Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Nghiên cứu khả thi dự án thành lập nhà máy đại tu và nâng cấp tự động hóa máy may công nghiệp - Chương 1

1.4.3 Thời gian thực hiện dự án
Thời gian thực hiện dự án được dự kiến là 8 năm ( dựa theo: thời gian khấu hao
máy móc dự kiến 8 năm) và thời điểm bắt đầu là năm 2005

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu được thể hiện trong ( hình 1.1 )
- Nhu cầu thị trường được xác định thông qua việc thống kê-dự báo và khảo sát
trực tiếp bằng bảng câu hỏi, đặc trưng cho nhu cầu thị trường là ‘Đường cầu’
- Từ việc thiết kế qui trình sản xuất có thể xác định được mối quan hệ giữa chi phí
và sản lượng, được biểu diễn bằng ‘Trường giá trị đóng góp’ ( GTĐG )
- Kết hợp đồ thị ‘Đường cầu’ và ‘Trường giá trị đóng góp’có thể xác định ‘Qui
mô sản xuất tối ưu’, từ đó xác định ‘Lượng bán tối ưu’ và ‘Giá bán tối ưu ‘
- Từ các số liệu: dự báo nhu cầu, doanh thu, các chi phí tiến hành phân tích tài
chính, phân tích kinh tế dự án

 Qui trình nghiên cứu












Khảo sát nhu cầu
tiềm năng
Khảo sát bằng
questionairs
Ch-III: NHU CẦU THỊ
TRƯỜNG
Thống kê các chi tiết
cần thay thế
Nhận chuyển giao
công nghệ Tự động
hóa
Xây dựng qui trình
công nghệ
Ch-IV: THIẾT KẾ QUI
TRÌNH SX
Đường cầu
Trường
GTĐG

















Hình 1.1: Qui trình nghiên cứu

Chương II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO NHU CẦU
2.1.1 Phương pháp hồi qui [ 8 ]
Phương pháp hồi qui đa biến là một kỹ thuật nghiên cứu được sử dụng phổ biến
trong kinh tế lượng nhằm xây dựng mối quan hệ tuyến tính giữa các yếu tố kinh tế.
Phương pháp này cho phép xác định sự thay đổi của biến cần nghiên cứu (biến

Ch-V: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

Ch-V: PHÂN TÍCH KINH TẾ
Sản lượng bán Gía bán
Các chi phí Doanh thu Dự báo nhu cầu

Ch-VI: KẾT LUẬN VÀ NHẬN XÉT
Qui mô sản
xuất tối ưu
phụ thuộc) dựa vào sự thay đổi của một hoặc nhiều biến nguyên nhân (biến độc
lập). Các biến trong mô hình hồi qui được thu thập theo thời gian.
Mô hình toán
Yt = A
0
+ AiXt + 
t
( 2.1 )
Trong đó : Yt : biến phụ thuộc
Xt : biến độc lập
A
0
: tung độ gốc
Ai : hệ số độ dốc

t
: sai số ngẫu nhiên.
Việc ước lượng các hệ số A
0
, Ai trong phương trình hồi qui theo phương pháp
bình phương tối thiểu dựa trên cơ sở các dữ liệu thống kê trong quá khứ. Mức độ
chính xác của phương pháp này thể hiện ở tổng bình phương độ lệch giữa giá trị lý
thuyết hàm hồi quy và giá trị thực tế của chuỗi các tham số theo thời gian là nhỏ
nhất.
Mức độ thích hợp của mô hình được đánh giá dựa trên chỉ số R
2
, Khi R
2
càng tiến
tới 1 thì mô hình hồi qui càng thích hợp với các giá trị thực nghiệm.Việc kiểm
định mô hình dựa trên t
stat
, hoặc P-value, với n dữ liệu, bậc tự do là k, độ tin cậy (1
- ) thì mô hình phù hợp khi tstat

> tn
-k,/2
hoặc P-value < .
Xây dựng phương trình hồi quy và kiểm định được thực hiện bằng phần mềm
E.View
2.1.2 Phương pháp chuỗi thời gian [ 8 ]

Phương pháp dự báo dựa vào chuỗi thời gian của dữ liệu, dùng để biểu thị những
thay đổi của một đại lượng nghiên cứu theo thời gian qua việc phân tích và dự
đoán xu thế của biến số trong tương lai dựa trên những dữ liệu theo thời trong quá
khứ. Phương pháp này chỉ cho phép tiến hành các dự báo ngắn hạn. Mô hình chuỗi
thời gian được cấu thành từ ba yếu tố :
 Xu thế phát triển dài hạn của đại lượng nghiên cứu
 Những dao động có tính chu kỳ
 Yếu tố ngẫu nhiên.
Trong các phương pháp dự báo theo chuỗi thời gian, mô hình trung bình trượt kết
hợp tự hồi qui – ARIMA hay phương pháp Box –Jenkins được sử dụng phổ biến.
2.1.3 Phương pháp dự báo theo tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế vĩ

Căn cứ vào dữ liệu của năm gốc thường chọn là năm hiện tại và tỷ lệ tăng trưởng
dự báo. Kết quả dự báo là số liệu của năm gốc cộng với mức tăng trưởng đến năm
cần dự báo. Để dự báo tỷ lệ tăng trưởng người ta dựa vào kết quả thống kê trong
quá khứ, xu thế phát triển và ý kiến của các chuyên gia trong ngành về lĩnh vực
cần dự báo. Phương pháp này thường được sử dụng trong thực tế để dự báo ngắn
hạn và trung hạn, dễ ước lượng, tính toán. Khó xác định chính xác tỷ lệ tăng
trưởng khi số liệu trong quá khứ biến thiên nhiều.

2.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH [ 4 ]
Phân tích tài chính là đánh giá triển vọng tài chính, khả năng thành công và hiệu
quả của dự án dưới góc độ của các tổ chức, cá nhân tham gia vào dự án. Trong
phân tích tính khả thi của dự án người ta thường sử dụng ba nhóm phương pháp
phân tích là: giá trị tương đương, suất thu lợi và tỷ số lợi ích/chi phí. Trong luận
văn này chỉ sử dụng hai nhóm phương pháp phổ biến là giá trị tương đương và
suất thu lợi.

2.2.1 Các phương pháp phân tích tài chính
Nhóm phương pháp giá trị tương đương: Nhóm phương pháp giá trị tương đương
gồm ba phương pháp là:
 Giá trị hiện tại ròng (NPV – Net Present Value)
 Chuỗi giá trị đều hàng năm (AW – Annual Worth)
 Giá trị tương lai (FW – Future Worth).
Nội dung của nhóm phương pháp này là quy đổi toàn bộ dòng tiền tệ thu nhập và
dòng tiền tệ chi phí của dự án về một giá trị hiện tại, hoặc thành một chuỗi giá trị
đều hàng năm, hoặc một giá trị tương lai với mức chiết khấu được chọn. Trong
thực tế chiết khấu được chọn thường là suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được
MARR (Minimum Attractive Rate of Return). Dự án được xem là đáng giá khi
NPV, AW, FW  0.
Trong luận văn này phương pháp giá trị hiện tại ròng được sử dụng để phân tích
hiệu quả tài chính của dự án, phương pháp này được giới thiệu chi tiết dưới đây.

Phương pháp giá trị hiện tại ròng
Giá trị hiện tại ròng là hiệu số giữa giá trị hiện tại của dòng thu nhập và giá trị hiện
tại của dòng chi phí đã được chiết khấu với một lãi suất yêu cầu thích hợp. NPV
được tính theo công thức :






N
t
t
i
CtBt
NPV
0
)1(
( 2.2 )
Trong đó : B
t
: lợi ích ở năm thứ t
C
t
: chi phí ở năm thứ t
i : suất chiết khấu yêu cầu
t : thứ tự năm hoạt động của dự án
N : số năm hoạt động của dự án.
Đánh giá dự án theo NPV: dự án đáng giá khi NPV  0
So sánh nhiều dự án theo NPV: nếu có nhiều dự án loại trừ nhau thì dự án có NPV
dương lớn nhất sẽ được chọn.

2.2.2 Các quan điểm phân tích tài chính
Phân tích tài chính dự án được xây dựng theo những quan điểm khác nhau của các
tổ chức, cá nhân có liên quan đến dự án cho phép đánh giá dự án có hấp dẫn
những nhà đầu tư và những nhà tham gia thực hiện dự án hay không. Do đó luận
văn tập trung phân tích tài chính theo quan điểm tổng đầu tư (ngân hàng) và quan
điểm chủ đầu tư.
2.2.2.1 Phân tích theo quan điểm tổng đầu tư
Quan điểm tổng đầu tư còn gọi là quan điểm ngân hàng. Theo quan điểm này, dự
án được xem như một hoạt động có khả năng tạo ra những lợi ích tài chính và thu
hút những nguồn chi phí tài chính rõ ràng. Các nhà phân tích xem xét toàn bộ
dòng chi phí, lợi ích thu được trong đó có tính đến chi phí cơ hội của những thành
phần tài chính đóng góp vào dự án.
Phân tích theo quan điểm tổng đầu tư được trình bày như sau :
A = Lợi ích tài chính trực tiếp - Chi phí tài chính trực tiếp - Chi
phí cơ hội của tài sản hiện có đóng góp vào dự án. ( 2.3 )
Suất chiết khấu được sử dụng trong phân tích theo quan điểm tổng đầu tư là giá sử
dụng vốn trung bình WACC của dự án. Trong đó WACC là trung bình trọng của
giá sử dụng vốn của chủ đầu tư và lãi vay.

2.2.2.2 Phân tích theo quan điểm chủ đầu tư
Phân tích theo quan điểm chủ đầu tư hay quan điểm cổ đông, các nhà phân tích
xem xét dòng tài chính chi cho dự án và các lợi ích thu được, đi kèm với chi phí cơ
hội của vốn cổ đông góp vào dự án; coi vốn vay là khoản thu, trả vốn vay và lãi là
khoản chi.
B = A + Vốn vay - Trả lãi và nợ vay. ( 2.4 )
Suất chiết khấu được sử dụng theo quan điểm này là giá sử dụng vốn của chủ đầu
tư.

2.2.3 Phân tích rủi ro

Rủi ro là sự sai lệch giữa giá trị ước tính hay kế hoạch so với giá trị thực tế. Việc
phân tích rủi ro của dự án nhằm cung cấp thông tin về các khả năng có thể xảy ra
ảnh hưởng đến hiệu quả dự án. Nguồn gốc của rủi ro là do sai số dự báo của các
yếu tố nhập lượng và xuất lượng của dự án, sự không chắc chắn liên quan đến loại
hình đầu tư kinh doanh, tình hình kinh tế chính trị xã hội, sự thay đổi của công
nghệ và thiết bị. Do đó, các dự án đều có rủi ro nhất định tùy vào sự thay đổi của
môi trường và mức độ tin cạây của các thông tin dự báo. Phần này chúng tôi giới
thiệu ba phương pháp phân tích rủi ro đang được sử dụng phổ biến hiện nay là
phân tích độ nhạy, phân tích tình huống và phân tích rủi ro bằng mô phỏng.

2.2.3.1 Phân tích độ nhạy
Phân tích độ nhạy là phân tích những ảnh hưởng của sự thay đổi các yếu tố đầu
vào đến hiệu quả của dự án. Trước hết, ta chọn các tham số có khả năng ảnh
hưởng đến kết quả dự án, sau khi tiến hành phân tích xác định các tham số nhạy
cảm, là những tham số mà khi thay đổi sẽ tác động nhiều đến kết quả dự án.

2.2.3.2 Phân tích tình huống
Trên cơ sở phân tích độ nhạy, chúng ta xác định các tham số quan trọng ảnh
hưởng đến kết quả dự án. Phân tích tình huống nhằm giúp cho việc đánh giá tác
động đồng thời của nhiều tham số và sự tương tác của chúng lên kết quả cần
nghiên cứu. Sau đó chọn ra các tình huống tốt nhất, trung bình và xấu nhất có thể
xẩy ra đối với các tham số để phân tích hiệu quả dự án mà cụ thể là giá trị NPV và
IRR.

2.2.3.3 Phân tích rủi ro bằng mô phỏng
Trong phần này chúng tôi dùng phương pháp mô phỏng Monte Carlo để phân tích
rủi ro của dự án. Việc phân tích bằng mô phỏng cho phép nghiên cứu đồng thời
ảnh hưởng của các tham số liên quan đến kết quả dự án trên cơ sở phân phối xác
suất. Đầu tiên chúng ta phải xây dựng mô hình của dự án, sau đó xác định phân
phối xác suất cho cho tham số không chắc chắn tham gia trong mô hình dựa trên
các dữ liệu thu thập được trong quá khứ và cuối cùng là chọn số lần chạy mô
phỏng đủ lớn để kết quả đạt được độ tin cậy mong muốn. Kết quả mô phỏng cho
phép xác định xác suất thành công của dự án dựa trên các tiêu chuẩn đã chọn. Khi
chạy mô phỏng mô hình trên máy tính, máy sẽ thực hiện tạo chuỗi ngẫu nhiên cho
các tham số để xác định giá trị thử nghiệm của mô hình. Tiến trình trên sẽ được
thực hiện đến số lần thử mong muốn. Để thực hiện phân tích rủi ro bằng mô phỏng
chúng tôi sử dụng phần mềm @RISK ( Tài liệu tham khảo 9 )

2.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KINH TẾ [ 7 ]
Phân tích kinh tế là một nội dung quan trọng trong phân tích dự án. Phân tích kinh
tế có các tác dụng sau đây:
 Đối với nhà đầu tư: phần phân tích kinh tế là căn cứ chủ yếu để nhà đầu tư
thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án và thuyết phục ngân
hàng cho vay vốn.
 Đối với Nhà nước: phân tích kinh tế là căn cứ chủ yếu để quyết định có cấp giấy
phép đầu tư hay không
 Đối với các ngân hàng: phân tích kinh tế là cơ sở để ngân hàng quyết định có tài
trợ vốn hay không.
Giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế có những điểm khác biệt nhất
định. Xét về mặt quan điểm, giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế có những
khác biệt sau đây:
- Phân tích tài chính chỉ mới xét trên tầng vi mô còn phân tích kinh tế sẽ phải xét
trên tầng vĩ mô.
- Phân tích tài chính mới xét trên góc độ của chủ đầu tư còn phân tích kinh tế
phải xuất phát từ quyền lợi của cả quốc gia.
- Mục tiêu chính của nhà đầu tư là tối đa hoá lợi nhuận nhưng không đảm bảo
mang lại giá trị kinh tế cho quốc gia thậm chí còn có thể có hại.
Do đó mặc dù đã tiến hành phân tích tài chính rồi, dự án đôi lúc cần phải tiến
hành phân tích kinh tế, và như đã trình bày đây chính là căn cứ để Nhà nước cấp
giấy phép đầu tư và ngân hàng tài trợ cho dự án.
Như vậy khi phân tích kinh tế dự án, người phân tích phải đặt mình vào vị trí
của người thẩm định dự án để xem xét vấn đề.
Do có sự khác nhau về mặt quan điểm nên trong tính toán cũng có nhiều điểm
khác nhau giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế. Phân tích kinh tế không
tách rời khỏi phân tích tài chính mà giữa chúng có những mối liên hệ nhất định vì
các yếu tố đầu vào và đầu ra nói chung là giống nhau.

2.3.1 Phương pháp xác định tỷ lệ sinh lời kinh tế ERR (Economic Rate of
Return)
Đối với các dự án thay thế nhập khẩu, sự đóng góp của dự án vào nền kinh tế
chính là giá trị mà xã hội đáng lẽ phải trả cho sản phẩm của dự án thay vì phải
nhập khẩu. Khi tính toán, các khoản thu nhập, chi phí được đưa về hiện giá vì các
khoản này xảy ra ở các thời điểm khác nhau. Cách tính được dựa vào các kết quả
phân tính tài chính và tiến hành một số điều chỉnh cần thiết sau:
a. Doanh thu kinh tế:
Để tính doanh thu kinh tế, giá bán sản phẩm lấy theo giá CIF cảng Việt Nam
của sản phẩm cùng loại nhập khẩu cộng thêm các lệ phí phải trả cho các ngân
hàng.
b. Chi phí kinh tế
- Nguyên liệu: với nguyên liệu nhập khẩu tính theo giá CIF, nguyên liệu xuất
khẩu tính theo giá FOB và không tính các loại thuế trong các chi phí này.
- Nhân công trực tiếp: đối với nhân công có chuyên môn, chi phí vẫn để
nguyên, còn đối với nhân công không chuyên môn, chỉ tính bằng 50%.
- Nhiên liệu năng lượng: tính theo giá CIF trừ đi thuế, chi phí nước được giữ
nguyên.
- Chi phí bao bì: chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, không điều chỉnh.
- Nhân công gián tiếp: được xem như có chuyên môn nên để nguyên.
- Các chi phí khác như: thuê mướn nhà cửa, bảo hiểm xã hội, quản lý hành
chánh, chuyên chở, bốc xếp không phải điều chỉnh.
c. Chi phí đầu tư:
- Chi phí ban đầu: không điều chỉnh
- Chi phí về đất: nếu đất đang sử dụng thì giữ nguyên (như đất công nghiệp,
nông nghiệp,…) còn nếu là đất hoang thì lấy giá trị bằng 0.
- Chi phí xây dựng cơ bản. Nếu chi phí này lớn thì chia thành hai phần để
điều chỉnh. Vật liệu, xe máy lấy theo giá mua, thuê trừ các khoản thuế. Nhân
công được điều chỉnh như trên.
- Chi phí máy móc thiết bị: đối với máy móc thiết bị nhập khẩu lấy theo giá
CIF, các thiết bị nội địa lấy bằng giá mua trừ đi các khoản thuế.
- Chi phí lắp đặt thiết bị: không điều chỉnh vì chủ yếu là trả cho công nhân có
chuyên môn.
- Vốn lưu động: các khoản phải thu, khoản phải trả, các khoản dự trữ không
có giá trị kinh tế, không điều chỉnh.
Để tính thu chi, lời lỗ kinh tế, lập bảng sau:
Bảng 2-1 Tính lời kinh tế
Hạng mục Năm 1 Năm 2 Năm 3 … Năm
10
I. Doanh thu kinh tế
-
II. Chi phí sản xuất kinh tế

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét