Tiểu luận: Luật Thương Mại
Để lên tới sóng truyền hình, các quảng cáo cũng phải chạy theo một đường vòng
khá rắc rối, với nhiều khâu khác nhau nhưng khi có chuyện gì rắc rối thì vẫn thường đổ lỗi
cho nhà sản xuất, chứ các cơ quan truyền thông vẫn không bị ảnh hưởng gì.
Công ty quảng cáo thường nhận hợp đồng từ các đài truyền hình có uy tín hoặc trực
tiếp từ nhà sản xuất. Từ thông tin về sản phẩm, công ty sẽ viết kịch bản và tham gia đấu
thầu cùng với các công ty quảng cáo khác. Nếu thắng trong đấu thầuvà nhận được hợp
đồng làm phim, khi bắt tay vào sản xuất, trong hợp đồng luôn ghi rõ công ty quảng cáo
không chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm.
Người viết kịch bản phim quảng cáo phải trực tiếp tiếp xúc với sản phẩm, thậm chí
phải có sự trải nghiệm thực tế, tức là dùng thử sản phẩm, dịch vụ để có hiểu biết sâu sắc
về nó rồi mới phát sóng quảng cáo.
Theo quy định của pháp luật, những quảng cáo như thực phẩm, dược phẩm, hóa mỹ
phẩm , nhà sản xuất phải trình được giấy phép đăng ký kinh doanh và giấy phép quảng
cáo do các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Y tế, Cục Quản lý Dược cấp chứng nhận
chất lượng sản phẩm đúng như quảng cáo thì mới được phát sóng. Kể cả khi đã có đầy đủ
giấy tờ như vậy, ban biên tập các đài truyền hình còn phải duyệt nội dung để đảm bảo tính
thẩm mỹ và thuần phong mỹ tục trong quảng cáo.
Về lý thuyết, quy trình thì chặt chẽ như vậy, nhưng thực thi thực tế lỏng lẻo. Vụ
quảng cáo vòng tay titan lừa đảo cuối năm 2009 là một minh chứng rõ ràng nhất.
Thông tin từ một lãnh đạo Vụ Trang thiết bị Y tế (thuộc Bộ Y tế) trên báo chí cho
biết, công ty STV Shopping, đơn vị nhập khẩu và phân phối vòng tay titan, đã từng mang
mặt hàng này đến xin cấp phép quảng cáo. Vì thấy sản phẩm không đủ tác dụng chữa
bệnh, Bộ đã không cấp phép.
Tuy nhiên, sau đó bộ vòng tay này vẫn được quảng cáo rầm rộ trên 7 đài truyền
hình toàn quốc. Điều tra của cơ quan chức năng cho thấy; công ty STV Shopping đã chi
nhiều tỉ đồng để ký hợp đồng quảng cáo trên truyền hình, trong đó hợp đồng cao nhất là
2,4 tỉ đồng, thấp nhất là 600 triệu đồng.
5
Tiểu luận: Luật Thương Mại
Tháng 11/2010, Luật Bảo vệ Người tiêu dùng được Quốc hội thông qua, trong đó
quy định rõ bên thứ ba cung cấp thông tin cho người tiêu dùng phải chịu trách nhiệm liên
đới về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ, trừ trường hợp chứng
minh được đã thực hiện đầy đủ các biện pháp kiểm chứng thông tin theo quy định.
Cùng với đó là Pháp lệnh Quảng cáo, Luật Báo chí và các luật dân sự khác ràng
buộc trách nhiệm pháp lý của cơ quan truyền thông đối với việc đăng thông tin quảng cáo
sai lệch. Tuy nhiên, sự chồng chéo về quản lý dẫn tới việc khó tách bạch trách nhiệm.
Trước kia Bộ Văn hóa - Thông tin quản lý toàn bộ quảng cáo, cả ngoài trời lẫn trên
các phương tiện truyền thông. Nhưng từ ngày Bộ Thông tin - Truyền thông được thành
lập thì Cục quản lý Báo chí và Xuất bản được chuyển sang bộ này và mang theo cả chức
năng quản lý về quảng cáo trên báo chí.
Theo thống kê, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng chiếm tới hơn
80% doanh thu quảng cáo tại Việt Nam. Trên lý thuyết, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
đang giữ chức năng quản lý nhà nước đối với toàn bộ hoạt động quảng cáo nhưng lại
không kiểm soát được nội dung quảng cáo trên báo chí. Còn Bộ Thông tin - Truyền thông
quản lý báo chí nhưng lại không có chức năng quản lý nhà nước về quảng cáo.
2.Các điều lệ quy định về hoạt động quảng cáo
2.1.Quảng cáo thương mại và kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại
Mục 1: Quyền quảng cáo thương mại
Điều 11. Quảng cáo thương mại của thương nhân Việt Nam
Cá nhân, pháp nhân, Tổ hợp tác, Hộ gia đình là thương nhân theo quy định của Luật
Thương mại được quyền trực tiếp quảng cáo hoạt động sản xuất, kinh doanh, hàng hóa,
dịch vụ thương mại do mình sản xuất, kinh doanh, cung ứng hoặc thuê tổ chức kinh doanh
dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại cho mình.
Điều 12. Quảng cáo thương mại của các Doanh nghiệp có Vốn đầu tư nước
ngoài
6
Tiểu luận: Luật Thương Mại
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền trực tiếp quảng cáo hoạt động
sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ thương mại do mình sản xuất, kinh doanh, cung
ứng hoặc thuê tổ chức kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại
cho mình, phù hợp với Giấy phép đầu tư.
Điều 13. Quảng cáo thương mại của Thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
1. Thương nhân nước ngoài có Văn phòng đại diện, Chi nhánh được phép hoạt động
tại Việt Nam, được trực tiếp quảng cáo hoạt động sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ
của mình tại Việt Nam hoặc thuê tổ chức kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại Việt
Nam thực hiện theo các quy định của Nghị định này.
2. Thương nhân nước ngoài chưa có Văn phòng đại diện, Chi nhánh được phép hoạt
động tại Việt Nam, muốn quảng cáo về hoạt động sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ
của mình tại Việt Nam, phải thuê tổ chức kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại Việt
Nam thực hiện theo các quy định của Nghị định này.
Mục 2: Hàng hóa, dịch vụ quảng cáo sản phẩm quảng cáo thương mại
Điều 14. Hàng hóa, dịch vụ thương mại được phép quảng cáo
Thương nhân nói tại các Điều 11, 12, 13 Nghị định này được quảng cáo hàng hóa
không thuộc diện hàng hóa cấm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện theo quy
định của pháp luật Việt Nam tại thời điểm quảng cáo.
Điều 15. Hàng hóa, dịch vụ thương mại cấm quảng cáo
Cấm quảng cáo hàng hóa, dịch vụ thương mại sau đây:
1. Hàng hóa cấm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện theo quy định của
pháp luật.
2. Các sản phẩm, hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ thương mại chưa
được phép thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm quảng cáo.
7
Tiểu luận: Luật Thương Mại
Điều 16. Quảng cáo hàng hóa, dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh
Việc quảng cáo hàng hóa, dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh theo quy định
của pháp luật phải được Bộ Thương mại chấp thuận.
Điều 17. Quảng cáo hàng hóa chưa nhập khẩu, dịch vụ thương mại chưa thực
hiện tại Việt Nam
Hàng hóa chưa nhập khẩu, dịch vụ thương mại chưa thực hiện tại Việt Nam, muốn
được quảng cáo tại Việt Nam phải là hàng hóa, dịch vụ thương mại không thuộc diện hàng
hóa, dịch vụ thương mại cấm quảng cáo quy định tại Điều 15 Nghị định này.
Điều 18. Yêu cầu về tính trung thực, chính xác trong quảng cáo
Quy cách, chất lượng, giá cả, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, phương thức
phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hóa, dịch vụ thương mại được quảng cáo phải đúng
với quy cách, chất lượng, giá cả, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, phương thức
phục vụ, thời hạn bảo hành của chính hàng hóa, dịch vụ thương mại được bán, được cung
ứng trên thị trường.
Điều 19. Quảng cáo có sử dụng Nhãn hiệu hàng hóa, biểu tượng, tên Cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ thương mại
Nhãn hiệu hàng hóa, biểu tượng, tên cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thương
mại sử dụng trong quảng cáo phải thuộc Quyền sở hữu của người yêu cầu quảng cáo hoặc
phải được Chủ sở hữu hợp pháp chấp nhận. Thương nhân có yêu cầu thuê quảng cáo phải
chịu trách nhiệm về việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, biểu tượng, tên cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ thương mại.
Điều 20. Sản phẩm quảng cáo thương mại, địa điểm quảng cáo và phương tiện
quảng cáo thương mại
8
Tiểu luận: Luật Thương Mại
1. Việc sử dụng các hình thức, hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết,
biểu tượng, màu sắc, ánh sáng để quảng cáo cho hàng hóa và dịch vụ thương mại phải tuân
thủ các quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Địa điểm quảng cáo phải tuân thủ quy hoạch về đô thị, xây dựng địa phương và
hướng dẫn của cơ quan liên quan; không gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan, môi trường,
trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội.
3. Việc sử dụng các Phương tiện quảng cáo thương mại phải tuân thủ các quy định
tại Điều 190, 193 Luật Thương mại.
Mục 3: Kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại
Điều 21. Quy định đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương
mại
1. Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;
2. Là doanh nghiệp hoạt động độc lập, chuyên kinh doanh dịch vụ quảng cáo
thương mại;
3. Không có hoạt động mua bán hàng hóa, trừ việc mua bán các máy móc, thiết bị,
vật tư phục vụ cho ngành nghề của doanh nghiệp.
Điều 22. Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại.
Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại; quyền và nghĩa vụ của bên thuê quảng
cáo và bên làm dịch vụ quảng cáo thương mại được thực hiện theo Điều 195, 196, 197
Luật Thương mại.
Mục 4: Quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo thương mại kinh doanh dịch
vụ quảng cáo thương mại
2.2.Quảng cáo thương mại
Mục 1: Nội dung của sản phẩm quảng cáo thương mại
9
Tiểu luận: Luật Thương Mại
Điều 21. Bảo bộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động quảng cáo thương mại
1. Việc sử dụng sản phẩm quảng cáo thương mại có chứa đựng những đối tượng
được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải được sự đồng ý của chủ sở hữu đối tượng được bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ đó.
2. Thương nhân có quyền đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm
quảng cáo thương mại theo quy định của pháp luật.
Điều 22. Sản phẩm quảng cáo thương mại có nội dung so sánh với hàng giả, hàng
vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
Thương nhân có quyền so sánh hàng hóa của mình với hàng giả, hàng vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ trong sản phẩm quảng cáo thương mại sau khi có xác nhận của cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng hàng giả, hàng vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ để so sánh.
Điều 23. Bảo vệ trẻ em trong hoạt động quảng cáo thương mại
1. Quảng cáo thương mại đối với hàng hóa là sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ em
phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh
dưỡng dùng cho trẻ em.
2. Không được lợi dụng sự thiếu hiểu biết và thiếu kinh nghiệm của trẻ em để đưa
vào nội dung sản phẩm quảng cáo các thông tin sau đây:
a) Làm giảm mềm tin của trẻ em vào gia đình và xã hội;
b) Trực tiếp đề nghị, khuyến khích trẻ em yêu cầu cha mẹ hoặc người khác mua
hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo;
c) Thuyết phục trẻ em về việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo sẽ có lợi
thế hơn những trẻ em không sử dụng hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo,
10
Tiểu luận: Luật Thương Mại
d) Tạo cho trẻ em suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, thuần phong mỹ
tục, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, an toàn hoặc sự phát triển bình thường của trẻ em.
Điều 24. Quảng cáo thương mại đối với hàng hoá, dịch vụ liên quan đến y tế
Quảng cáo thương mại đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan đến dược phẩm, văc-xin,
sinh phẩm y tế, trang thiết bị, dụng cụ y tế, phương pháp chữa bệnh, thuốc chữa bệnh và
thực phẩm chức năng phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về y tế.
Điều 25. Quảng cáo thương mại đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan đến thuốc thú
y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thức ăn chăn nuôi và giống vật nuôi, giống cây trồng
Quảng cáo thương mại đối với hàng hoá, dịch vụ liên quan đến thuốc thú y, thuốc
bảo vệ thực vật, phân bón, thức ăn chăn nuôi, giống vật nuôi, giống cây trồng phải tuân thủ
theo các quy định của pháp luật có liên quan và không được chứa đựng các nội dung sau:
1. Khẳng định về tính an toàn, tính không độc hại nhưng không có xác nhận của cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
2. Khẳng định về hiệu quả và tính năng của thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân
bón, thức ăn chăn nuôi và giống vật nuôi, giống cây trồng nhưng không có cơ sở khoa học.
3. Sử dụng tiếng nói, chữ viết hoặc hình ảnh vi phạm quy trình và phương pháp sử
dụng an toàn thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật.
Điều 26: Quảng cáo thương mại đối với hàng hóa thuộc diện phải áp dụng tiêu
chuẩn, quy định kỹ thuật về chất lượng hàng hóa
Ngoài những loại hàng hoá không thuộc diện phải áp dụng tiêu chuẩn, quy định kỹ
thuật về chất lượng hàng hoá, thương nhân chỉ được phép quảng cáo thương mại đối với
hàng hóa thuộc diện phải áp dụng tiêu chuẩn quy định kỹ thuật tương ứng sau khi hàng hóa
đó được cấp giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn hoặc quy định kỹ thuật của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền hoặc được công bố tiêu chuẩn chất lượng.
11
Tiểu luận: Luật Thương Mại
Mục 2: Trách nhiệm thực hiện quảng cáo thương mại
Điều 27. Trách nhiệm đối với nội dung sản phẩm quảng cáo thương mại
1. Thương nhân kinh doanh quảng cáo thương mại phải tự chịu trách nhiệm trước
pháp luật nếu nội dung sản phẩm quảng cáo của mình vi phạm các nội dung quảng cáo bị
cấm tại Luật Thương mại và các nội dung về sản phẩm quảng cáo được quy định tại Nghị
định này; phải chấp hành đúng các quy định về sử dụng phương tiện quảng cáo theo quy
định của pháp luật hiện hành.
2. Người đứng đầu cơ quan quản lý các phương tiện thông tin đại chúng, phương
tiện truyền tin, báo điện tử và các loại xuất bản phẩm chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng
cáo thương mại được quảng cáo trên phương tiện quảng cáo mà mình quản lý.
2.3. Khen thưởng và xử lý vi phạm
Điều 32. Khen thưởng
Tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động quảng cáo thì được khen thưởng theo
quy định của pháp luật. Một số giải thưởng:
- Giải thưởng Quả Chuông Vàng - giải thưởng quảng cáo, sáng tạo Việt Nam.
- Liên hoan Phim Quảng cáo Quốc tế Cannes - lấy cảm hứng từ Liên Hoan Phim
Quốc Tế Cannes- là giải thưởng lớn nhất thế giới về tính sáng tạo trong quảng cáo. Vì là
giải thưởng quảng cáo quốc tế danh giá bậc nhất trong ngành, đã có trên 22,500 hạng mục
tham dự được trình chiếu và đánh giá tại liên hoan này.
- “Quảng Cáo Hay Nhất” được trao bởi One Show. One Show là liên hoan phim
quảng cáo lớn nhất tại Mỹ tôn vinh những tác phẩm hay nhất trong năm.
Ngoài ra còn có nhiều giải thưởng về quảng cáo:
- “Quảng cáo được yêu thích nhất”.
- “Phim Quảng Cáo Doanh Nghiệp Hay Nhất”.
12
Tiểu luận: Luật Thương Mại
- “Quảng Cáo Thức Uống Hay Nhất”.
- “Quảng Cáo Lan Truyền Hay Nhất”.
- Giải cho “Phim Quảng Cáo trên Mạng Hay Nhất”.
- Giải quảng cáo sáng Tạo Trực Tuyến dành cho “Top Phim Quảng Cáo Truyền Hình của
năm”….
Cụ thể:
- Audi đoạt giải thưởng hay nhất ARF 2009.
- Johnie Walker với mẫu quảng cáo “The man who walked around the world”
giành được Huy Chương Vàng tại Liên Hoan Quảng Cáo Cannes; Quảng Cáo Hay Nhất
được trao bởi One Show; 3 giải thưởng tại Giải Thưởng Quảng Cáo Truyền Hình Anh ghi
nhân những đoạn phim quảng cáo truyền hình hay nhất cho những công ty quảng cáo của
Anh; Giải Vàng ANDY cho ‘Phim Quảng Cáo trên Mạng Hay Nhất”; Mẫu Quảng Cáo số
1 tại Sáng Tạo Trực Tuyến dành cho Top Phim Quảng Cáo Truyền Hình của 2009.
Ngoài những hình thức khen thưởng trong quảng cáo con có những biện pháp xử
phạt đối với các hành vi vi phạm những quy định của chính phủ về quảng cáo. Theo Điều
24, Điều 25, Điều 26, Điều 27 và Điều 28 NĐ 88/CP ngày 14-12-1995 của Chính phủ đã
quy định rõ về các hành vi vi phạm hành chính trong ling4 vực quảng cáo về việt, đặt bảng
hiệu, hình thức và mức phạt.
Điều 24 Vi phạm các quy định về thủ tục xin phép quảng cáo.
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 20.000 đồng đối với mỗi quảng cáo bằng áp phích, tờ
rời, tờ gấp không có giấy phép.
2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a. Quảng cáo băng-rôn không có giấy phép;
b. Nhận vẽ, trình bày bảng, biển quảng cáo mà khách hàng chưa được cấp giấy phép
quảng cáo;
3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a. Không ghi số giấy phép, thời hạn quảng cáo hoặc tên chủ dịch vụ quảng cáo trên
bảng, biển quảng cáo;
13
Tiểu luận: Luật Thương Mại
b. Quảng cáo sản phẩm, hàng hoá hoặc giới thiệu hoạt đông của cơ sở mà không có
giấy xác nhận, chứng nhận, đăng ký hoặc duyệt của cơ quan quản lý Nhà nước chuyên
ngành theo quy định.
4. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a. Quảng cáo dược liệu, dược phẩm, mỹ phẩm, dụng cụ y tế và những hoạt động y
tế mà chưa được cơ quan y tế có thẩm quyền duyệt;
b. Quảng cáo bằng bảng, biển quảng cáo quá thời hạn quy định trong giấy phép;
c. Quảng cáo trên xuất bản phẩm, trên các phương tiện giao thông mà không có giấy
phép.
5. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi chuyển nhượng giấy
phép kinh doanh dịch vụ quảng cáo, giấy phép thực hiện quảng cáo cho tổ chức, cá nhân
khác hoặc sử dụng giấy phép của tổ chức, cá nhân khác để kinh doanh dịch vụ quảng cáo,
thực hiện quảng cáo.
6. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a. Kinh doanh dịch vụ quảng cáo không có giấy phép;
b. Hoạt động dịch vụ hợp tác quảng cáo với cá nhân, tổ chức nước ngoài mà không
có hợp đồng hợp tác kinh doanh;
c. Quảng cáo không có giấy phép tại nơi hoạt động văn hoá nghệ thuật;
d. Treo, dựng, đặt bảng, biển quảng cáo không có giấy phép.
7. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài
kinh doanh dịch vụ quảng cáo ở Việt Nam hoặc thực hiện quảng cáo mà không ký kết hợp
đồng với người làm dịch vụ quảng cáo của Việt Nam .
8. Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khác đối với các hành vi vi phạm tại Điều này:
a. Tước quyền sử dụng giấy phép đối với trường hợp vi phạm quy định ở khoản 5;
b. Buộc tháo dỡ băng-rôn, áp-phich, tờ rời, tờ gấp hoặc bảng, biển quảng cáo đối
với trường hợp vi phạm quy định tại khoản 1; điểm a, khoản 2; các điểm b, c khoản 4;
điểm d khoản 6; khoản 7.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét