• Đào tạo các cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp lớn trong tương lai và
tạo nền tảng kinh tế ban đầu cho sự phát triển của các doanh nghiệp lớn
• Cùng với các doanh nghiệp lớn tạo ra các mối liên kết hiệu quả trong
tổng thể các chuỗi giá trị và chuỗi giá trị toàn cầu.
Các vai trò kể trên có thể gộp thành hai nhóm chính-phát triển kinh tế và xã
hội. Các DNVVN luôn là kênh huy động quan trọng nguồn vốn của xã hội phục vụ
cho sản xuất, kinh doanh. Điều này có được nhờ đặc tính dễ hình thành của các
DNVVN. Đặc tính linh hoạt, dễ chuyển đổi và thay đổi định hướng kinh doanh đã
giúp các DNVVN cùng với các doanh nghiệp lớn tạo ra các mối liên kết hiệu quả
trong các chuỗi giá trị. Các DNVVN cũng đóng vai trò quan trọng trong các ngành
công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp lớn. Tạo công ăn việc làm và nâng cao thu
nhập cho người lao động là vai trò quan trọng của các DNVVN trong phát triển xã
hội.
Các DNVVN được đánh giá là bộ phận năng động của nền kinh tế. Hiện nay
mức độ đóng góp của các DNVVN vào nền kinh tế ngày càng gia tăng: khoảng 39%
GDP, 32% tổng vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế và sử dụng trên 90% số lao động
có việc làm thường xuyên.
Cơ cấu của DNVVN tính đến 30/6/2005:
Cơ cấu ngành nghề:
- Công nghiệp: 17%,
- Xây dựng: 14%
- Nông nghiệp: 14%,
- Dịch vụ: 55%.
Loại hình Doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp Nhà nước: 0,3%,
- Công ty cổ phần: 12,5%,
- Doanh nghiệp tư nhân: 31,8%,
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: 55,4%.
5
Theo kế hoạch, đến năm 2010 Việt nam sẽ có 500.000 doanh nghiệp (đa phần là
DNVVN đăng ký và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp). Vai trò của các DNVVN
trong nền kinh tế được tạo ra chủ yếu là do các đặc điểm của các doanh nghiệp này
(được đề cập chi tiết hơn ở phần sau). Tính dễ khởi sự đã tạo điều kiện cho việc
thành lập các DNVVN trở nên dễ dàng, do đó góp phần tích cực vào việc tạo việc
làm. Số lượng đông đảo các DNVVN đã tạo điều kiện cho việc thu hút nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư phục vụ cho mục đích kinh doanh và đầu tư. Với một môi
trường kinh doanh thuận lợi thì rào cản tham gia vào thị trường là tương đối thấp,
góp phần khuyến khích các cá nhân có tinh thần doanh nghiệp (entrepreneurship)
tham gia kinh doanh và thành lập doanh nghiệp. Việc luân chuyển hàng hoá, dịch vụ
và lao động của các DNVVN góp phần tích cực vào phát triển đồng đều giữa các
vùng. Cọ xát và tích luỹ kinh nghiệm trên thương trường góp phần đào tạo các cán bộ
quản lý cho các doanh nghiệp lớn cũng như tạo điều kiện cho các DNVVN hội nhập
hiệu quả hơn vào nền kinh tế thế giới. Tại nhiều quốc gia và nền kinh tế trên thế giới,
chiến lược phát triển DNVVN gắn liền với chiến lược phát triển doanh nghiệp của
toàn bộ nền kinh tế mà trong đó mục tiêu ban đầu là tạo mối liên kết với các doanh
nghiệp lớn trong các chuỗi giá trị và hệ thống công nghiệp phụ trợ. Tính linh hoạt và
năng động tạo điều kiện cho các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
1.1.3. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các DNVVN được phân loại thông qua qui mô, tuy nhiên bản thân điều này
cũng tạo nên các đặc điểm của DNVVN. Trong các điều kiện và các hoàn cảnh khác
nhau thì đây có thể là điểm mạnh hoặc điểm yếu của các doanh nghiệp này.
Thứ nhất phải kể đến tính dễ khởi sự. Luật Doanh nghiệp hiện nay áp dụng
đối với các ngành nghề kinh doanh không có điều kiện cũng không qui định mức vốn
pháp định bắt buộc khi khởi sự doanh nghiệp. Luật cũng không qui định số lượng lao
động tối thiểu khi cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp. Cùng với môi trường kinh
doanh đang được cải thiện thì số lượng các DNVVN đăng ký mới gia tăng nhanh
chóng. Trong một chừng mực nhất định, khi việc thực thi các qui định về phá sản và
6
giải thể doanh nghiệp chưa thuận lợi nên một số DNVVN thay vì rút lui khỏi thị
trường một cách chính thức thì chọn phương án đơn giản là ngừng hoạt động. Cũng
chính vì lý do đó nên việc thống kê số lượng các DNVVN đang hoạt động trên thị
trường gặp nhiều khó khăn và khó đưa ra con số chính xác.
Thứ hai là tính linh hoạt cao. Đây là đặc điểm gắn liền với các DNVVN. Do
qui mô không lớn nên đầu tư của các DNVVN vào các dây chuyền và máy móc công
nghệ không nhiều, chính vì lẽ đó nên sau một thời gian hoạt động nếu nhận thấy một
ngành, hay một mặt hàng kinh doanh nào đó không có lời thì lập tức các DNVVN sẽ
chuyển hướng sang các mặt hàng và dịch vụ hiệu quả hơn. Một số DNVVN sau một
thời gian khẳng định được uy tín và thương hiệu đã tiến hành các biện pháp tích luỹ
vốn và mở rộng qui mô để trở thành các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên nhiều chủ
DNVVN bằng lòng với qui mô của doanh nghiệp mình và thể hiện tính linh hoạt cao
để khẳng định vị trí trên thương trường. Nếu như các doanh nghiệp lớn chuyên kinh
doanh một số sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định thì khi gặp suy thoái hoặc các tác
động bất lợi từ bên ngoài thì sẽ rất khó xoay xở.
Thứ ba là tính linh hoạt trong cạnh tranh. Với xuất phát điểm là khả năng dễ
tham gia vào thị trường cũng như rút khỏi thị trường. Trong các chuỗi giá trị ngành
hàng thì các DNVVN có thể khá dễ dàng tìm cho mình phân khúc phù hợp trong hợp
tác với các doanh nghiệp lớn.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể kể đến hàng loạt các điểm yếu của các
DNVVN, mà khởi đầu là thiếu các nguồn lực phát triển, đặc biệt là các nguồn lực về
tài chính và con người. Đối với một số ngành hàng thì các DNVVN không tận dụng
được các lợi thế về qui mô. Còn một điểm nữa đó là sự hình thành và phát triển của
các DNVVN phụ thuộc nhiều vào chủ doanh nghiệp nên khó thu hút trí tuệ tập thể
trong các quyết định dài hạn và chiến lược của doanh nghiệp. Điều này thể hiện qua
cách thức đưa ra các quyết định quan trọng mang tính chiến lược của doanh nghiệp.
Tại các doanh nghiệp lớn các quyết định mang tính chiến lược được thực hiện theo
qui trình và có hệ thống, tuy nhiên tại các DNVVN thì các quyết định này trong nhiều
trường hợp mang nặng ý kiến chủ quan của chủ doanh nghiệp.
7
1.2. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.2.1. Khái niệm và quá trình hình thành dịch vụ ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng là một loại hình cơ bản trong số các loại hình dịch vụ tài
chính, đây cũng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng về chủng loại và
phong phú về hình thức. Dịch vụ ngân hàng đã xuất hiện cách đây hơn 2000 năm,
hầu hết các ngân hàng đầu tiên xuất hiện tại vùng Địa Trung Hải, cụ thể là tại Hy Lạp
và La Mã, với dịch vụ đầu tiên là dịch vụ đổi tiền, đổi ngoại tệ lấy bản tệ và dịch vụ
chiết khấu thương phiếu giúp các nhà buôn có vốn. Sự phát triển của những con
đường thương mại xuyên lục địa mới và những biến chuyển trong ngành hàng hải
vào các thế kỷ 15, 16, 17 đã dần chuyển trung tâm thương mại của thế giới từ Địa
Trung Hải sang châu Âu và quần đảo Anh, nơi ngân hàng trở thành ngành công
nghiệp hàng đầu. Sự phát triển của cách mạng công nghiệp, việc ứng dụng phương
thức sản xuất lớn đòi hỏi một sự mở rộng tương ứng trong thương mại toàn cầu để
tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, đồng thời, đòi hỏi phải phát triển các phương
thức thanh toán và tín dụng mới. Vì vậy, hệ thống ngân hàng đã nhanh chóng phát
triển thêm nhiều loại hình dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu về thanh toán và tín dụng.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, các dịch vụ ngân hàng (DVNH) ngày
càng phát triển đa dạng. Bên cạnh các dịch vụ ngân hàng truyền thống, đã xuất hiện
nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại như: tư vấn tài chính, thuê mua tài chính
Dịch vụ ngân hàng đã và đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển
đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm tăng giá trị của sản
phẩm phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần thiết yếu trong việc nâng cao
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới.
Ở nước ta, cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, một hệ
thống thị trường dịch vụ ngân hàng đồng bộ đang dần được hình thành nhằm đáp ứng
nhu cầu sử dụng các dịch vụ này ngày càng tăng của các chủ thể trong nền kinh tế.
8
Về khái niệm dịch vụ ngân hàng, ở nước ta cho đến nay vẫn chưa có sự phân
biệt rõ ràng về khái niệm này. Có quan niệm cho rằng, theo nghĩa rộng DVNH là cả
các dịch vụ mà hệ thống ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế.
Trong Luật Các Tổ chức tín dụng năm 1997, cụm từ “dịch vụ ngân hàng”
cũng đã được đề cập tới tại khoản 1 và khoản 7 điều 20, nhưng không có định nghĩa
và giải thích làm rõ. Theo đó tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo
quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh
tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp
tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngay cả trong Luật Các Tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004, cụm từ “dịch vụ
ngân hàng” cũng có được đề cập tới nhưng vẫn không có định nghĩa và giải thích làm
rõ hơn. Như vậy, có thể thấy theo Luật các Tổ chức tín dụng thì toàn bộ “hoạt động
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao hàm cả ba nội dung: nhận tiền
gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo cách định nghĩa của WTO
đưa ra thì “một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được
một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp”. Dịch vụ tài chính bao gồm: dịch vụ
bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài
chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). Điều đó có nghĩa là DVNH là một bộ phận cấu
thành dịch vụ tài chính và trong bảng phân ngành dịch vụ của WTO, DVNH được
chia thành 12 phân ngành cụ thể sau:
(l) Nhận tiền gửi và các khoản tiền từ công chúng;
(2) Cho vay dưới mọi hình thức bao gồm: cho vay tiêu dùng, thế chấp, bao thanh toán
và các khoản tài trợ cho các giao dịch thương mại khác;
(3) Cho thuê tài chính;
(4) Tất cả các khoản thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ
thanh toán, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng
9
(5) Bảo lãnh và cam kết thanh toán
(6) Tự doanh hoặc kinh doanh tiền tài khoản của khách hàng, kể cả trên thị trường tập
trung, thị trường OTC hoặc các thị trường khác, với các sản phẩm sau:
- Các công cụ thị trường tiền tệ, bao gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi
- Ngoại hối
- Các công cụ phái sinh bao gồm (nhưng không hạn chê) các hợp đồng giao dịch
tương lai (futures) và quyền chọn (options)
- Các sản phẩm dựa trên lãi suất và tỷ giá, bao gồm các sản phẩm như các hợp đồng
kỳ hạn (forward) và hoán đổi (swaps)
- Các chứng khoán có khả năng chuyển nhượng
- Các công cụ chuyển nhượng và các tài sản tài chính khác, kể cả vàng nén
(7) Phát hành các loại chứng khoán, bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành và đại lý
phát hành (cả phát hành công khai và không công khai) và cung ứng các dịch vụ liên
quan đến hoạt động phát hành;
(8) Môi giới tiền tệ;
(9) Quản lý tài sản gồm quản lý tiền mặt, quản lý danh mục, tất cả các hình thức quản
lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ uỷ thác, lưu ký và tín thác;
(10) Dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ đối với các tài sản tài chính, bao gồm
chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ có thể chuyển nhượng khác
(11) Cung cấp và trao đổi các thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần
mềm có liên quan của các nhà cung ứng của các dịch vụ tài chính khác.
(12) Dịch vụ tư vấn, môi giới và các dịch vụ tài chính hỗ trợ khác liên quan đến tất cả
các hoạt động nói trên, bao gồm cả việc tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên
cứu, tư vấn đầu tư và đầu tư theo danh mục, tư vấn đối với các hoạt động mua lại và
tái cơ cấu doanh nghiệp cũng như xây dựng chiến lược.
Trong Hiệp định Thương mại Việt nam-Hoa Kỳ (BTA), phụ lục G, mục VI,
phân ngành B-các DVNH và các dịch vụ tài chính khác, gồm 12 tiết, từ tiết (a) đến
tiết (l) cũng nêu lên cách phân loại DVNH tương tự như WTO.
10
Tóm lại, mặc dù ở Việt Nam, khái niệm DVNH chưa được đề cập tới một
cách đầy đủ trong Luật các Tổ chức tín dụng nhưng theo thông lệ quốc tế, DVNH có
thể hiểu là toàn bộ các dịch vụ liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán,
ngoại hối thuộc 12 phân ngành nói trên mà hệ thống các ngân hàng cung ứng cho
nền kinh tế.
Như đã nêu trong phần mở đầu, với tính chất đặc trưng về qui mô của mình
nên các DNVVN có xu hướng tập trung vào các dịch vụ truyền thống hoặc các loại
hình dịch vụ do các ngân hàng thiết kế dành riêng cho các DNVVN, nhìn chung là
dựa trên các loại hình dịch vụ cơ bản sau:
• Dịch vụ huy động vốn
• Dịch vụ tín dụng
• Dịch vụ thanh toán
Cùng với việc tập trung nghiên cứu ba nhóm dịch vụ cơ bản trên, trong khuôn
khổ của luận án nghiên cứu sinh luôn xem xét và tính đến sự phát triển của lĩnh vực
dịch vụ ngân hàng để có thể đưa ra các giải pháp phù hợp cho các DNVVN, bao gồm
cả xu hướng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ mới, các dịch vụ trên nền tảng công
nghệ hiện đại.
1.2.2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng
Các loại dịch vụ nói chung và DVNH nói riêng đều có những đặc điềm chung
là:
- Tính vô hình: đây là đặc điểm chủ yếu để phân biệt sản phẩm DVNH với
các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. Chính đặc
điềm này làm cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm DVNH trở nên khó khăn ngay
cả khi khách hàng đang sử dụng chúng. Vì thế, các nhà cung cấp DVNH rất chú trọng
đến việc củng cố niềm tin đối với khách hàng bằng cách không ngừng nâng cao chất
lượng dịch vụ, tăng cường quảng bá hình ảnh, uy tín.
- Tính không thể tách biệt hay không chia cắt: là đặc điểm phát sinh do quá
trình cung cấp dịch vụ và quá trình tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Mặt khác, quá
trình cung ứng dịch vụ này được tiến hành theo những qui định nhất định, không có
11
sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho, mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho người
sử dụng khi và chỉ khi khách hàng có nhu cầu và đáp ứng những điều kiện của nhà
cung cấp. Đặc tính này sẽ chi phối việc xác định giá cả dịch vụ (lãi, phí) nhằm đảm
bảo cả người sử dụng và tổ chức cung ứng dịch vụ cùng tồn tại, cùng có lợi và phát
triển bền vững.
- Tính không ổn định và khó xác định: vì một sản phẩm DVNH dù lớn hay
bé (xét về qui mô) đều không đồng nhất về thời gian, cách thức, điều kiện thực hiện
vì vậy rất khó xác định. Chất lượng của mỗi sản phẩm DVNH được cấu thành bởi
nhiều yếu tố như uy tín của nhà cung cấp, công nghệ, trình độ cán bộ, khách hàng,
v.v , trong đó, đặc biệt quan trọng là uy tín của bản thân nhà cung cấp dịch vụ.
Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ, nhưng lại thường
xuyên biến động và rất khó lượng hoá. Do vậy nó không ổn định, khó xác định chính
xác.
1.2.3. Vai trò của dịch vụ ngân hàng với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và
nhỏ
DVNH là một trong những loại hình dịch vụ chất lượng cao, có vai trò quan
trọng đối với nền kinh tế quốc dân và được thể hiện chủ yếu trên các mặt sau:
- Là cơ sở hạ tầng trọng yếu ảnh hưởng đến tổng thể các hoạt động của nền
kinh tế: DVNH có tầm quan trọng trong việc huy động vốn, phân bổ nguồn lực có
hiệu quả góp phần tăng trưởng kinh tế. DVNH là nhân tố cấu thành cơ sở hạ tầng nền
kinh tế, có liên quan tới mọi hoạt động của các doanh nghiệp từ thanh toán, chuyển
nhượng, đến huy động vốn hay tiếp cận các thông tin tài chính phục vụ hoạt động
kinh doanh. Có thể nói, mọi doanh nghiệp đều phải sử dụng DVNH với các mức độ
khác nhau.
- Thúc đẩy sản xuất phát triển và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế: DVNH đóng vai
trò đưa nguồn vốn đầu tư tới nơi sử dụng có hiệu quả nhất, từ đó thúc đẩy tăng
trưởng và tạo thu nhập. Thông qua dịch vụ huy động vốn, các ngân hàng đã tạo ra thu
nhập cho những người có các khoản tiền nhàn rỗi và thông qua các dịch vụ cho vay,
các ngân hàng đã dùng số vốn huy động được để đầu tư, cho vay các chủ thể kinh
12
doanh, sản xuất và đời sống, giúp các doanh nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đổi
mới trang thiết bị công nghệ nhằm hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh. Đồng
thời cũng giúp giảm bớt chi phí giao dịch và thông tin, cải thiện sự phân bổ nguồn
lực về mặt không gian và thời gian
- Tăng cường sự lưu chuyển các dòng vốn và tính ổn định của hệ thống tài
chính: DVNH phát triển sẽ trực tiếp gia tăng tính linh hoạt của các dòng vốn và tiền
tệ trong nền kinh tế và cơ cấu vốn cũng được phân bổ một cách tối ưu hơn. Điều đó
càng củng cố hiệu lực của hệ thống pháp lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng phát triển
hơn. Nó cũng góp phần đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính. Hơn thế, một hệ
thống tài chính hoạt động lành mạnh là một nhân tố quan trọng góp phần bảo đảm sự
quản lý vĩ mô hiệu quả của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế. DVNH phát triển
sẽ tạo lập môi trường cạnh tranh, nhờ đó nền kinh tế được hưởng lợi từ việc cải thiện
chất lượng dịch vụ, sự sẵn có của dịch vụ với chi phí hợp lý. Công nghệ và trình độ
quản lý cũng như kỹ thuật của các tổ chức tài chính được cải thiện là nhân tố quan
trọng để ngăn chặn tối đa sự bất ổn của cả hệ thống tài chính.
Tuy nhiên đối với các DNVVN thì dịch vụ ngân hàng càng trở nên cần thiết
và quan trọng hơn (trong một chừng mực nào đó nếu so sánh với các doanh nghiệp
lớn) bởi đặc thù qui mô về vốn và nhân lực của mình.
Dịch vụ ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn khởi sự và phát
triển ban đầu của DNVVN. Theo đánh giá chung thì 3 năm đầu sau khi khởi sự là
giai đoạn khó khăn nhất của các DNVVN. Đây cũng là giai đoạn thử thách về khả
năng trụ lại trên thương trường của doanh nghiệp. Đây cũng là giai đoạn DNVVN
làm quen với việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Chính vì đặc điểm này
nên khi DNVVN cần tiếp cận vốn và sử dụng các DVNH thì cũng là lúc các ngân
hàng có ít thông tin về doanh nghiệp để có thể đưa ra quyết định về cấp tín dụng và
cung cấp các DVNH khác. Trong số các nhóm dịch vụ được đề cập đến trong luận án
này chúng ta có thể thấy nhóm dịch vụ tín dụng gây nhiều khó khăn cho DNVVN vì
các dịch vụ này hàm chứa yếu tố rủi ro do mất khả năng chi trả. Đối với nhóm dịch
vụ thanh toán thì thách thức đối với các DNVVN chủ yếu nằm ở kiến thức và hiểu
13
biết của doanh nghiệp để lựa chọn và sử dụng hiệu quả từng dịch vụ trong từng
trường hợp cụ thể.
1.2.4. Các dịch vụ ngân hàng cơ bản cung ứng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trước khi đề cập cụ thể đến các loại hình dịch vụ ngân hàng, chúng ta cần nêu
những vai trò cơ bản của ngân hàng đối với các hoạt động kinh tế:
- Vai trò trung gian: chuyển các khoản tiền gửi thành các khoản tín dụng cho
các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác.
- Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua
hàng hoá và dịch vụ.
- Vai trò người bảo lãnh: cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất
khả năng thanh toán.
- Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ
- Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện các chính sách kinh tế của Chính
phủ trong việc việc điều tiết tăng trưởng kinh tế và thực hiện các mục tiêu
xã hội.
Với vai trò nêu trên, ngân hàng là tổ chức tạo lập và cung ứng một số loại hình
dịch vụ cho các chủ thể trong nền kinh tế. Như đã nói ở trên thì luận án tập trung vào
3 nhóm dịch vụ ngân hàng chủ yếu, bao gồm:
• Dịch vụ huy động vốn
o Tài khoản tiền gửi
o Tín phiếu
o Trái phiếu
o …
• Dịch vụ tín dụng
o Tín dụng
Cho vay thương mại
Cho vay tiêu dùng
Tài trợ cho dự án
o Cho thuê tài chính
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét