§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
- Để đảm bảo khả năng thanh toán của kỳ phiếu, nó phải được một ngân
hàng hoặc công ty tài chính nào đó bảo lãnh.
- Kỳ phiếu chỉ gồm một bản chính do người thu trái viết ra.
3. TDTM trong mối quan hệ với TDNH.
Tuy là hai hình thức tín dụng hoàn toàn khác nhau song TDTM và
TDNH lại liên quan mật thiết với nhau. Hai hình thức này bổ sung, hỗ trợ lẫn
nhau, TDTM làm lợi cho TDNH, đến lượt nó TDNH giúp cho TDTM linh
động, dễ dàng và an toàn hơn.
3.1. NHTM với việc mở L/c phục vụ TDTM quốc tế
3.1.1. L/c là gì?
L/c viết tắt của Lettes of Credit - là văn bản pháp lý trong đó ngân hàng
mở L/c cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ trình được một bộ chứng
từ thanh toán phù hợp với nội dung L/c.
3.1.2. Các bước thực hiện
Hãy xem sơ đồ sau:
5
ExportersImporters
ExportersImporters
Purchase order
Goods shipment
Shipping documents
L/c application
L/c paid at
maturity
L/c delivered
L/c draf and shipping
documents delivered
Draft accepted
and funds remitted
L/c draft and
shipping documents
L/c notification
Payment
5
1
610
42
911
3
7
8
Process preceding creation of L/c
Process after creation of L/c
§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
- Người mua căn cứ vào hợp đồng mua hàng làm đơn xin mở một thư tín
dụng (L/c) tại một ngân hàng nhất định mà 2 bên đã thỏa thuận.
- Ngân hàng mở L/c căn cứ vào đơn xin mở L/c, mở L/c và thông báo
cho người bán biết về L/c đó rồi gửi bản chính của L/c cho người bán.
- Người bán kiểm tra kỹ nội dung của L/c, nếu hợp lệ thì chấp nhận và
tiến hành giao hàng theo L/c. Nếu không, ngân hàng sẽ dừng ngay hợp đồng.
3.1.3. Ưu và nhược điểm của TDTM quốc tế
* Ưu điểm:
- Thanh toán bằng L/c giúp cho thủ tục đơn giản, việc mua bán giữa các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhanh chóng, thuận tiện.
- Mang tính chặt chẽ và nghiêm ngặt, nhờ đó giảm rủi ro trong quá trình
buôn bán. Trong trường hợp người nhập vì một lý do nào đó không hoặc
không thể thanh toán cho người xuất khẩu, họ vẫn thu được tiền của ngân
hàng nhà nhập khẩu. Hơn nữa do hoạt động thương mại diễn ra trong phạm vi
rộng, thông tin lẫn nhau ít nhiều hạn chế, việc mở L/c ở ngân hàng nhà nhập
khẩu là một yếu tố đảm bảo khá chắc chắn vì họ nắm được tình hình tài chính
của nhà nhập khẩu.
* Nhược điểm:
- Gây rủi ro không đáng có cho nhà kinh doanh do sự ràng buộc chặt chẽ
về nội dung L/c và sự khác biệt trong pháp luật của mọi nước.
- Gây những trùng lặp tiêu cực khi một doanh nghiệp mở L/c ở nhiều
ngân hàng trong khi khả năng thanh toán của họ rất hạn chế.
3.2. Chiết khấu thương phiếu
3.2.1. Khái niệm về chiết khấu thương phiếu
Trên thế giới, chiết khấu thương phiếu đã có lịch sử khá lâu. Nó là
nghiệp vụ cổ điển nhất về huy động các khoản vay thương mại. Hiện nay,
chiết khấu thương phiếu vẫn giữ vị trí then chốt trong các nghiệp vụ của ngân
hàng bởi nó giải quyết tốt nguồn vốn kinh doanh và tương đối an toàn so với
tín dụng ứng trước. Hơn thế, lợi nhuận mang lại từ việc chiết khấu thương
phiếu rất lớn. Đó là một nghiệp vụ tín dụng, qua đó ngân hàng giao cho khách
6
§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
hàng một số tiền ghi trong thương phiếu mà không phải chờ đến ngày thanh
toán của nó.
Việc chiết khấu thương phiếu mà ngân hàng trở thành chủ sở hữu thương
phiếu thông thương phải đem lại sự hoàn trả cho ngân hàng - người chiết khấu
khoản tiền mà họ đã ứng trước: người cung cấp hàng hóa hay dịch vụ lập ra
các thương phiếu thể hiện số hàng đã cung cấp hoặc dịch vụ đã làm và
nhượng lại cho ngân hàng để được thanh toán trước hạn. Đây là công cụ tín
dụng và thanh toán mà giới kinh doanh ưa sử dụng, nó là loại tín dụng đầu
tiên mà doanh nghiệp có thể xin cấp.
Xét theo nghĩa rộng, chiết khấu là một kỹ thuật tài trợ dẫn đến việc cấp
tín dụng nhằm tái tài trợ. Với mục đích này nó được thực hiện dựa trên các
thương phiếu ký chuyển nhượng của người đi vay giao cho ngân hàng - người
cho vay. Kỹ thuật này cũng được sử dụng để tài trợ ngắn hạn, kể cả tín dụng
ngân quỹ cũng như cho các tài trợ trung và dài hạn. Như vậy chiết khấu
thương phiếu bao trùm tất cả các lãnh vực hoạt động - trừ cam kết bằng chữ
ký - và đáp ứng các nhu cầu - thực tế rất khác nhau.
Trong thực tiễn hoạt động ngân hàng, chiết khấu là nghiệp vụ qua đó
ngân hàng sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hoặc một trái phiếu có kỳ
hạn giao số tiền tương ứng cho khách hàng sau khi trừ đi phần thù lao (lãi
suất chiết khấu) của ngân hàng. Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng vì nó
đem lại ngay cho khách hàng một số tiền mà bình thường chỉ được trả vào
ngày đáo hạn thương phiếu.
Nhìn về bản chất, chiết khấu thương phiếu không phải là khoản cho vay
vì ngân hàng không cho khách hàng vay số tiền mà khách hàng sẽ phải trả
cho ngân hàng. Ở đây ngân hàng ứng trước trị giá của thương phiếu chưa đến
hạn và đổi lại bằng việc sở hữu thương phiếu đó. Nhờ đó ngân hàng được trả
lại khoản ứng trước đây bằng cách truy đòi khi đáo hạn thương phiếu.
3.2.2. Cơ chế chiết khấu
Nghiệp vụ chiết khấu là một thỏa ước giữa khách hàng với ngân hàng có
thể chấp nhận chiết khấu từng món một hoặc cam kết trước là sẽ chiết khấu
cho các chứng từ mà khách hàng xuất trình cho đến mức tối đa nào đó trong
một thời hạn nhất định. Trường hợp này người ta gọi là tín dụng chiết khấu.
7
§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
Tuy nhiên ngân hàng cũng như một doanh nghiệp - vẫn từ chối một thương
phiếu khả nghi.
Trong hoạt động chiết khấu, ngân hàng chiết khấu trở thành chủ sở hữu
thương phiếu. Việc chuyển giao thương phiếu thường được thực hiện bằng
cách để tránh ký hiệu hoặc chỉ định ngân hàng là người thu hưởng thương
phiếu. Ngân hàng ứng cho người cầm thương phiếu sau khi tính thù lao, phần
thu này gồm nhiều loại phí và lãi suất thương phiếu.
3.2.3. Đặc điểm chiết khấu
Thông thường thương phiếu do ngân hàng xuất trình đều được thanh
toán và tín dụng được thu hồi. Tuy nhiên khi người trả tiền không hoặc không
có khả năng thanh toán, ngân hàng vẫn có vị trí pháp lý rất mạnh với 2 cách
truy đòi.
- Với tư cách là chủ sở hữu của thương phiếu, ngân hàng có thể truy đòi
theo luật thương phiếu đối với mọi người ký trên phiếu với tất cả những đảm
bảo mà điều khoản này mang lại. Đồng thời ngân hàng có quyền theo đuổi
việc thanh toán đến cùng.
- Với tư cách là người chiết khấu, ngân hàng có quyền truy đòi khách
hàng của mình vì ngân hàng chỉ giao tiền theo giá trị của thương phiếu khi
đảm bảo thu được tiền. Trường hợp rủi ro, ngân hàng có thể đòi người xin
chiết khấu. Nếu khách hàng có quan hệ tài khoản với ngân hàng, ngân hàng
đòi tiền bằng cách trừ vào tài khoản của họ.
3.2.4. Ưu nhược điểm của chiết khấu
Ta biết rằng chiết khấu làm cho khả năng lưu thông của thương phiếu
tăng lên và trở thành phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khá hữu
hiệu, có khả năng hoán chuyển cao, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của
doanh nghiệp cho vay.
* Chiết khấu rất bảo đảm đối với ngân hàng vì ngân hàng có những công
cụ hữu hiệu để truy đòi các khoản TDTM. Ngoài ra khi cần thiết, NHTM có
thể đem thương phiếu đến tái chiết khấu ở NHTW. Tuy vậy các ngân hàng
cùng phải đương đầu với những khó khăn sau:
Thứ nhất, chi phí quản lý thương phiếu rất cao
8
§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
Thứ hai, thông tin về người ký thương phiếu không đầy đủ. Thông
thường ngân hàng không có quan hệ trực tiếp với người ký phát nên quyết
định chiết khấu mang tính mạo hiểm. Để giải quyết việc đó, các ngân hàng
thường quy định lãi suất chiết khấu cao nhằm san bằng rủi ro.
Thứ ba, là những rủi ro ngân hàng gặp phải do các doanh nghiệp làm ăn
phi pháp, lừa đảo, dùng tiền vay ngân hàng trả nợ cho TDTM.
3.3. Ngân hàng - người tư vấn
Do tính chất của hoạt động ngân hàng họ có cơ hội tiếp xúc, nắm được
những thông tin bao quát về tình hình tài chính của các doanh nghiệp, ngân
hàng trở thành nhà tư vấn cho người sản xuất kinh doanh hay những người
buôn bán giấy tờ có giá. Nhờ thông tin do ngân hàng cung cấp, khách hàng ra
quyết định có dùng thương phiếu đó không.
4. Vai trò của TDTM
So với các loại tín dụng khác, TDTM khá đặc biệt. Nó có những ưu
điểm:
- Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, rút ngắn chu kỳ kinh doanh,
làm cho sản xuất lưu thông được liên tục, nhờ đó tăng hiệu quả kinh tế.
- Có khả năng tích tụ vốn cao, nó là nguồn vốn lưu động quan trọng dù
giá của nó khá đắt: 2% lãi suất cho 10 ngày.
- Tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ và nó là hình thức lưu thông không
dùng tiền mặt. Trên thực tế, tiền vẫn nằm tại ngân hàng trong khi thương
phiếu có thể được thay đổi chủ sở hữu.
- Khuyến khích sản xuất kinh doanh nhờ tính trừu tượng. Người kinh
doanh bí mật được hoạt động của mình về loại hàng hóa, giá thành
Tuy vậy, muốn TDTM hoạt động hiệu quả cần khắc phục những hạn chế
sau:
- Hạn chế về quy mô tín dụng: quy mô TDTM là có hạn, cụ thể khoản tín
dụng có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng giá trị hàng hóa trao đổi.
- Hạn chế về chiều vận động: TDTM chỉ vận động theo một chiều nên
nếu chỉ một khoản trục trặc có thể dẫn đến phá sản hàng loạt.
9
§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
- Hạn chế do thiếu sự giảm sút của ngân hàng dẫn đến sự hạn chế khả
năng theo dõi doanh nghiệp. Vì vậy nó nảy sinh tiêu cực như nạn buôn bán
giả, rửa tiền
Ngoài ra TDTM còn là mầm mống của khủng hoảng sản xuất thừa với
những đơn đặt hàng giả hoặc không có khả năng được thanh toán.
II/ TDTM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. TDTM quốc tế với những vấn đề cần tháo gỡ
Sự bùng nổ hình thức TDTM quốc tế trong mấy năm gần đây đặt nước ta
vào tình trạng hết sức khó khăn vì một mặt, TDTM quốc tế là công cụ thuận
lợi cho kinh doanh quốc tế, nó làm tăng đáng kể khối lượng xuất nhập khẩu,
khuyến khích sản xuất hàng hóa xuất khẩu cũng như các ngành sản xuất có
đầu vào là nguyên liệu ngoại nhập, mặt khác nó cũng gây những hậu quả cho
nền kinh tế với hiện trạng.
1.1. Quản lý TDTM quốc tế đang bị thả lỏng
- Do thiếu hiểu biết, người ta ngộ nhận rằng nguồn vốn thu hút từ việc
mở L/c trả chậm là nguồn vốn rẻ tiền và có thể dùng thoải mái tới mức họ
quên đi những rủi ro đáng lo ngại và hậu quả xấu cho đất nước và các ngân
hàng lao vào nghiệp vụ này một cách phiêu lưu. Nguyên nhân chính ở đây là
việc quản lý hình thức tín dụng này hầu như bị thả nổi. Quỹ tiền tệ quốc tế
khuyên ta nên hạn chế doanh nghiệp vay nước ngoài cho phù hợp với khả
năng trả nợ nhưng con số vẫn không ngừng gia tăng.
Người ta cảnh báo rằng, nguy cơ đáng lo ngại là có những công ty
TNHH với số vốn trong TNHH chỉ có 3 tỷ đồng nhưng đã mở tổng số L/c trả
chậm là 41 triệu USD. Như vậy chỉ cần một sơ suất nhỏ hay giá hàng nhập
theo L/c đó giảm 1% là doanh nghiệp lỗ vốn 410.000USD, vượt số vốn tự có.
Khối lượng TDTM quốc tế lớn như vậy nhưng chủ yếu để nhập khẩu
hàng tiêu dùng, sau đó chính cán cân thanh toán quốc tế sẽ phải gánh chịu
việc trả nợ này khi đáo hạn.
Về phía quy định, việc bảo lãnh cho mỗi L/c hầu như không có thể lệ
hướng dẫn thi hành, ghi chép ngoại bảng không kiểm soát nổi đến chỗ thắt
chặt gần như cấm hoàn toàn. Nó thường xuyên bị lợi dụng để làm ăn phi
10
§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
pháp. Lúc đầu nó chỉ là nhập hàng trả chậm nhưng một số công ty móc ngoặc
được với các cán bộ ngân hàng biến chất, rút được hàng hóa thế chấp cho L/c
trả chậm đem bán phá giá lấy vốn quay vòng. Đến khi việc kinh doanh gặp rủi
ro, ngân hàng là người gánh chịu những khoản này.
Mặc dù đã có những biện pháp ngăn ngừa như ban hành tỷ lệ ký quỹ là
80% mà thực chất là cấm mở L/c trả chậm nhưng rồi L/c vẫn tăng đáng kể.
Nguyên nhân là do các công ty cần nhập nguyên liệu cho sản xuất kiến nghị
đồng loạt nên việc mở L/c lại trở về lỏng lẻo như cũ. Chẳng hạn, phân bón là
mặt hàng thường xuyên được nhập về để bán phá giá lấy vốn quay vòng lại
thuộc loại nguyên liệu cho nông nghiệp nên các ngân hàng vẫn tăng L/c trả
chậm. Vì vậy khối lượng L/c trả chậm đầu năm 1996 khoảng 1200 triệu USD;
đến tháng 6/1996 đã tăng đến hơn 1400 triệu USD. Trong vụ Epco và Minh
Phụng, người ta mới thấy hết tai họa của việc bảo lãnh mở L/c trả chậm
không được quản lý: riêng 2 công ty này đã hút được tới 44 triệu USD vốn
đem quay vòng từ các L/c trả chậm, trong đó quá hạn chiếm 31,3% hay 13,8
triệu USD.
1.2. Thông tin thiếu thốn: Do vậy, có khách hàng mở L/c ở nhiều ngân
hàng tới vài chục triệu USC. Trung tâm thông tin tín dụng của ta không thể
cung cấp số L/c mà khách hàng mở ở nhiều ngân hàng khác nhau.
1.3. NHTM hoạt động kém hiệu quả, nghiệp vụ yếu kém, đội ngũ cán bộ
trình độ hạn chế, chưa được thanh lọc, phẩm chất chưa tốt. Từ đó dẫn đến
những vi phạm nguyên tắc một cách vô tình hay cố ý, tham ô, hối lộ gây
những thiệt hại lớn cho đất nước. Nghiệp vụ ngân hàng chưa cao nên không
theo dõi và không có đủ thông tin về doanh nghiệp, không kịp thời can thiệp
được khi có sai trái.
1.4. Chưa có hiểu biết đầy đủ về TDTM quốc tế
Chúng ta tiếp cận và sử dụng TDTM quốc tế như là một công cụ hiệu
quả cho xuất nhập khẩu mà chưa hiểu rõ bản chất của nó. Thêm vào đó,
chúng ta thiếu một hệ thống pháp luật cụ thể và hiệu quả, dẫn đến những rủi
ro cho nền kinh tế. Do ham lợi trước mắt, các ngân hàng và doanh nghiệp làm
sai quy tắc. Do thiếu kiến thức, nhiều L/c bị từ chối thanh toán do bộ chứng từ
không hợp lệ.
11
§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
1.5. Ngân hàng nhà nước chưa ban hành chế độ mở L/c trả chậm. Việc
thiếu vắng một thể lệ có tính pháp quy như vậy đã tạo kẽ hở cho một số ngân
hàng đua nhau hạ thấp các điều kiện mở L/c để thu hút khách hàng và sẵn
sàng lao vào nuôi những công ty mở L/c tràn lan không có vốn đảm bảo.
1.6. Không có sự phối hợp giữa Vụ chức năng và Vụ kế toán của NHTW
để quản lý bằng một chế độ hoạch toán kế toán chặt chẽ, đây là lỗ hổng lớn
cho một số kẻ xấu tha hồ tiền hành những bút toán không thực.
1.7. Khối lượng TDTM quốc tế đã chiếm thị phần lớn của tín dụng trong
nước nên nó là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng thừa vốn ở các doanh
nghiệp.
Tóm lại, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để giải quyết mâu thuẫn
giữa sự cần thiết của TDTM quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế của nước
ta.
2. TDTM trong nước
2.1. TDTM chưa được thừa nhận chính thức, hoạt động bất hợp pháp,
đầy rẫy rủi ro vì quyền lợi của người kinh doanh chưa được bảo đảm dẫn đến
sự phá sản hàng loạt khi một khâu kinh doanh đổ bể. TDTM ở nước ta hiện
nay chỉ dựa trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau giữa những người mua - người bán
dẫn đến tình trạng quỵt nợ, nợ dây dưa giữa các doanh nghiệp. Chẳng phải
ngẫu nhiên mà một số người cho rằng vụ cháy chợ Rồng ở Thanh Hóa và chợ
Đồng Xuân ở Hà Nội là do có kẻ muốn thủ tiêu giấy tờ ghi nợ.
Phải nhìn nhận rằng việc bán chịu hàng ở chợ gần như thành luật lệ của
giới buôn bán. Thường thường, các cơ sở sản xuất phải giao hàng đợt sau mới
lấy được tiền hàng đợt trước. Nơi bán buôn ở các chợ đầu mối cũng phải cũng
phải giao hàng trả chậm cho các mối bán lẻ và cả các mối ở địa phương khác.
Khối TDTM lên đến hàng ngàn tỷ đồng như vậy lại không có gì bảo đảm gây
thiệt thòi lớn cho các chủ nợ.
Như ta đã biết, TDTM di chuyển rất nhanh. Ở một số tỉnh khối lượng
TDTM lớn đã làm lệch cân đối tín dụng của các ngân hàng địa phương. Ví dụ
khi giá cao sự tăng thu hút khách hàng đổ xô vào ứng tiền cho các công ty cao
su. Số dư nợ khổng lồ đối với khối ngân hàng địa phương của công ty này đã
giảm sút lớn dẫn đến đầu vào các các ngân hàng lớn hơn đầu ra.
12
§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
Theo như thống kê, TDTM chiếm đến 40% tổng số vốn lưu động của các
doanh nghiệp. Con số này còn lớn hơn nhiều với những doanh nghiệp ít vốn
hơn. Họ thường xuyên sử dụng hình thức này để giải quyết vấn đề tiền vốn
kinh doanh hạn hẹp. Những người thường xuyên mua chịu là những người
buôn bán ở chợ, bán lẻ Các mặt hàng cho mua bán chịu cũng thật là đa
dạng: quần áo, vải vóc, đồ lưu niệm, thiết bị trường học nó tùy thuộc vào
tiềm năng về vốn của người bán cũng như quy luật chung của thị trường đó.
Nhiều khi người bán phải chấp nhận bán chịu như một hình thức khuyến mại,
khuyến khích mua hàng của họ. Sau đây là một vài số liệu về mặt hàng vải ở
chợ Đổ (Hải Phòng).
Theo điều tra sơ bộ, tất cả các hiệu vải ở đây đều sử dụng hình thức
TDTM dưới hình thức này hay hình thức khác. Lý do cơ bản là vì nguồn vốn
kinh doanh có hạn, người bán buôn phải chấp nhận một thời hạn nào đó để
người bán giải phóng hàng, gom tiền trả nợ. Người kinh doanh cho biết, đây
là giải pháp hữu hiệu để duy trì hoạt động kinh doanh liên tục, đồng thời họ
cũng than phiền là nhiều khi không đòi được tiền, bị quỵt nợ mà không biết
kêu ai.
Ngày nay, với xu hướng nới lỏng hơn với TDTM, nó phát triển mạnh mẽ
với khối lượng tín dụng tiến dần tới khối lượng hàng hóa. Ta xem xét biểu đồ
sau:
Biểu đồ: Tỷ lệ mua chịu trong tổng số vốn kinh doanh
13
85 95 96 97
Tỷ lệ
(%)
100
75%
5
63%
5
68%
5
Thời gian
§Ò ¸n: Lý thuyÕt tiÒn tÖ Ng©n hµng NguyÔn Hïng ViÖt - 1905
Cùng với khối lượng sản xuất kinh doanh, khối lượng vốn tăng lên theo
đà phát triển kinh tế, khối lượng TDTM cũng đang ngày càng tăng mạnh.
Trong trường hợp hàng hóa đặc biệt và hạn chế về số lượng, các hộ kinh
doanh còn ứng trước tiền để đặt hàng. Thời hạn tín dụng ở đây thường từ 15
ngày đến 1 tháng.
Biểu đồ: Tỷ lệ rủi ro trong TDTM
Cùng với sự tăng lên của khối lượng TDTM, rủi ro nó mang đến cũng
tăng lên đáng kể. Lẽ dĩ nhiên, buôn bán phát triển, lợi nhuận hấp dẫn, người
ta quan tâm đến điều đó chứ không phải những giao ước bằng lời.
Như vậy TDTM là một mảng không thể thiếu trong hoạt động kinh
doanh, nhất là trong hoàn cảnh thiếu vốn của ta hiện nay.
2.2. Chưa có những quy định cụ thể cho TDTM
Trước đây, dù nhà nước có cấm ngặt TDTM thì nó vẫn ngấm ngầm tồn
tại. Cho đến nay vẫn chưa có luật lệ cụ thể nào về thương phiếu, nghiệp vụ
chiết khấu bị bỏ ngỏ, lại chưa có thị trường cổ phiếu gây nhiều cản trở cho
TDTM phát huy tác dụng.
2.3. Rủi ro đầy rẫy trong TDTM ở Việt Nam do chưa được thừa nhận và
bảo đảm bởi pháp luật.
- Hiện tượng di chuyển mạnh mẽ của loại hình tín dụng này làm lệch cân
đối. Tín dụng của ngân hàng địa phương. Nó làm di chuyển nguồn vốn vay
14
85 95 96 97
Tỷ
lệ(%)
6
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét