Luận văn tốt nghiệp
+ Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ nguyên hình
thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định mà quan trọng
hơn là duy trì thờng xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó
+ Bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị là phải duy trì sức mua của vốn cố
định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu t ban đầu bất kể sự biến
động của giá cả, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, ảnh hởng của tiến bộ khoa học
kỹ thuật
Tóm lại, vốn cố định là một bộ phận quan trọng, quyết định đến quy mô,
trình độ trang bị kỹ thuật của tài sản cố định trong doanh nghiệp. Việc bảo
toàn vốn cố định, thờng xuyên đổi mới tài sản cố định cho phù hợp với tình
hình thực tế nhằm đáp ứng những yêu cầu khắt khe của thị trờng là vấn đề
doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm nếu không muốn mình bị tụt hậu và thất
bại trong kinh doanh.
1.1.1 Hao mòn tài sản cố định
Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hởng của nhiều nguyên nhân khác
nhau, tài sản cố định của doanh nghiệp bị hao mòn dới 2 hình thức: hao mòn
hữu hình và hao mòn vô hình
Hao mòn hữu hình tài sản cố định là sự hao mòn về vật chất và giá trị của
tài sản cố định trong quá trình sử dụng. Về mặt vật chất đó là sự hao mòn có
thể nhận thấy đợc từ sự thay đổi trạng thái vật lý ban đầu ở các bộ phận, chi
tiết tài sản cố định dới sự tác động của ma sát, trọng tải, nhiệt độ sự giảm
sút về chất lợng, tính năng kỹ thuật ban đầu, và cuối cùng tài sản cố định
không còn sử dụng đợc nữa. Về mặt giá trị đó là sự giảm dần giá trị của tài sản
cố định cùng với quá trình chuyển dịch dần từng phần giá trị hao mòn vào giá
trị sản phẩm sản xuất ra. Đối với các tài sản cố định vô hình, hao mòn hữu
hình chỉ thể hiện ở sự hao mòn về giá trị
Hao mòn vô hình tài sản cố định là sự giảm thuần tuý về mặt giá trị của tài
sản cố định do sự tiến bộ của khoa học công nghệ hoặc do sự chấm dứt chu kỳ
sống của sản phẩm làm cho những tài sản cố định tạo ra những sản phẩm đó
bị mất giá. Hao mòn vô hình xảy ra đối với cả tài sản cố định hữu hình và tài
sản cố định vô hình
Nh vậy, trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn hữu hình và hao
mòn vô hình. Bộ phận giá trị hao mòn đó đợc chuyển dịch dần vào giá thành
sản phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định. Giá thành sản phẩm đợc biểu hiện
Lê Thị Khánh Phơng 5 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
dới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao. Sau khi sản phẩm sản xuất ra đợc
tiêu thụ số tiền khấu hao sẽ đợc tích luỹ lại hình thành quỹ khấu hao tài sản cố
định. Việc trích lập quỹ khấu hao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với doanh
nghiệp bởi nó là một trong những nguồn vốn cơ bản để tái sản xuất giản đơn
và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị
trờng hiện nay, máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ là một bộ phận tài
sản cố định quan trọng và là nhân tố trớc tiên, chủ yếu quyết định đến sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy vấn đề đổi mới máy móc thiết bị
công nghệ là một vấn đề hết sức cần thiết và rất đáng quan tâm.
1.2 Sự cần thiết phải đổi mới máy móc thiết bị công nghệ và các nhân tố
ảnh hởng tới quyết định đầu t đổi mới máy móc thiết bị công nghệ tại
doanh nghiệp.
1.2.1 Sự cần thiết phải đổi mới máy móc thiết bị công nghệ
1.2.1.1 Thực trạng máy móc thiết bị hiện nay
Bớc sang nền kinh tế thị trờng, buộc các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện
mình. Sự chuyển đổi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trờng cùng với xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực đang diễn ra
mạnh mẽ, cơ chế cấp phát, giao nộp không còn tồn tại buộc mỗi doanh nghiệp
phải chủ động, nhanh nhạy nhận biết tình hình, nắm bắt thời cơ và tự đứng
vững bằng chính đôi chân của mình. Sự mở cửa, giao lu, hội nhập kinh tế đã
mở ra cho các doanh nghiệp những cơ hội song cũng đặt ra không ít những
thách thức mà một trong số đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Để tồn tại
thì bản thân mỗi doanh nghiệp phải hoà mình vào thời cuộc và tự trang bị cho
mình những vũ khí cạnh tranh sắc bén. Khoa học công nghệ và trình độ
trang bị kỹ thuật là một trong những yếu tố tiên quyết, quan trọng. Tuy nhiên,
đối với hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay tình trạng máy móc thiết
bị công nghệ thể hiện rõ sự quá cũ kỹ, lạc hậu:
+ Trang thiết bị hầu hết đã cũ nát, chắp vá không thể sản xuất đợc những sản
phẩm yêu cầu độ chính xác cao, không thể đáp ứng đợc thị hiếu ngày càng
cao của thị trờng trong và ngoài nớc. Có đến 70% thiết bị máy móc thuộc thế
hệ những năm 60- 70, trong đó có hơn 60% đã hết khấu hao, gần 50% máy
móc cũ đợc tân trang lại để dùng, việc thay thế chỉ đơn lẻ từng bộ phận, chắp
vá thiếu đồng bộ. Tình trạng máy móc có tuổi thọ trung bình trên 20 năm
chiếm khoảng 38% và dới 5 năm chỉ chiếm có 27%.
Lê Thị Khánh Phơng 6 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
+ Trớc đây chúng ta đa số là nhập máy móc thiết bị từ nhiều nguồn khác
nhau: 25% từ Liên Xô, 21% từ các nớc Đông Âu, 20% từ các nớc ASEAN,
nên tính đồng bộ kém, khi sử dụng năng lực sản xuất chỉ đạt hơn 50% công
suất.
+ Do đầu t thiếu đồng bộ nên doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn về phụ
tùng thay thế, suất tiêu hao vật liệu, nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm còn
quá lớn, nhiều tiêu chuẩn định mức đã lỗi thời không còn phù hợp nhng cha
sửa đổi. Máy móc thiết bị cũ làm cho số giờ máy chết cao Những điều này
chính là nguyên nhân làm cho giá thành sản phẩm cao, chất lợng thấp và
không đủ sức cạnh tranh cả trong thị trờng nội địa.
Xuất phát từ thực trạng máy móc thiết bị trên đòi hỏi tất yếu các doanh
nghiệp phải đổi mới máy móc thiết bị mới có thể đáp ứng đợc nhu cầu thị tr-
ờng, chiến thắng trong cạnh tranh.
1.2.1.2 Lợi thế của việc đổi mới máy móc thiết bị
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp luôn đặt mục tiêu lợi nhuận
lên hàng đầu và đó cũng là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Để đạt đợc lợi
nhuận tối đa thì trớc hết doanh nghiệp phải tự tìm đợc chỗ đứng cho mình bằng
chính con đờng là chiến thắng trong cạnh tranh. Với điều kiện hiện nay khi mà
khoa học công nghệ phát triển nh vũ bão thì chiến thắng nằm trong tay ngời
nắm vững khoa học kỹ thuật công nghệ và biết vận dụng nó có hiệu quả cho
mục đích của mình. Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay, đâu đâu cũng kêu
gọi đổi mới. Đây chính là dấu hiệu cho thấy các doanh nghiệp đã nhận thức đ-
ợc tầm quan trọng của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình mà cụ thể là việc đa máy móc thiết bị
công nghệ hiện đại vào sản xuất.
Có thể thấy rằng đổi mới máy móc thiết bị cũng đồng nghĩa với việc tăng
năng lực sản xuất của doanh nghiệp cả về số lợng và chất lợng. Với một dàn
máy móc thiết bị hiện đại đồng bộ, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm đợc chi phí
nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm, ít tiêu hao nhiên liệu hơn và lợng
phế phẩm cũng ít đi. Các khoản chi phí sửa chữa, bảo dỡng máy móc thiết bị
giảm đồng thời cũng giảm bớt lao động thủ công làm cho chi phí nhân công
giảm. Từ đó góp phần làm cho chi phí sản xuất giảm xuống, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp có khả năng hạ giá bán, mở rộng đợc thị phần ra nhiều tầng lớp
dân c khác nhau.
Lê Thị Khánh Phơng 7 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
Bên cạnh việc tiết kiệm đợc chi phí, với máy móc thiết bị hiện đại sẽ làm
cho năng suất tăng lên cùng với đó là chất lợng sản phẩm sản xuất ra cũng
tăng lên, có khả năng đáp ứng đợc những đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị
trờng cả về chất lợng sản phẩm cũng nh mẫu mã, chủng loại. Việc nâng cao
chất lợng sản phẩm kết hợp với hạ giá bán sẽ làm tăng sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trờng, điều này càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh nền
kinh tế Việt Nam đang có những thay đổi theo chiều hớng hội nhập, nhất là
khi chúng ta đang thực thi tiến trình hội nhập AFTA và phấn đấu đến cuối năm
2005 chúng ta sẽ gia nhập vào tổ chức thơng mại thế giới WTO. Tóm lại muốn
đạt đợc mục tiêu lợi nhuận, nâng cao vịi thế của mình, mỗi doanh nghiệp cần
phải tăng năng lực sản xuất, nâng cao chất lợng sản phẩm , tăng khả năng cạnh
tranh. Điều đó cũng đồng nghĩa với sự cần thiết phải đầu t đổi mới máy móc
thiết bị công nghệ đối với mỗi doanh nghiệp.
1.2.2. Các yêu cầu cơ bản khi tiến hành đầu t đổi mới thiết bị công nghệ
tại các doanh nghiệp hiện nay.
Đổi mới thiết bị công nghệ là điều rất cần thiết với mỗi doanh nghiệp,
song làm thế nào để việc đổi mới thật sự có hiệu quả và phù hợp với tình hình
thực tế và khả năng của doanh nghiệp lại hoàn toàn không đơn giản, nó phải
đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Đổi mới phải bắt kịp tiến bộ khoa học công nghệ: Mục đích của việc
đổi mới thiết bị công nghệ trong doanh nghiệp là thay thế, khắc phục những
tồn tại, hạn chế của công nghệ cũ bằng những công nghệ mới tiên tiến hơn, u
việt hơn, có khả năng tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trờng.
Chính vì thế, khi thực hiện hoạt động đầu t đổi mới doanh nghiệp cần tiến
hành điều tra, nghiên cứu kỹ tính năng kỹ thuật cũng nh mức độ tối tân của
công nghệ sắp đầu t. Việc điều tra, nghiên cứu này sẽ giúp doanh nghiệp tránh
đợc việc đầu t vào những công nghệ lạc hậu, làm giảm sút hiệu quả của hoạt
động đầu t.
+ Đổi mới phải đồng bộ, có trọng điểm: Tính đồng bộ trong đổi mới là
rất quan trọng bởi một số sản phẩm tạo ra nếu muốn đợc thị trờng chấp nhận
thì cần phải đáp ứng đợc nhiều mặt nh: chất lợng, kiểu dáng, mẫu mã nếu chỉ
đổi mới một cách khập khiễng, không đợc tiến hành một cách đồng bộ,
chẳng hạn chỉ thay đổi chất lợng sản phẩm mà không thay đổi kiểu dáng, mẫu
mã thì ngời tiêu dùng sẽ khó nhận ra những u điểm mới của sản phẩm. Từ đó
Lê Thị Khánh Phơng 8 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
sẽ làm giảm hiệu quả của công tác đổi mới máy móc thiết bị. Tuy nhiên, để
đổi mới đồng bộ đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lợng vốn lớn, đây là một
trở ngại lớn đối với nhiều doanh nghiệp. Do đó, nếu thiếu vốn để đầu t, thì
doanh nghiệp nên thực hiện giải pháp tình thế là đổi mới có trọng điểm. Tính
trọng điểm của hoạt động đầu t thể hiện ở chỗ: Doanh nghiệp chỉ đổi mới với
những công nghệ chủ chốt mang tính sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tránh việc đầu t dàn trải, lan tràn trong khi doanh
nghiệp đang thiếu vốn.
+ Đổi mới phải đón trớc đợc yêu cầu và thi hiếu của thị trờng: Những
đòi hỏi của thị trờng về một loại sản phẩm nào đó có thể thay đổi rất nhanh.
Nếu doanh nghiệp không điều tra, nghiên cứu kỹ trớc khi thực hiên hoạt động
đầu t đổi mới chắc chắn sẽ làm giảm hiệu quả của hoạt động đầu t thậm chí
công tác đổi mới sẽ hoàn toàn vô nghĩa.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hởng đến quyết định đầu t đổi mới.
Việc đầu t đổi mới máy móc thiết bị là đòi hỏi khách quan nhng nếu xét
trên giác độ quản lý tài chính thì hoạt động đầu t này chính là các quyết định
đầu t dài hạn, đầu t không chỉ cho hiện tại mà phải đón đầu đợc những tiến bộ
khoa học kỹ thuật trong tơng lai và cần có một nguồn vốn lớn. Vì vậy, để đi
đến một quyết định đầu t đòi hỏi doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lỡng hàng
loạt các vấn đề chi phối trực tiếp đến quyết định đầu t của doanh nghiệp.
Một là: Tính hiệu quả của dự án đầu t: Hoạt động đầu t dài hạn luôn
chứa đựng trong nó rất nhiều rủi ro. Trớc khi quyết định nên hay không nên
thực hiện một d án đầu t dài hạn thì mỗi doanh nghiệp phải xác định đợc độ
chắc chắn của dự án đầu t, phải dự toán đợc sự biến động trong tơng lai về chi
phí đầu t bỏ ra, thu nhập nhận đợc từ dự án đầu t, lãi tiền vay và thuế, khả năng
tiêu thụ sản phẩm để thấy đ ợc tính khả thi của dự án. Vì vậy, phân tích tính
khả thi của dự án đầu t là công việc phải đợc tiến hành rất kỹ lỡng, tỷ mỉ, khoa
học trớc khi thực hiện dự án đầu t.
Hai là: Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ
luôn luôn thay đổi, nó có thể là thời cơ đối với những doanh nghiệp biết đón tr-
ớc và nắm lấy nó nhng nó cũng có thể là nguy cơ đe dọa đối với các doanh
nghiệp nếu sự tính toán, dự báo của doanh nghiệp thiếu chính xác. Các doanh
nghiểp trớc khi thực hiện dự án đầu t cần phải tính đến những tiến bộ trong t-
ơng lai của khoa học công nghệ đối với những thiết bị mình sẽ đầu t, từ đó có
Lê Thị Khánh Phơng 9 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
thể xác định chính xác trọng tâm cũng nh cách thức đầu t đổi mới trang thiết
bị. Trong đầu t đôi khi đòi hỏi doanh nghiệp phải dám chấp nhận sự mạo hiểm
để có thể tung ra thị trờng những sản phẩm mới có hàm lợng công nghệ cao
bằng cách tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học công nghệ để đổi mới
trang thiết bị. Tuy nhiên sự mạo hiểm này phải đợc cân nhắc kỹ lỡng và có
nhiều khả năng thành công.
Ba là: Thị trờng và sự cạnh tranh: Một dự án đầu t chỉ có thể đợc chấp
nhận khi nó có khả năng tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, có
khả năng sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng đợc những đòi hỏi ngày càng
phong phú và khắt khe của thị trờng. Vì vậy, khi đa ra một quyết định đầu t đòi
hỏi doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình hiện tại của bản thân doanh
nghiệp, tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng nh dự đoán diễn biến
tình hình thị trờng trong tơng lai để lựa chọn phơng thức đầu t thích hợp.
Bốn là: Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Doanh nghiệp không thể
tiến hành các dự án đầu t khi nó nằm ngoài khả năng tài chính của mình. Hoạt
động đầu t đổi mới máy móc thiết bị luôn mang tính hai mặt. Một mặt, nó đem
lại diện mạo mới, tạo ta lợi thế trong cạnh tranh và uy tín cho doanh nghiệp.
Mặt khác, đó là hoạt động đầu t cho tơng lai, luôn chứa đựng những rủi ro và
mạo hiểm. Một cơ cấu tài chính vững chắc sẽ là điều kiện tiên quyết đến sự tồn
tại của doanh nghiệp. Chính vì vậy công tác đầu t đổi mới máy móc thiết bị
phải quan tâm tới tình hình tài chính tại thời điểm đầu t, trong quá trình đầu t,
hiệu quả của hoạt động đầu t. Có nh vậy doanh nghiệp mới tránh đợc những cú
sốc về tài chính do hâu quả của hoạt động đầu t sai lầm gây ra.
Nhu cầu về vốn cho hoạt động đầu t là rất lớn, nó phát sinh liên tục.
Tình trạng chung tại các doanh nghiệp hiện nay là nguồn vốn tự có rất hạn hẹp
và thờng không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng. Vì vậy, để có đủ vốn thực hiện
hoạt động đầu t thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn từ các nguồn khác là
không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, khi huy động các nguồn vốn doanh nghiệp
cần lu ý một số vấn đề sau:
* Việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn là cần thiết nhng phải
đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc tài chính nha: Không huy động vốn ngắn
hạn để đầu t dài hạn, lợng vốn vay vợt quá xa so với lợng vốn tự có dẫn tới hệ
số nợ lên cao và có thể mất khả năng thanh toán.
Lê Thị Khánh Phơng 10 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
* Chi phí sử dụng vốn: Doanh nghiệp khi huy động vốn cần so sánh
giữa chi phí sử dụng vốn và kết quả thu đợc từ việc sử dụng vốn vay đó. Mặt
khác, thời gian vay phải phù hợp với thời gian khấu hao, với chu kỳ luân
chuyển của TSCĐ đợc hình thành từ vốn vay.
Ngoài ra còn có một số nhân tố khác cũng ảnh hởng tới quyết định đầu
t đổi mới máy móc, thiết bị tại doanh nghiệp nh: các chính sách phát triển kinh
tế xã hội của Nhà nớc, tính rủi ro của hoạt động đầu t .
Nh vậy, để việc huy động vốn đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ
đúng hớng, mang lại hiệu quả kinh tế cao thì trớc khi thực hiện các dự án đầu
t doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các vấn đề đã đựơc đề cập ở trên. Đó chính
là cơ sở quan trọng để đa ra những quyết định đầu t đúng hớng đảm bảo sự
thành công của hoạt động đầu t.
1.3 Các nguồn tài trợ cho việc đầu t đổi mới máy móc thiết bị trong các
doanh nghiệp hiện nay
Một nền kinh tế phát triển ổn định và mạnh mẽ luôn đồng hành với nó là
sự phát triển ổn định và hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế. Tuy nhiên, thực trạng kinh tế Việt Nam những năm vừa
qua cho thấy các doanh nghiệp luôn trong tình trạng đói vốn đặc biệt là các
doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chiếm đại bộ phận các doanh nghiệp Việt
Nam. Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng trên?
Trớc hết có thể thấy các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ khó có điều
kiện để tiếp cận với nguồn tín dụng ngân hàng với chi phí thấp bởi do có quy
mô nhỏ nên khi cần vay vốn lại thiếu tài sản đảm bảo. Mà theo nghị định
178/1999/NĐ- CP quy định đối với khách hàng vay không có đảm bảo bằng
tài sản thì ngoài có phơng án khả thi còn phải có kết quả kinh doanh lãi trong 2
năm liền kề với thời điểm xem xét cho vay. Quy định nh vậy rất khó khăn cho
các doanh nghiệp bởi sự biến động thị trờng- giá car có thể tạo cho doanh
nghiệp lỗ tạm thời.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã vậy, các doanh nghiệp Nhà nớc cũng th-
ờng gặp khó khăn về vốn do nguồn vốn ngân sách Nhà nớc cấp còn rất hạn hẹp
so với nhu cầu đầu t của doanh nghiệp. Mặc dù những năm qua thu ngân sách
Nhà nớc không ngừng tăng nhng kéo theo đó là các khoản chi ngân sách Nhà
nớc cũng tăng, thậm chi còn rơi vào tình trạng bội chi ngân sách Nhà nớc.
Lê Thị Khánh Phơng 11 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
Chính vì vậy mà khi có nhu cầu vốn cho đổi mới tài sản thì các doanh nghiệp
Nhà nớc cũng gặp không ít khó khăn.
Ngoài ra thực tế cũng cho thấy tuy đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng nhng cơ chế quản lý kinh tế cũ còn
ảnh hởng khá lớn đến các doanh nghiệp, một số doanh nghiệp đặc biệt là các
doanh nghiệp Nhà nớc còn có sức ỳ khá lớn, còn có tâm lý ỷ lại vào Nhà nớc,
thiếu sự tìm tòi sáng tạo trong công tác quản lý và điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp còn rụt rè, không dám mạo hiểm, chấp
nhận đơng đầu với rủi ro để huy động vốn từ bên ngoài.
Ngoài ra còn có nhiều lý do khác dẫn tới hiện tợng thiếu vốn tại các doanh
nghiệp nh cơ chế vay vốn tín dụng còn khá cứng nhắc, nguyên tắc, thị trờng
vốn (thị trờng tập trung) tại Việt Nam còn cha phát triển hoàn thiện nên cha
phát huy đợc tối đa vai trò là trung gian tài chính của nền kinh tế
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhu cầu vốn cho đổi mới máy móc
thiết bị công nghệ đợc đặt ra nh một yêu cầu cấp bách trớc sức ép của thị tr-
ờng, cạnh tranh Để thuận tiện cho việc huy động quản lý và sử dụng vốn, các
nguồn có thể tài trợ cho viêc đầu t đổi mới máy móc thiết bị công nghệ của
doanh nghiệp có thể đợc chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên
ngoài.
1.3.1 Nguồn vốn bên trong
1.3.1.1 Quỹ khấu hao cơ bản
Quỹ khấu hao đợc hình thành trên cơ sở số tiền trích khấu hao tài sản cố
định đợc tích luỹ lại. Quỹ khấu hao lớn dần lên cùng với sự giảm dần về mặt
giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định trong quá trình hoạt động. Mục
đích nguyên thuỷ của việc trích lập quỹ khấu hao là nhằm tái sản xuất giản
đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định. Trớc đây số tiền khấu hao đợc giữ
lại tại các doanh nghiệp Nhà nớc rất nhỏ bé bởi doanh nghiệp Nhà nớc không
có quyền sử dụng số tiền khấu hao tài sản cố định có nguồn gốc từ ngân sách
Nhà nớc. Tuy nhiên, gần 10 năm trở lại đây, Nhà nớc đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc đầu t đổi mới máy móc thiết bị cho các doanh nghiệp Nhà nớc
bằng cách giao toàn bộ số tiền khấu hao cho doanh nghiệp. Đây là một thay
đổi hoàn toàn phù hợp đặc biệt trong điều kiện hiện nay việc đổi mới máy móc
thiết bị có thể coi là một trong những giải pháp quan trọng để các doanh
nghiệp có thể đứng vững và khẳng định vị thế của mình trên thị trờng.
Lê Thị Khánh Phơng 12 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
1.3.1.2 Lợi nhuận để lại để tái đầu t
Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp
đã bỏ ra trong một thời kỳ nhất định. Sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế,
chuyển lỗ theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh
nghiệp tự quyết định việc trích lập các quỹ theo mục đích của mình. Riêng đối
với doanh nghiệp Nhà nớc theo quy định tại điểm 8 Điều 17 Luật Doanh
nghiệp Nhà nớc năm 2003, sau khi trích lập quỹ dự phòng tài chính, phần lợi
nhuận phân chia theo nguồn vốn Nhà nớc đầu t đợc dùng để tái đầu t. Nh vậy
cố thể thấy nguồn lợi nhuận để lại tái đầu t đổi mới máy móc thiết bị công
nghệ của doanh nghiệp là một nguồn vốn quan trọng và doanh nghiệp có thể
chủ động huy động từ việc trích lập quỹ đầu t phát triển cho phù hợp với nhu
cầu vốn nói chung và yêu cầu đổi mới tài sản cố định nói riêng.
1.3.1.3 Nguồn vốn từ thanh lý nhợng bán Tài sản cố định
Đây là nguồn vốn mang tính chất tạm thời song ở một số doanh nghiệp, số tài
sản cố định không cần dùng, tài sản cố định h hỏng chờ thanh lý chiếm tỷ
trọng không nhỏ vì vậy việc thanh lý nhợng bán tài sản cố định không những
sẽ giảm bớt chi phí bảo quản, sửa chữa mà còn giải phóng đợc phần vốn ứ
đọng trong các tài sản đó, góp phần bổ sung thêm vốn cho đổi mới thiết bị
công nghệ của doanh nghiệp.
Tài trợ co nhu cầu đổi mới máy móc thiết bị bằng nguồn vốn bên trong luôn
đợc doanh nghiệp đặc biệt u tiên hàng đầu. Bởi đây là nguồn vốn thuộc sở hữu
Nhà nớc, doanh nghiệp có toàn quyền quyết định trong việc sử dụng nên sử
dụng nguồn vốn này khá linh hoạt và không phải chịu sức ép nh khi sử dụng
nguồn vốn vay.
1.3.2 Nguồn vốn bên ngoài
1.3.2.1 Phát hành trái phiếu
Đây là hình thức huy động vốn khá đặc trng và đem lại hiệu quả huy động
vốn cao ở những quốc gia có thị trờng vốn phát triển. Việc sử dụng trái phiếu
để tài trợ dài hạn cho nhu cầu đầu t sẽ tạo ra sự linh hoạt hơn cho doanh nghiệp
bởi doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động đầu t mà không phải tuân thủ
một loạt các quy chế tín dụng nh sử dụng vốn vay ngân hàng. Phát hành trái
phiếu có thể huy động đợc vốn đầu t cho doanh nghiệp trong một khoảng thời
gian ngắn mà quyền kiểm soát và lãnh đạo doanh nghiệp không bị xáo trộn và
Lê Thị Khánh Phơng 13 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
nguồn này lại có chi phí thấp do đợc tính trừ khi tính thuế thu nhập doanh
nghiệp.
1.3.2.2 Phát hành cổ phiếu
Mặc dù phát hành cổ phiếu còn là một hình thức huy động vốn khá mới mẻ
đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhng đây là một hớng đi rất có triển vọng
bởi ở nớc ta thị trờng chứng khoán đã đi vào hoạt động cùng với nó là chính
sách khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá của Chính phủ.
Việc phát hành cổ phiếu sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và
quyền kiểm soát doanh nghiệp có thể bị chia sẻ tuy nhiên nó lại giúp doanh
nghiệp không phải đơng đầu với gánh nặng nợ nần.
1.3.2.3 Vay dài hạn ngân hàng
Đây là một hình thức huy động vốn khá phổ biến hiện nay. Nếu thực hiện
theo phơng thức huy động vốn này doanh nghiệp phải trả vốn gốc và lãi vay
sau một thời gian nhất định. Đây là một nguồn vốn có chi phí thấp song doanh
nghiệp để tiếp cận đợc nguồn vốn này thì cần phải có tài sản cầm cố, thế chấp.
Ngoài ra nó còn làm cho hệ số nợ của doanh nghiệp tăng cao khiến doanh
nghiệp luôn có nguy cơ gặp rủi ro về mặt tài chính. Tuy nhiên để tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp có thể đầu t đổi thiết bị công nghệ, hiện nay các ngân
hàng đang có chủ trơng nới lỏng hơn nữa các điều kiện tín dụng. Vì thế đây đ-
ợc coi là một nguồn tài trợ rất quan trọng cho đổi mới trong điều kiện doanh
nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
1.3.2.4 Vay cán bộ công nhân viên
So với vay ngân hàng thì vay vốn từ cán bộ công nhân viên có hạn chế là
số vốn vay thờng không lớn nhng lại có thể vay trong một thời gian dài, không
cần phải thế chấp tài sản đồng thời sẽ tạo ra sự gắn bó mật thiết giữa cán bộ
công nhân viên và doanh nghiệp, thúc đẩy họ tích cực hơn trong lao động và
có ý thức hơn trong việc bảo quản, giữ gìn tài sản.
1.3.2.5 Vốn liên doanh liên kết
Sự cạnh tranh gay gắt buộc các doanh nghiệp thay vì tìm cách loại bỏ lẫn
nhau thì liên doanh liên kết, sáp nhập lại để cùng nhau phát triển đợc coi là
một xu thế có nhiều triển vọng. Việc chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác
cùng phát triển đã đem lại nhiều lợi thế. Khi tiến hành liên doanh liên kết,
doanh nghiệp vừa có thể huy động đợc một lợng vốn chủ sở hữu đủ lớn đáp
ứng cho nhu cầu đầu t phát triển, lại vừa có thể nâng cao trình độ quản lý và sử
Lê Thị Khánh Phơng 14 Lớp K39 11.06
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét