệp ( tượng trưng là cái sa
quay ); sau đó là cách mạng công nghiệp ( tượng trưng là máy hơi nước ) đã
thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với năng suất lao động
cao hơn và đã phân công lại lao động xã hội, làm thay đổi cơ cấu lao động xã
hội, đồng thời, cách mạng công nghiệp đã tập trung hoá lực lượng sản xuất ở
mức độ cao dẫn đến hình thành đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ. Ngày
nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ( tượng trưng cho nó là những cỗ
máy vi tính, những siêu xa lộ thông tin và điện thoại di động ) thì sự phát triển
đô thị hoá đã và sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Như vậy, mỗi nền văn minh đều tạo ra một phong cách sống, làm việc
thích hợp, một hình thái phân bố dân cư, một cấu trúc đô thị thích hợp.
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
7
GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
1.2.3. Các hình thức đô thị hoá
- Đô thị hoá nông thôn: là xu hướng bền vững có tính quy luật. Là quá
trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn
( cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…), đây là sự tăng
trưởng đô thị theo xu hướng bền vững.
- Đô thị hoá ngoại vi: là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của
thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, cơ sở hạ tầng … tạo ra các cụm
đô thị, liên đô thị… góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn.
- Đô thị hoá giả tạo: là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư
đô thị và do dân cư từ các vùng khác đến, đặc biệt là nông thôn … dẫn đến
tình trạng thất nghiệp, giảm chất lượng cuộc sống…
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa
- Điều kiện tự nhiên: trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì
đô thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Những vùng có khí hậu
thời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác
sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn, quy mô lớn
hơn. Ngược lại những vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, quy mô nhỏ hơn.
Từ đó dẫn đến sự phát triển không đồng đều hệ thống đô thị giữa các vùng.
- Điều kiện xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị
tương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó.
Kinh tế thị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh. Sự
phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và là tiền đề cho đô thị hóa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong khu vực
nông, lâm nghiệp, thủy sản của nền kinh tế sẽ tạo ra quá trình đô thị hóa nông
thôn và các vùng ven biển.
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
8
GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
- Văn hóa dân tộc: mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và
nền văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội…
nói chung và hình thái đô thị nói riêng.
- Trình độ phát triển kinh tế: phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyết
định trong quá trình đô thị hóa. Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài
chính. Để xây dựng, nâng cấp, cải tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn.
Nguồn đó có thể từ trong nước hay từ nước ngoài. Trình độ phát triển kinh tế
thể hiện trên nhiều phương diện: quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu
ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế,
trình độ hoàn thiện của kết cấu hạ tầng, trình độ văn hóa giáo dục của dân cư,
mức sống dân cư.
- Tình hình chính trị: ở Việt Nam từ sau năm 1975, tốc độ đô thị hóa
ngày càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng… Đặc biệt trong thời
kỳ đổi mới, với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài,
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển
kinh tế vượt bậc.
1.2.5. Hình thái biểu hiện của đô thị hóa
- Mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các
khu đô thị mới, các quận, phường mới là hình thức phổ biến với các đô thị
của Việt Nam trong điều kiện kinh tế còn nhiều hạn chế. Việc hình thành các
khu đô thị mới, các quận, phường mới được xem là hình thức đô thị hóa theo
chiều rộng và là sự mở đường của quan hệ sản xuất cho lực lượng sản xuất
phát triển. Với hình thức này dân số và diện tích đô thị tăng nhanh chóng. Sự
hình thành các đô thị mới để phát triển đồng đều các khu vực, các đô thị mới
được xây dựng trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp và các vùng kinh tế
là xu hướng tất yếu của sự phát triển.
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
9
GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
- Hiện đại hóa và nâng cao trình độ các đô thị hiện có là quá trình thường
xuyên và tất yếu cảu quá trình tăng trưởng và phát triển. Các nhà quản lý đô
thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động nhằm
làm giàu thêm cho đô thị của mình. Quá trình đó đòi hỏi họ phải điều tiết, tận
dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sở
hiện đại hóa trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội ở đô thị.
1.2.6. Các tiêu chí đánh giá trình độ đô thị hoá
1.2.6.1. Tiêu chí đánh giá trình độ đô thị hoá theo chiều sâu
- Các chỉ tiêu định lượng
+ Diện tích cây xanh trên đầu người, diện tích nhà ở trên đầu
người, diện tích các công trình công cộng trên đầu người, diện
tích nhà ở trên đầu người…
+ GDP( GO ) bình quân đầu người
+ Trình độ dân trí
+ Số giường bệnh trên 1000 dân.
+ Các công trình văn hoá trên 1000 dân.
+ Tổng số máy điện thoại trên 100 dân.
- Các chỉ tiêu định tính
+ Chất lượng hạ tầng kĩ thuật
+ Chất lượng hạ tầng xã hội
+ Trình độ văn minh đô thị
+ Kiến trúc đô thị
+ Môi trường sinh thái.
1.2.6.2. Tiêu chí đánh giá theo chiều rộng
- Các chỉ tiêu định lượng
+ Quy mô diện tích đô thị
+ Tỷ lệ diện tích đất đô thị trên đất nông thôn
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
10
GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
+ Quy mô dân số đô thị, tỷ lệ dân số đô thị
+ Quy mô cơ cấu GDP ( GO ).
+ GDP ( GO ) bình quân đầu người
+ Diện tích đường giao thông trên đầu người
+ Trình độ dân trí
+ Số giường bệnh trên 1000 dân
+ Tổng số máy điện thoại trên 100 dân
+ Tuổi thọ bình quân
+ Các chỉ tiêu định tính
+ Chất lượng hạ tầng kỹ thuật
+ Chất lượng hạ tầng xã hội
+ Kiến trúc đô thị
+ Trình độ văn minh đô thị
1.3. Tính tất yếu của đô thị hoá hiện nay
- Sự phát triển kinh tế của mỗi nước gắn liền với sự hình thành và phát
triển của hệ thống ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ. Sự
phát triển của hệ thống các ngành này thúc đẩy quá trình đô thị hoá diễn ra
nhanh hơn và đô thị hoá lại tác động ngược trở lại sự phát triển của các ngành
này.
- Quy mô dân số ngày càng tăng, đòi hỏi phải đáp ứng cả vể mặt vật chất
và tinh thần như: nâng cao thu nhập, cơ sở hạ tầng, vui chơi giải trí… góp
phần đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá.
- Nhu cầu vật chất ngày càng tăng lên tỷ lệ với mức tăng thu nhập, đòi
hỏi cơ sở hạ tầng phải đáp ứng đủ. Từ đó nảy sinh nhu cẩu đô thị hoá, phát
triển kinh tế đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người.
- Quá trình phát triển kinh tế mỗi nước là quá trình phát triển lực lượng
sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, tăng thu nhập và tích luỹ. Quá trình
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
11
GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
đó tạo ra những điều kiện vật chất thúc đẩy và thực hiện nhanh quá trình đô
thị hoá. Đó cũng là xu thế vận động mang tính khách quan. Quá trình này dẫn
tới sự biến đổi cơ cấu của nền kinh tế quốc dân từ nông nghiệp là chủ yếu
chuyển sang công nghiệp là chủ yếu và cả sự biến đổi ngay trong khu vực
công nghiệp. Kéo theo đó là tập trung dân cư tại các khu công nghiệp, các
vùng kinh tế để đáp ứng sự thay đổi về nhu cầu sản xuất, sự phát triển kinh tế;
từ đó hình thành nên các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn.
1.4. Tác động của đô thị hoá đến việc làm và thu nhập của lao động nông
nghiệp nông thôn
1.4.1. Tác động tích cực
- Thúc đẩy kinh tế đô thị tăng trưởng nhanh hơn: phải nói rằng đóng góp
vào GDP của các địa phương chủ yếu là của các đô thị. Cùng với quá trình đô
thị hóa, các đô thị ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng thu nhập của tỉnh,
huyện. Với cơ cấu ngành nghề ngày càng đa dạng, trong đó các ngành sử
dụng nhiều chất xám, vốn tăng lên tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn, cùng với
việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất làm nâng cao năng suất
lao động, gia tăng khối lượng sản phẩm làm ra thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Nâng cao trình độ quản lý: cùng với việc dân cư tăng lên, cũng như quy
trình sản xuất cũng được cải tiến, nhiều ngành nghề mới xuất hiện, thị trường
hàng hóa, lao động, đất đai, khoa học công nghệ, vốn phát triển đòi hòi cũng
như là một điều tất yếu là trình độ quản lý từ cấp trung ương đến địa phương,
trong từng doanh nghiệp, nhà máy tăng lên.
- Có tác động lan toả tích cực đến các vùng lân cân: đô thị với tính cách
là một thực thể kinh tế mở cửa, nó có mối liên hệ kinh tế rộng rãi với khu vực
xung quanh. Đô thị cùng với khu vực xung quanh không chỉ hình thành chỉnh
thể của hệ thống sản xuất, mà còn hình thành mạng lưới công nghiệp, dịch vụ,
thông tin tương đối độc lập. Trong mối liên hệ với khu vực kinh tế xung
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
12
GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
quanh, đô thị do điều kiện kinh tế ưu việt của mình, nó có tác dụng thu hút và
tác dụng khuyếch tán to lớn với khu vực xung quanh. Ví dụ, huyện Mê Linh
tỉnh Vĩnh Phúc tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, chịu sự khuyếch tán về lao động
của thủ đô, sự khuyếch tán về công nghiệp và thương mại của thủ đô; hiện
nay, huyện Mê Linh có tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ nhất trong tỉnh Vĩnh Phúc,
với các khu công nghiệp Quang Minh, khu công nghiệp Tiền Phong, tổ hợp
thương mại Mê Linh Plaza. Khu công nghiệp Quang Minh hiện nay không chỉ
thu hút và giải quyết việc làm cho lao động trong tỉnh mà còn tạo nhiều việc
làm cho lao động Hà Nội và một số tỉnh khác, đặc biệt với sinh viên vừa tốt
nghiệp đại học.
Một ví dụ khác về tác động lan tỏa của đô thị, nằm kề thủ đô Hà Nội, là
một thuận lợi cho tỉnh Vĩnh Phúc trong công tác giáo dục đào tạo, nhiều giáo
viên các trường đại học của Hà Nội được thuê giảng dạy tại các trường trung
cấp, cao đẳng ở tỉnh, các giáo viên, giảng viên trong tỉnh rất thuận lợi trong
việc nâng cao trình độ bằng các khóa học tại chức, cao học, chứng chỉ ở Hà
Nội.
Gần với thủ đô Hà Nội, tỉnh luôn luôn tiếp cận được với nguồn hang hóa
dồi dào đặc biệt là về giáo trình sách, văn phòng phẩm, về các hàng điện tử
điện lạnh, hiện nay nhiều cửa hàng ở tỉnh là đại lý bán các hàng nhập từ Hà
Nội về.
Hơn nữa, Hà Nội có dân cư đông, đời sống cao, nhu cầu về giải trí cuối
tuần là rất lớn, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều điểm nghỉ mát cuối tuần lý tưởng đã
thu hút được lượng khách du lịch ở Hà Nội ngày một đông, đóng góp vào
doanh thu của ngành du lịch hàng năm…
- Nâng cao thu nhập mức sống dân cư các vùng đô thị hoá: ở khu vực
thành thị nền kinh tế với cơ cấu công – nông nghiệp do đó sản xuất đòi hỏi
lao động phải có trình độ. Vì thế, tiền lương và thu nhập thường được trả cao
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
13
GVHD: PGS.TS Phạm Văn Vận Trường ĐH KTQD
hơn để tương xứng với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra. Do đó, nhìn chung
thu nhập của dân cư tại các thành phố lớn, đô thị thường cao hơn so với các
vùng khác.
Đô thị với đặc điểm là vùng kinh tế, xã hội rất phát triển, cơ sở vật
chất, kỹ thuật hạ tầng phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
khá đầy đủ, hiện đại và đa dạng. Vì vậy, có thể nói đô thị là nơi có điều kiện
sống và làm việc thuận lợi hơn so với khu vực nông thôn. Mặt khác, cùng với
sự phát triển kinh tế - xã hội, các điều kiện phục vụ đời sống và sinh hoạt như
nơi vui chơi giải trí, học tập ngày càng phát triển làm cho trình độ văn hóa,
mức sống của con người tại các khu đô thị ngày càng tăng, thậm chí với việc
tăng này có khi còn tạo ra khoảng cách lớn về mức sống, thu nhập giữa khu
vực thành thị và nông thôn.
Nhìn chung, cuộc sống của người dân nông thôn đa số là tự túc, tự
cấp, còn cuộc sống của người dân đô thị hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào thị
trường theo phương thức mua bán. Các nhu yếu phẩm phục vụ cho cuộc sống
hang ngày, từ những cái nhỏ nhất đều do thị trường cung cấp, bảo đảm cung
cấp đủ nhu yếu phẩm cho cuộc sống hang ngày của người dân là trách nhiệm
nặng nề của chính quyền các vùng đô thị nói chung. Bên cạnh trách nhiệm
bảo đảm cung cấp nhu yếu phẩm thì chính quyền của đô thị còn có trách
nhiệm giải quyết việc làm, tạo ra nguồn sống cho người dân đô thị. Trong khi
đó chính quyền nông thôn cũng phải lo cuộc sống của người dân, song mức
độ phức tạp và gay gắt không thể bằng đô thị.
Nói tóm lại, ở thành thị kinh tế phát triển và các công trình phúc lợi công
cộng như: y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, điện, nước, giao thông cũng phát triển
hơn nông thôn. Kéo theo đó là thu nhập và mức sống hơn hẳn.
- Nâng cao năng suất, trình độ lao động: Khác với nông thôn, ở thành
thị các ngành công nghiệp, dịch vụ rất phát triển, đòi hỏi tất yếu là lao động
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Bích Loan Khoa: KHPT
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét