Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

truyện kiều trong con mắt người đời


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "truyện kiều trong con mắt người đời": http://123doc.vn/document/544123-truyen-kieu-trong-con-mat-nguoi-doi.htm


Truyện Kiều trong con mắt người đời
PHẦN II: NỘI DUNG
Sau khi tiến hành nghiên cứu đề tài bằng phương pháp nghiên cứu
khoa học, tôi đã thu được các kết quả sau
1. Tác giả “Truyện Kiều”
1.1 Tiểu sử
Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng
Sơn lạp hộ, sinh năm Ất Dậu dưới triều Lê Cảnh Hưng (1765); người
xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.
Là dòng dõi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công Nguyễn
Nghiễm, từng làm tới Tể Tướng triều Lê mạt; mẹ là người vợ thứ ba,
nhũ danh Trần Thị Tần người Kinh Bắc; anh là Toản Quận Công
Nguyễn Khản cũng làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều.
Sinh ra trong một gia đình quan lại, có truyền thống văn học, năng
khiếu thơ văn của Nguyễn Du sớm có điều kiện nảy nở và phát triển.
Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh dĩnh ngộ. Năm 1783, Nguyễn Du
thi hương đậu Tam Trường. Vì lẽ gì không rõ, ông không tiếp tục thi
lên nữa.
Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân Thanh.
Nguyễn Du, vì tư tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quan
cho nhà Tây Sơn.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, vời
Nguyễn Du ra làm quan; ông từ mãi mà không được nên miễn cưỡng
tuân mệnh. Năm 1805, ông được thăng Đông Các điện học sĩ, tước Du
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 5
Truyện Kiều trong con mắt người đời
Đức Hầu. Năm 1813, thăng Cần Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh
Sứ đi Trung Quốc. Sau khi về nước, năm 1815, ông được thăng Lễ Bộ
Hữu Tham Tri.
Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng có mấy
trở ngại. Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi
vui, thường u uất bất đắc chí. Theo Đại Nam Liệt Truyện: ``Nguyễn Du
là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi
lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì ''
Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần
này chưa kịp đi thì ông đột ngột qua đời.
Đại Nam Liệt Truyện viết: ``Đến khi ốm nặng, ông không chịu
uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói
"được" rồi mất; không trối lại điều gì.''
1.2 Niên biểu về Nguyễn Du
- Nguyễn Du, húy Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn
Liệp Hộ, Nam Hải Điếu Đồ. Sinh năm Ất Dậu 1765 tại phường Bích
Câu, thành Thăng Long. Quê quán: Làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân,
tỉnh Hà Tĩnh. Họ Nguyễn làng Tiên Điền vốn có gốc từ họ Nguyễn làng
Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, nay thuộc tỉnh Hà Tây. Có ý kiến cho
rằng, họ Nguyễn làng Canh Hoạch đây lại có gốc từ họ Nguyễn làng Nhị
Khê, cũng thuộc Hà Tây, là họ của Nguyễn Trãi.
-Năm 1480 Họ Nguyễn Canh Hoạch đã có cụ tổ Nguyễn Doãn Địch đậu
Thám hoa khoa Canh Tí.
- Năm 1532 Có Nguyễn Thuyến đậu Trạng nguyên khoa Nhâm Thìn (nhà
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 6
Truyện Kiều trong con mắt người đời
Mạc).
- Năm 1550: Năm Thuận Bình thứ 2. Nguyễn Thuyến cùng hai con là
Nguyễn Quyện và Nguyễn Dật đầu hàng nhà Lê. Nhưng sau khi Nguyễn
Thuyến mất thì Quyện và Dật lại trở về với nhà Mạc.
- Năm 1592: Năm Quang Hưng thứ 15. Quân Mạc Mậu Hợp thua,
Nguyễn Quyện bị bắt, được Trịnh Tùng trọng đãi. Sau Khi Mạc Mậu
Hợp bị giết, con cái Nguyễn Quyện, Nguyễn Dật buộc phải theo nhà Lê,
nhưng rồi lại mưu phản. Việc khôi phục nhà Mạc thất bại, cả nhà bị giết,
chỉ còn một người con của Nguyễn Dật là Nguyễn Nhiệm tước Nam
dương hầu trốn được vào ẩn ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà
Tĩnh thuộc châu Hoan. Nguyễn Nhiệm giấu tên tuổi, gốc tích, chỉ gọi là
ông Nam Dương làm nghề bốc thuốc và trở thành danh y. Như vậy ông
Nam Dương tức Nguyễn Nhiệm là ông tổ của họ Nguyễn làng Tiên Điền.
Họ Nguyễn làng Tiên Điền về sau trở thành một dòng họ lớn, có nhiều
người đỗ đại khoa, làm quan to và hay thơ phú. Đời thứ 4: Có Nguyễn
Thể là quan võ đánh giặc có công, được phong Quả cảm tướng quân. Đời
thứ 5: Có Nguyễn Quỳnh thi hương đậu Tam trường, giỏi về thuật phong
thủy. Đời thứ 6: Con cả là Nguyễn Huệ (1705-1733) đỗ đồng Tiến sĩ.
Mất lúc 28 tuổi. Con thứ là Nguyễn Nghiễm là thân phụ Nguyễn Du. Con
trai út là Nguyễn Trọng là chú ruột Nguyễn Du.
- Năm Mậu Tí 1708: Nguyễn Nghiễm sinh ngày 14 tháng 8, tự Hy Di,
hiệu Nghi Hiên, biệt hiệu Hồng Ngư Cư Sĩ.
- Năm 1731: Nguyễn Nghiễm đỗ Nhị giáp Tiến sĩ khoa Tân Tị. Nguyễn
Nghiễm lấy vợ là hai chị em họ Đặng làng Uy Viễn, lấy từ thuở hàn vi.
- Năm 1734: Bà Đặng Thị Dương sinh Nguyễn Khản.
- Năm 1745: Bà ĐặngThị Thuyết sinh Nguyễn Điều rồi mất. Gần mười
năm sau, ông cưới thêm bà Trần Thị Tấn là thân mẫu Nguyễn Du. Bà
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 7
Truyện Kiều trong con mắt người đời
Trần Thị Tấn là con gái một viên quan nhỏ người làng Hoa Thiều, huyện
Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc nay là làng Hoa Thiều, huyện Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh. Họ Trần làng Hoa Thiều đời thứ sáu có Trần Phi Chiêu đậu
Tiến sỹ khoa Kỷ Sửu (1589). Về sau, Phi Chiêu theo họ Mạc lên Cao
Bằng làm đến chức Thượng thư. Bà Trần Thị Tấn sinh ngày 3 tháng 7
năm Canh Thân 1740, kém chồng 32 tuổi. Khi lấy chồng bà mới khỏang
16 tuổi. Bà sinh được 5 con, 4 trai và 1 gái là:
+ Nguyễn Trụ: 1757 - 1775.
+ Nguyễn Nễ còn gọi là Đề: 1761 - 1805.
+ Nguyễn thị Diên: 1763 - ? Lấy Vũ Trinh.
+ Nguyễn Du: 1765 - 1820.
+ Nguyễn Ức: 1767 - 1823.
- Sau bà Trần Thị Tấn, Nguyễn Nghiễm còn cưới thêm 5 bà thiếp nữa,
tuổi cỡ mười tám đôi mươi là các bà: Nguyễn Thị Xuyên, Nguyễn Thị
Xuân, Phạm Thị Diễm, Hồ Thị Ngạn, Hoàng Thị Thược, tất cả ông có 8
vợ, 21 con gồm 12 trai và 9 gái. Các con trai của Nguyễn Nghiễm là:
1- Nguyễn Khản: (1734 - 1786) con bà Dương, 26 tuổi đỗ Tiến sĩ làm
quan đến chức Thượng thư bộ Lại, tước Toản quận công.
2- Nguyễn Điều: (1745-1786) con bà Thuyết, làm Trấn thủ Sơn Tây.
3- Nguyễn Trụ (1757- 1775) con bà Tấn, thông minh từ bé, 15 tuổi đỗ Cử
nhân.
4- Nguyễn Quýnh (1759 - 1791) con bà Xuyên, tên tục là Luyện làm
Trấn tả đội.
5- Nguyễn Nễ (1761- 1805): Còn gọi là Đề. Con bà Tấn, làm quan đến
chức Đông các Đại học sỹ, tước Nghi thành hầu.
6 -Nguyễn Trừ (?): con bà Xuân, làm Tri Phủ Vĩnh Tường.
7- Nguyễn Du (1765 - 1820): con bà Tấn, làm quan đến chức Hữu tham
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 8
Truyện Kiều trong con mắt người đời
tri bộ Lễ, tước Du đức hầu.
8- Nguyễn Nhung: (?) con bà Ngạn, đỗ Tứ trường.
9 -Nguyễn Ức (1767 - 1823) con bà Tấn.
- Sau Nguyễn Ức còn ba người con trai nữa.
- Nguyễn Điều có hai người con trai gọi Nguyễn Du bằng chú, tuổi xấp xỉ
Nguyễn Du là:
+ Nguyễn Thiện: 1763 - 1818.
+ Nguyễn Hành: 1778 - 1823.
- Nguyễn Thiện và Nguyễn Hành đều là những người thông minh đỗ đạt,
giỏi thơ phú. Nguyễn Hành và Nguyễn Du được xếp vào 5 nhà thơ nổi
tiếng thời đó: An Nam ngũ tuyệt. Họ Nguyễn Tiên Điền không những có
nhiều người đỗ đại khoa, làm quan to, mà còn nhiều người hay thơ, giỏi
chữ như:
+ Cụ Nguyễn Nghiễm có hai tập Quân trung liên vận và Xuân
đình tạp ngâm. Cụ còn có bài phú nôm: Khổng Tử mộng Chu Công rất
được truyền tụng.
+ Nguyễn Khản cũng có nhiều bài thơ chép trong: Nguyễn gia
phong vận tập.
+ Nguyễn Nễ có hai tập: Quế hiên giáp ất tập và Hoa trình tiền
hậu tập.
+ Nguyễn Thiện có: Đông phố thi tập và là người nhuận sắc
truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự.
+ Nguyễn Hành có: Quan đông hải tập và Minh quyên tập.
+ Hai người con gái của Nguyễn Khản là Nguyễn Thị Bành và
Nguyễn Thị Đài đều giỏi thơ quốc âm.
- Đinh Sửu 1757: Nguyễn Nghiễm được thăng Tả thị lang bộ Hình.
- Canh Thìn 1760: Nguyễn Khản đỗ Tiến sĩ được bổ làm Đốc đồng xứ
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 9
Truyện Kiều trong con mắt người đời
Sơn Tây.
- 1761: Nguyễn Nghiễm được thăng Đô ngự sử.
- Ất Dậu 1765: Bà Trần Thị Tấn sinh hạ Nguyễn Du ở phường Bích Câu,
thành Thăng Long. Nguyễn Du là con trai thứ bảy nên gọi là cậu chiêu
Bảy. Về năm sinh của Nguyễn Du, có ý kiến cho rằng: Vì ông sinh vào
cuối năm Ất Dậu nên vào đầu năm 1766.
- 1767: Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên nối ngôi chúa. Nguyễn Khản giữ
chức Tri binh phiên ở phủ chúa, được thăng Đông các Đại học sĩ kiêm Tế
tửu Quốc tử giám. Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử thái bảo, hàm
Tòng nhất phẩm, tước Xuân quận công. Ông được cử sát hạch quan lại,
chọn được Lê Quý Đôn là một trong ba người giỏi nhất.
- Mậu Tuất 1768: Nguyễn Khản được bổ làm Tri hộ phiên ở phủ chúa
Trịnh. Chúa Trịnh tự đặt riêng trong phủ của mình các chức Tham tụng,
Bồi tụng để sánh với Tả, Hữu Thừa tướng của triều đình nhà Lê. Đặt các
quan tri sáu phiên để sánh với Thượng thư sáu bộ. Tri hộ phiên phủ Liêu
ngang với Thượng thư bộ Hộ bên triều đình. Chúa Trịnh lộng quyền, lại
là người dâm đãng, quan lại dưới quyền phóng túng, đạo đức suy đồi, kỷ
cương rối loạn. Nhà Lê chỉ còn là một triều đình bù nhìn tuân theo mọi
sự điều hành của phủ Chúa. Nước ta trong giai đoạn này lâm vào tình
trạng suy đồi, rối ren. Các phe cánh, bè đảng xung đột, sát phạt nhau liên
miên. Trên cả nước thì chế độ phong kiến chia làm hai phe: Phe Đàng
Ngoài của vua Lê chúa Trịnh và phe Đàng Trong của chúa Nguyễn gây
nên cuộc chiến tranh tương tàn đã hai trăm năm chưa phân thắng bại.
Trong phe phong kiến Đàng Ngoài lại có mâu thuẫn ngấm ngầm giữa
triều đình nhà Lê và phủ chúa Trịnh, hễ có dịp là lại bùng ra. Trong phủ
chúa Trịnh lại có phe trưởng và phe thứ. Trịnh Sâm vì tình riêng mà phế
con trưởng là Trịnh Khải, lập con thứ là Trịnh Cán, con của Đặng Thị
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 10
Truyện Kiều trong con mắt người đời
Huệ làm thế tử, gây nên bè phái tranh chấp. Nạn kiêu binh lộng hành.
Dân số nước ta lúc này chỉ khoảng 4 triệu người, với nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu, người dân phải chịu nhiều tầng sưu thuế, đời sống cùng
cực. Khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi.
- Tân Mão 1771: Khởi nghĩa Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi binh ở ấp Tây Sơn nay thuộc làng Kiên
mỹ, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Cuộc khởi nghĩa
này nhanh chóng phát triển thành một phong trào rộng lớn, trở thành lực
lượng chính trị quyết định vận mệnh quốc gia sau đó. Nguyễn Nghiễm
xin trí sĩ (về hưu) được phong Đại tư đồ. Vua cho tàu mành, quân lính
đưa về đến làng, quan dân toàn hạt đến mừng nhiều vô kể (theo Hoàng
Xuân Hãn). Nguyễn Du 6 tuổi cùng mẹ theo cha về làng Tiên Điền. Đây
là lần đầu tiên Nguyễn Du về làng. Sau này ông có làm thơ nhớ lại việc
này (Bài Giang Đình hữu cảm).
- 1772: Tháng giêng, Nguyễn Nghiễm được vời trở lại phủ Chúa giữ
chức Tham tụng, tương đương Tể tướng.
- 1773: Nguyễn Khản được bổ chức Thập thị bồi tụng, tước Kiều nhạc
hầu cùng với cha ở trong chính phủ, được chúa ban tấm biển đại tự: Nhị
thân phụ tử.
- 1774: Mùa xuân, Nguyễn Nghiễm được sung chức Tả tướng cùng
Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
- Tháng 10, trong lúc đang hành quân ở Quảng Nam thì bị nhiễm bệnh,
Nguyễn Nghiễm xin về quê để chữa trị. Nguyễn Khản cáo quan xin về
quê chăm sóc cha.
- Ất Mùi 1775: Nguyễn Du 10 tuổi. Tháng 11, Nguyễn Nghiễm qua đời ở
quê nhà, thọ 67 tuổi. Ông được truy phong tước Huân dụ đô hiến đại
vương thượng đẳng phúc thần. Nguyễn Trụ, anh cùng mẹ với Nguyễn
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 11
Truyện Kiều trong con mắt người đời
Du, đỗ Cử nhân lúc 15 tuổi, qua đời (18 tuổi).
- 1776: Nguyễn Khản được phong Hữu tham tri bộ Lại. Trong lúc đi thu
mua lúa nhà giàu ở Nghệ An năm 1775 để giúp việc quân, Khản để bọn
tay chân nhũng nhiễu dân, bị dân kiện, phải tạm xin nghỉ để yên dân.
- Mậu Tuất 1778: Nguyễn Du 13 tuổi. Bà Trần Thị Tấn, thân mẫu
Nguyễn Du, qua đời (38 tuổi). Nguyễn Khản trở lại làm việc được thăng
Tả thị lang bộ Hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn Tây. Nguyễn Điều được
thăng Trấn thủ Hưng Hóa.
- 1780: Nguyễn Du 15 tuổi. Vụ án Canh Tý. Trịnh Sâm phế con trưởng là
Tông tức Trịnh Khải, lập con thứ là Trịnh Cán con vợ bé Nguyễn Thị
Huệ làm thế tử. Nguyễn Khản đang làm Hiệp trấn xứ Sơn Tây liên kết
cùng một số triều thần định cất quân về giúp Trịnh Khải. Việc bị bại lộ,
nhiều người bị giết. Riêng Nguyễn Khản vốn thân với Trịnh Sâm được
miễn tội chết, được đem về giam lỏng ở nhà Châu quận công. Bà Đặng
Thị Dương, thân mẫu Nguyễn Khản qua đời. Cả gia đình với gần ba chục
người lúc này chỉ có một mình Nguyễn Điều đang tại chức ở Hưng Hóa.
Nguyễn Quýnh 21 tuổi mới thi hương đỗ Tam trường, các em còn bé.
Cảnh nhà lúc này gặp nhiều khó khăn, phải nhờ vào sự giúp đỡ của bạn
bè. Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn đem về nuôi ở Sơn Nam Hạ
tiếp tục học tập.
- 1782: Trịnh Sâm mất, Trịnh Cán lên ngôi chúa. Kiêu binh nổi lên phế
bỏ Trịnh Cán, giáng Thị Huệ làm thứ dân, Thị Huệ uống thuốc độc tự tử.
Trịnh Khải lên ngôi chúa. Nguyễn Khản được Trịnh Khải gọi về làm
Thượng thư bộ Lại, tước Toản quận công. Nguyễn Điều làm Trấn thủ
Sơn Tây. Nguyễn Quýnh làm Quản Trấn tả đội.
- 1783: Nguyễn Du 18 tuổi. Nguyễn Khản được thăng Thiếu bảo, cuối
năm thăng Tham tụng tương đương Thừa tướng. Nguyễn Nễ cùng em là
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 12
Truyện Kiều trong con mắt người đời
Nguyễn Nhung và cháu là Nguyễn Thiện thi đậu Tứ trường (Cử
nhân).Nguyễn Nễ học giỏi được làm quan ở phủ chúa, giữ chức coi việc
học của các con chúa. Nguyễn Du đậu Tam trường (Tú tài). Vì chỉ đỗ Tú
tài không được bổ làm quan, phải tập ấm chức Chánh thủ hiệu đội quân
hùng hậu của người cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Nguyễn Du lấy vợ là
em gái Đoàn Nguyễn Tuấn (1750 - ?) con gái Đoàn Nguyễn Thục (1718 -
1775) người làng An Hải, huyện Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam nay thuộc
tỉnh Thái Bình. Đoàn Nguyễn Thục đỗ Hoàng giáp Tiến sĩ khoa Nhâm
Thân 1752, cùng làm quan với Nguyễn Nghiễm trong nhiều năm, đến
chức Ngự sử, tước Huỳnh châu bá. Nguyễn Trừ, Nguyễn Nhung cũng ra
làm quan, chỉ còn bốn em trai còn nhỏ. Từ đây, gia đình lớn của Nguyễn
Nghiễm có sự phân tán và người anh cả Nguyễn Khản cũng bớt được
gánh nặng.
- 1784: Kiêu binh là lính Thanh, Nghệ có công, được ưu đãi trở nên kiêu
căng. Khi Kiêu binh nổi lên, Nguyễn Khản và một số đại thần lập uy
chém bảy tên, họ kéo đến phường Bích Câu phá nhà Khản. Khản phải
trốn lên Sơn Tây với Nguyễn Điều. Khản tìm cách liên lạc với Trịnh
Khải ước hẹn các trấn cùng nhau kéo quân về dẹp Kiêu binh. Kiêu binh
biết được nên đề phòng cẩn mật. Việc không thành, Khản phải lánh về
Tiên Điền hai năm. Nguyễn Huệ đánh tan 2 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm-
Xoài Mút. Hạn hán nặng, mất mùa lớn, nhiều người chết đói.
- Bính Ngọ 1786: Nguyễn Du 21 tuổi. Tháng 6, Tây Sơn lấy thành Thuận
Hóa rồi kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh, kết thúc 216 năm Trịnh Nguyễn
phân tranh (1570-1786).
- Tháng 7, Lê Hiến Tông mất, Lê Chiêu Thống lên ngôi. Nguyễn Huệ
cưới công chúa Ngọc Hân. Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái
Bình.Nguyễn Nễ lánh về quê ngoại ở làng Hoa Thiều.
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 13
Truyện Kiều trong con mắt người đời
- Tháng 7: Nguyễn Điều mất lúc 41 tuổi. Nguyễn Ức đang tập ấm chức
Hoàng tín đại phu trung thành môn vệ úy cũng lánh về quê vợ ở làng Phù
Đổng, huyện Tiên Du, kinh Bắc. Nguyễn Khản đang lánh Kiêu binh ở
quê nhà, bằng đường thủy ra Kinh đô để giúp chúa phò vua nhưng không
có kết quả, cảm bệnh rồi mất vào tháng 9 (mới 52 tuổi). Khi Nguyễn Huệ
rút đi, triều đình không có người quả quyết, Lê Chiêu Thống (cùng tuổi
với Nguyễn Du, 21tuổi) bạc nhược bị ép phải phong cho Trịnh Bồng làm
An đô vương, khôi phục quyền bính cho chúa Trịnh . Nguyễn Huệ sai
Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An mang quân ra đánh Trịnh Bồng. Nguyễn
Hữu Chỉnh dẹp xong Trịnh Bồng thì lại chuyên quyền y như chúa Trịnh.
- 1787: Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm đem quân ra Thăng Long diệt
Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Lê Chiêu Thống hoảng sợ bỏ chạy sang Kinh
Bắc. Vũ Văn Nhậm cai quản Kinh thành. Nghi Vũ Văn Nhậm có nhị tâm,
Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần thứ hai diệt Vũ Văn Nhậm. Vua Chiêu
Thống vẫn bỏ trốn nên Nguyễn Huệ đặt Lê Duy Cẩn làm Giám quốc, cử
Ngô Văn Sở ở lại rồi rút quân về Nam.
- 1788: Vua Chiêu Thống trốn ở Kinh Bắc cử người đi cầu viện nhà
Thanh. Nhà Thanh nhân cơ hội mang 29 vạn quân chia làm ba đạo sang
xâm lược nước ta. Lê Chiêu Thống theo quân Thanh trở về Kinh đô
Thăng Long. Biết thế giặc mạnh, Ngô Văn Sở tạm lui binh về trấn ở núi
Tam Điệp chờ đại binh của Nguyễn Huệ.
- Tháng 11, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế ở thành Phú Xuân, lấy hiệu
là Quang Trung rồi lập tức kéo quân ra Bắc Hà lần thứ ba để diệt quân
Thanh cứu nước. Quang Trung Hoàng đế vừa hành quân cấp tốc vừa
chiêu nạp thêm binh sĩ. Ngày 20 tháng chạp đã hội quân cùng Ngô Văn
Sở ở núi Tam Điệp. Quang Trung cho quân ăn tết , hẹn ngày mồng 7
tháng giêng sẽ ăn tết lại ở Thăng Long.
Nguyễn Dzoãn Sơn- Lớp Văn_ GDCD K 32- Khoa Xã Hội- Trường CĐSP Đồng Nai
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét