Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ NGOẠI THƯƠNG TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH 6.doc

Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT
TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ
NGOẠI THƯƠNG TẠI NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH 6
3.1. Một số kiến nghị đối với các cấp quản lý Nhà nước 58
3.1.1. Đẩy mạnh các Chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp
hội nhập 58
3.1.2. Hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động
XNK và hoạt động tài trợ XNK 60
3.1.3. Đưa vào hoạt động Quỹ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và chương trình trợ
giúp của Chính Phủ 61
3.1.4. Hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam, nâng cao hiệu quả hoạt động
của thị trường 62
3.2. Một số kiến nghị đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK 62
3.2.1. Đẩy mạnh năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu 62
3.2.2. Xây dựng thương hiệu vững mạnh
ở thị trường trong nước lẫn nước ngoài 63
3.2.3. Sử dụng những dịch vụ ngân hàng trong hoạt động kinh doanh 64
3.3. Đối với Ngân hàng Công thương CN6 65
3.3.1. Thực hiện tốt những biện pháp
phòng ngừa rủi ro trong tài trợ ngoại thương 65
3.3.2. Chủ động tiếp cận các doanh nghiệp vừa và nhỏ 68
3.3.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc lành mạnh hóa tài chính 70
3.3.4. Một số biện pháp hỗ trợ 71
3.3.4.1. Vấn đề nhân sự 71
3.3.4.2. Xây dựng chiến lược Marketing ngân hàng 71
3.3.4.3. Sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro hối đoái và lãi suất 72
SVTH: Bùi Vũ An Trang 57
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ GÓP
PHẦN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ NGOẠI
THƯƠNG TẠI NHCT-CN6
Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, tài trợ XNK tại NHCT-CN6 vẫn còn
nhiều hạn chế. Chất lượng dịch vụ tài trợ XNK chưa thật sự đáp ứng nhu cầu của
khách hàng một cách hiệu quả. Tuy nhiên với những thành quả nhất định đạt được,
đã là một cơ sở vững chắc để NHCT-CN6 tiếp tục phát triển trên con đường cạnh
tranh, xây dựng thương hiệu. Những mặt mạnh cần tiếp tục phát huy một cách mạnh
mẽ hơn, đồng thời những mặt khó khăn, tồn tại cần nhanh chóng đưa ra giải pháp khả
thi để khắc phục. Trên cơ sở đánh giá thực trạng tài trợ ngoại thương tại NHCT-CN6,
đề tài đưa ra một số giải pháp:
3.1. Đối với các cấp quản lý Nhà nước
Đối với quản lý hoạt động kinh doanh XNK trên bình diện vĩ mô, vai trò của Nhà
nước là vô cùng quan trọng. Việt Nam hoàn toàn có tiềm lực về xuất khẩu, vấn đề là
chúng ta có thể biến tiềm lực đó trở thành thực lực hay không. Năm 2007, năm đầu
tiên Việt Nam thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO Chính phủ đã có lộ trình cắt
giảm trợ cấp cho một số lĩnh vực. Mặt khác, để tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, Chính
phủ cần xây dựng các chương trình trợ giúp phù hợp và không trái quy định WTO.
Dưới đây là một số biện pháp Nhà nước có thể hỗ trợ để đẩy mạnh hoạt động XNK
của các doanh nghiệp.
3.1.1. Đẩy mạnh các Chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh
nghiệp hội nhập
- Cần phải nhìn nhận rằng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam trên trường quốc tế vẫn còn rất kém. Do đó, một trong những biện pháp giúp
các doanh nghiệp tìm được chỗ đứng trên thị trường là tìm đến sự hỗ trợ của Bộ, Sở
Thương mại, thông qua việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tổ chức hội chợ hàng
SVTH: Bùi Vũ An Trang 58
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
Việt Nam chất lượng cao ở những thị trường chủ lực như Nhật, Mỹ, ASEAN, Trung
Quốc, Hồng Kông và EU theo định kỳ hàng quý, hàng năm.
- Khi mở rộng hoạt động ra nước ngoài, uy tín và năng lực cạnh tranh là vấn
đề thiết yếu, vì vậy cần tiến hành bình chọn những doanh nghiệp nào được đại diện
cho Việt Nam. Công việc này nên có sự phối hợp giữa Sở thương mại, các cơ quan
báo chí, đài phát thanh, truyền hình và người tiêu dùng nhằm chọn ra những gương
mặt doanh nghiệp tiêu biểu, gầy dựng danh tiếng từng bước ban đầu cho Việt Nam.
- Khi đã ký kết Hiệp định thương mại song phương với nhau thì các quốc gia
thường dành cho nhau nhiều ưu đãi trong lưu thông hàng hóa, đặc biệt là các rào cản
thuế quan có thể giảm đi rất nhiều, thậm chí sẽ biến mất hoàn toàn. Tuy nhiên vấn đề
là các cơ quan chức năng phải tiến hành xem xét, đàm phán như thế nào để các doanh
nghiệp Việt Nam có đủ thời gian chuẩn bị cho sự cạnh tranh sắp tới và không dễ dàng
bị đánh bại ngay khi vừa chạm trán với đối thủ nước ngoài.
- Hiện tại Việt nam đã ký kết được nhiều Hiệp định/thoả thuận thương mại
quan trọng như: Hiệp định tiếp cận thị trường với EU, Hiệp định mậu dịch tự do
ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Ấn Độ, ASEAN-Hàn Quốc, ASEAN-Australia-New
Zealand; Hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại với Hungari, Cộng Hòa Séc,
Bulgari, Slovenia; Hiệp định thương mại và hợp tác song phương Việt Nam-Hoa Kỳ,
Việt Nam-EU và với trên 60 nước. Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới, gọi tắt là WTO – một sân chơi
rộng mở, thông thoáng và bình đẳng.
- Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển nên nhu cầu nhập khẩu máy móc
thiết bị là rất lớn. Để giúp các doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới công nghệ, tăng
sức cạnh tranh trong thương mại, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về thuế nhập
khẩu đối với các mặt hàng này. Bên cạnh đó cũng cần giảm thuế nhập nguyên nhiên
vật liệu sản xuất hàng xuất khẩu để giúp các doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm, dễ
dàng thâm nhập thị trường nước ngoài. Có thể thấy, thực hiện hợp lý việc thu thuế
nhập khẩu sẽ tác động tích cực đến hoạt động ngoại thương, bởi xét cho cùng nhập
khẩu cũng chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu.
SVTH: Bùi Vũ An Trang 59
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
3.1.2. Hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt
động xuất nhập khẩu và hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu
Một hành lang pháp lý thông thoáng, hoàn thiện, hợp lý sẽ có tác động rất lớn trong
việc thúc đẩy hoạt động XNK phát triển, khuyến khích các doanh nghiệp gia nhập
vào hoạt động kinh doanh XNK. Các doanh nghiệp sẽ mạnh dạn và tự tin hơn khi
tham gia vào giao dịch thương mại quốc tế. Nhờ đó NH mới có thể có lượng khách
hàng nhiều hơn, nâng cao được doanh số tài trợ.
- Trong hai năm 2005-2006, Bộ Thương mại đã trình Quốc hội thông qua Luật
Thương mại sửa đổi và Luật Cạnh tranh; trình Chính phủ thông qua 21 Nghị định
hướng dẫn thi hành Luật Thương mại mới và Luật Cạnh tranh; ban hành 13 Thông tư
hướng dẫn thực hiện các Nghị định của Chính phủ liên quan đến hoạt động XNK
hàng hoá và dịch vụ. Điều quan trọng là cần tránh tình trạng Nghị định, Thông tư và
các văn bản hướng dẫn thực hiện chồng chéo, mâu thuẫn với nhau, hay các điều
khoản trong chính một văn bản luật mâu thuẫn nhau. Điều này làm cho các NH lúng
túng trong việc xem xét cấp tín dụng.
- Bên cạnh đó, NHNN cần sớm ban hành quy chế về tín dụng XNK. Mặc dù
đã có các quy chế về L/C, bảo lãnh mở L/C trả chậm, chiết khấu chứng từ xuất
khẩu… nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ nên cần thiết phải có quy định
cụ thể rõ ràng về các hình thức, điều kiện, đối tượng nào được ưu đãi lãi suất cho
vay, được phép vay tín chấp, nhằm tạo điều kiện cho NH thực hiện tốt hoạt động tín
dụng XNK, tránh được những trường hợp lúng túng, chưa dám mạnh dạn đầu tư, mở
rộng tín dụng. Đồng thời NHNN cũng cần sớm ban hành các quy định, văn bản
hướng dẫn cụ thể để các NH có thể triển khai và phát triển nghiệp vụ tài trợ dựa trên
thương phiếu và hoạt động tài trợ Factoring. Các nghiệp vụ này dần dần được triển
khai ở Việt Nam và có những kết quả khả quan. Thời gian tới cần tiếp tục tạo nhiều
thuận lợi, nhất là về mặt pháp lý để các nghiệp vụ này thực sự vững mạnh, tạo ra lợi
thế cạnh tranh của hệ thống NHVN với các NH nước ngoài.
SVTH: Bùi Vũ An Trang 60
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
3.1.3. Đưa vào hoạt động Quỹ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và chương
trình trợ giúp của Chính Phủ
Hoạt động tài trợ ngoại thương của các NH thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi
ro. Bằng việc đưa vào hoạt động Quỹ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, Nhà nước có thể
giúp các NH giảm thiểu bớt rủi ro khi tài trợ xuất khẩu. Theo kinh nghiệm của nhiều
nước như Mỹ, Anh, Nhật… việc hỗ trợ của Chính Phủ bằng hình thức này sẽ góp
phần đẩy mạnh hoạt động tài trợ ngoại thương của các NH, từ đó thúc đẩy xuất khẩu
phát triển.
- Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là việc người bảo hiểm bảo hiểm cho các khoản
tín dụng do nhà xuất khẩu cung cấp cho nhà nhập khẩu (bằng hàng hóa hoặc bằng
dịch vụ) hoặc NH phục vụ nhà nhập khẩu. Trong trường hợp nhà nhập khẩu hoặc NH
phục vụ nhà nhập khẩu không thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ đã được cung
cấp do các rủi ro về chính trị hoặc rủi ro thương mại (các rủi ro đã được bảo hiểm),
nhà xuất khẩu hoặc NH phục vụ nhà xuất khẩu sẽ được bồi thường thiệt hại. Các
chương trình bảo hiểm của Chính phủ giúp cho các NH giảm bớt rủi ro khi tài trợ
ngoại thương, hỗ trợ các doanh nghiệp thâm nhập thị trường có nhiều rủi ro.
- Hiện Việt Nam đã có một số các tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại và
xúc tiến xuất khẩu ở cả cấp quốc gia lẫn cấp tỉnh, như Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI), Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE), và
một số hiệp hội Thương mại và Kinh doanh mới hình thành cũng như các Trung tâm
Xúc tiến Thương mại cấp tỉnh. Hầu hết các tổ chức xúc tiến thương mại này (TPO)
vẫn còn rất mới, kể cả VIETRADE và còn thiếu các nguồn lực cũng như đội ngũ cán
bộ có năng lực để có thể cung cấp những dịch vụ có chất lượng cao cho các nhà xuất
khẩu hiện tại và tiềm năng. Mặc dù giữa các TPO cũng có sự cạnh tranh nhất định
nhưng các tổ chức này chưa được phối hợp và kết nối với nhau một cách đúng đắn
cũng như còn thiếu tính hợp tác để có thể hỗ trợ các nhà xuất khẩu có hiệu quả.
Chính Phủ cần tạo điều kiện để các tổ chức này hoạt động hiệu quả hơn.
- Đồng thời, Chính phủ cần xây dựng một Trung tâm về WTO. Bước ra đấu
trường WTO với luật chơi chung của thị trường thế giới, các doanh nghiệp cần có đủ
SVTH: Bùi Vũ An Trang 61
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
sức chơi và phải hiểu luật chơi. Cộng đồng doanh nghiệp kiến nghị ngoài việc hỗ trợ
nâng cao năng lực cạnh tranh, Chính phủ cần có chương trình hỗ trợ pháp lý cho các
doanh nghiệp. Để làm việc này, đề nghị Chính phủ có cơ chế tập hợp đội ngũ chuyên
gia tư vấn về WTO, trên cơ sở đó, xây dựng những nhóm đặc nhiệm để xử lý các vấn
đề phát sinh: như xử lý các vụ kiện bán phá giá, tranh chấp thương mại. Một Trung
tâm WTO được thành lập sẽ là đầu mối tốt để đưa ra những thông tin kịp thời, tư vấn
cho doanh nghiệp về các vấn đề liên quan đến WTO.
3.1.4. Hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam, nâng cao hiệu quả
hoạt động của thị trường
Hiện nay, thị trường ngoại hối Việt Nam đã được thành lập nhưng còn đang ở bước
sơ khai, hoạt động chưa thật sự hiệu quả. Thị trường ngoại hối liên NH ở Việt Nam
còn kém, chưa phát huy hết tác dụng vốn có của nó. Một thị trường ngoại hối phát
triển và vận hành thật sự trôi chảy, thông suốt sẽ góp phần đẩy mạnh lưu thông ngoại
tệ, phục vụ cho hoạt động XNK của các doanh nghiệp và hoạt động tài trợ ngoại
thương của NH hiệu quả, phòng ngừa được các rủi ro về hối đoái tốt hơn.
- Trong thời gian tới, NHNN cần sớm có quy định cho phép các NH bổ sung
thêm các công cụ của thị trường hối đoái phục vụ tốt hơn nhu cầu của các doanh
nghiệp kinh doanh XNK. Cần mở rộng đối tượng tham gia thị trường, phát triển thị
trường chiết khấu hối phiếu, chứng từ xuất khẩu nhằm đảm bảo nhu cầu vốn của
doanh nghiệp giao dịch xuất khẩu.
- NHNN cần tiến hành rà soát lại các chế độ quản lý ngoại hối để loại bỏ
những hạn chế và bất hợp lý về ngoại hối, chú trọng xây dựng các văn bản quản lý
ngoại hối theo hướng tăng cường vai trò quản lý ngoại hối của Nhà nước nhằm đạt
được mục tiêu chính sách tiền tệ, hạn chế tình trạng Dollar hóa nền kinh tế. Tuy
nhiên NHNN cũng nên tạo những cơ chế để thị trường ngoại hối phát triển theo đúng
quy luật cung cầu của cơ chế thị trường.
3.2. Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu
3.2.1. Đẩy mạnh năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu
SVTH: Bùi Vũ An Trang 62
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
Vấn đề mang tính then chốt đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng xuất
khẩu là phải tạo được cho mình một chỗ đứng ở thị trường nước ngoài. Do đó doanh
nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi cần có sự hỗ trợ từ phía NH, họ phải
đưa ra phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, phải chứng tỏ được khả năng phát
triển của sản phẩm ở nước ngoài và điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào năng lực
cạnh tranh của hàng xuất khẩu mà họ sản xuất, kinh doanh. Các doanh nghiệp cần
chủ động tiến hành khảo sát, đánh giá thị trường, năng lực tài chính, năng lực sản
xuất của mình; chú ý tận dụng hiệu quả chính sách khuyến khích của Nhà nước đối
với những sản phẩm, ngành hàng nằm trong định hướng phát triển của cả nước trong
giai đoạn tới để xác định cho mình chiến lược phát triển mặt hàng xuất khẩu và
chương trình cụ thể tiếp cận các thị trường xuất khẩu tiềm năng.
- Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần xây dựng cho mình chiến lược mở rộng
liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm hợp lý hoá, chuyên môn hoá,
hợp tác hoá sản xuất trên cơ sở thế mạnh của mỗi doanh nghiệp, nhằm mở rộng sức
sản xuất, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh. Bản thân mỗi doanh nghiệp cần
nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực theo hướng chuyên nghiệp
hoá và công nghiệp hoá nhằm nâng cao năng suất lao động, qua đó gián tiếp giảm chi
phí hoạt động. Khai thác hiệu quả những tiện ích của công nghệ thông tin và đẩy
mạnh ứng dụng thương mại điện tử. Khi đã làm tốt những công việc đó thì vấn đề
còn lại chỉ là sự xem xét, đánh giá của NH về việc có nên tài trợ hay không trên cơ sở
thẩm định kỹ càng doanh nghiệp cùng phương án vay vốn của họ. Tuy nhiên điều
chắc chắn là, một khi NH đã thấy được tính cạnh tranh và khả năng phát triển của sản
phẩm xuất khẩu thì sẽ không thể bỏ qua cơ hội tài trợ cho doanh nghiệp để mang lợi
ích cho cả hai phía.
3.2.2. Xây dựng thương hiệu vững mạnh ở thị trường trong nước lẫn
nước ngoài
- Vấn đề thương hiệu ngày càng giữ vị trí quan trọng trong kinh doanh khi tính
cạnh tranh của thị trường đã trở nên khốc liệt hơn. Nếu như trước đây các doanh
nghiệp Việt Nam ít quan tâm đến việc đăng ký và phát triển thương hiệu thì ngày nay
SVTH: Bùi Vũ An Trang 63
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
quan niệm này cần phải thay đổi. Thương hiệu là một sản phẩm vô hình mà giá trị
của nó có thể lớn gấp nhiều lần sản phẩm thực. Bên cạnh đó, để tiếp cận vốn vay NH
mà không có, hoặc rất ít tài sản đảm bảo, các doanh nghiệp có thể dùng uy tín của
mình để xin tài trợ, và uy tín đó thể hiện rất nhiều thông qua một thương hiệu vững
mạnh, có tiếng tăm cả trong và ngoài nước.
- Để xác định cho mình một chỗ đứng trên thị trường và dễ dàng nhận được sự
tài trợ từ phía NH, ngoài việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm, các doanh
nghiệp cũng cần thực hiện: đăng ký nhãn hiệu, xây dựng uy tín cho nhãn hiệu và bảo
vệ nó. Khi Việt Nam đã gia nhập WTO, thì vấn đề này càng phải được các doanh
nghiệp quan tâm hàng đầu. Vì chỉ có một thương hiệu thật sự vững mạnh, các doanh
nghiệp mới có thể cạnh tranh và đứng vững trên sân chơi chung WTO.
3.2.3. Sử dụng những dịch vụ ngân hàng trong hoạt động kinh doanh
Các doanh nghiệp nên sử dụng dịch vụ tư vấn của NH, không phải chỉ trong lúc khó
khăn nhất mà bất cứ khi nào nếu muốn. NH với kinh nghiệm và hiểu biết sâu rộng về
lĩnh vực tài chính sẽ đưa ra nhiều lời khuyên xác đáng và hữu hiệu cho doanh nghiệp.
Đôi khi thay vì yêu cầu được hỗ trợ thêm về vốn để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh
doanh, họ chỉ cần cơ cấu lại tình hình tài chính đôi chút, thay đổi về nhân sự, thực
hiện cách quản lý mới theo sự tư vấn của NH và dễ dàng thoát ra khỏi khó khăn trước
mắt. Hoặc cũng có thể họ đang có một kế hoạch kinh doanh nhưng còn e ngại vì chưa
biết tính hiệu quả đến đâu, lúc bấy giờ NH sẽ giúp họ thông qua việc thẩm định
chúng.
- Có thể nói, dịch vụ tư vấn của NH mang lại không ít lợi ích cho doanh
nghiệp. Tuy nhiên để có được hiệu quả cao nhất, yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp
cần hợp tác với NH trong việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và trung thực khi
tiếp xúc với NH. Có như vậy thì NH mới đưa ra được những lời khuyên bổ ích và
phù hợp nhất, khi cần thiết cũng sẽ sẵn sàng hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp mà không
sợ bị rủi ro mất vốn hay không thu hồi được nợ.
SVTH: Bùi Vũ An Trang 64
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
3.3. Đối với Ngân hàng Công thương CN6
3.3.1. Thực hiện tốt những biện pháp phòng ngừa rủi ro trong tài trợ
ngoại thương
Hoạt động tài trợ ngoại thương luôn gắn liền với nhiều rủi ro. Ngoài những rủi ro
thông thường giống như tài trợ trong nước còn có những rủi ro ngoài quốc gia. Vấn
đề vô cùng quan trọng trong tài trợ là việc nắm bắt thông tin một cách đầy đủ, kịp
thời, chính xác về những liên quan đến thương vụ mà mình tài trợ như tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của khách hàng. Các thông tin này
không những giúp cho NH ra quyết định tài trợ đúng đắn mà còn hạn chế thấp nhất
thiệt hại có thể xảy ra, nhất là trong việc thu nợ từ nước ngoài khi sử dụng các
phương thức thanh toán quốc tế.
- Hiện nay, mạng lưới hoạt động của NHCT tương đối dày đặc với 138 chi
nhánh và phòng giao dịch trải khắp toàn quốc, riêng ở thành phố Hồ Chí Minh có 18
chi nhánh, 1 sở giao dịch và hàng trăm phòng giao dịch được phân bố trãi rộng khắp
các địa bàn, từ trung tâm thành phố đến các vùng ven, nơi có nhiều khu công nghiệp,
khu chế xuất như Thủ Đức, Tân Bình. Xét về hoạt động đối ngoại thì hiện nay NHCT
có quan hệ đại lý với nhiều NH nước ngoài.
- Với lịch sử lâu dài, nhìn chung mạng lưới hoạt động của NHCT-CN6 chỉ
mới phát triển theo chiều rộng trong khi để thực hiện tài trợ một cách hiệu quả nhất
thì đòi hỏi NH phải đi vào chiều sâu. Điều này cũng có nghĩa là NHCT-CN6 cần nắm
chắc tình hình khách hàng tại khu vực mình hoạt động, bao gồm luôn cả những thay
đổi vĩ mô lẫn vi mô của nền kinh tế cho dù nó tác động trực tiếp hay gián tiếp lên
hoạt động tài trợ của NH.
- Một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng đối
với hoạt động tài trợ của NH chính là việc xếp hạng tín dụng. Bởi lẽ, đã có chuẩn đặc
điểm xếp hạng khách hàng trên cơ sở xếp hạng chuẩn, các cán bộ tín dụng mỗi khi
tiến hành xếp loại cần thu thập thông tin thật đầy đủ. Việc nhận định mức độ rủi ro
cần phải trải qua cả một quá trình định tính (qua tiếp xúc, tìm hiểu khách hàng) lẫn
định lượng (qua các chỉ số tài chính, chỉ số đánh giá hoạt động của doanh nghiệp).
SVTH: Bùi Vũ An Trang 65
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
Các thông tin cơ bản mà cán bộ tín dụng cần phải tìm hiểu để đưa ra nhận định giúp
xếp hạng chính xác hơn, bao gồm:
 Thông tin chung về doanh nghiệp:
 Lịch sử hình thành doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức.
 Tình hình nhân sự (cán bộ công nhân viên), ban lãnh đạo, kế toán trưởng.
 Thu nhập
 Mặt hàng sản xuất, kinh doanh chủ yếu.
 Thị trường tiêu thụ chính, mạng lưới phân phối.
 Khách hàng chính và đối thủ cạnh tranh chủ yếu.
 Điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác cùng
ngành nghề.
 Tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh chủ yếu:
 Tình hình công nợ của doanh nghiệp (lưu ý công nợ khó đòi).
 Tình hình sử dụng vốn vay của NH (bao gồm các khoản vay từ các NH
thương mại khác).
 Lãi/Lỗ qua các năm.
 Về phương án/dự án vay vốn:
 Các thông tin chung về phương án, dự án vay vốn.
 Tính nổi trội của phương án, dự án kinh doanh.
 Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, nguồn trả nợ.
 Hiệu quả dự tính.
- Trong hoạt động tài trợ ngoại thương, mà cụ thể là tín dụng tài trợ XNK, thì
đảm bảo tiền vay giữ vai trò quan trọng cấu thành nên chất lượng của khoản vay, bởi
vì đây là việc NH áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế
và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Các biện pháp đảm
bảo tiền vay bao gồm:
 Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay.
 Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
 Đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
SVTH: Bùi Vũ An Trang 66
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
- Vì vậy, NH cần có chính sách cụ thể đối với vấn đề đảm bảo tiền vay, nhất là
mở rộng việc cho vay được đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bằng uy
tín. Để làm tốt điều này đòi hỏi NH phải có quy trình tín dụng hợp lý, chặt chẽ, an
toàn và không gây phiền hà cho khách hàng, từ khâu thẩm định cho đến phát tiền vay,
kiểm tra sử dụng vốn vay và thu hồi nợ. Thực ra NH hoàn toàn có thể kiểm soát được
khoản vay nếu cán bộ tín dụng thực hiện đúng theo các nguyên tắc trong cho vay,
theo dõi và thu nợ. Kết quả kiểm tra phải khẳng định được khách hàng sử dụng vốn
vay đúng mục đích như cam kết trong hợp đồng tín dụng đã ký không. Từ đó kịp thời
đưa ra các biện pháp hữu hiệu để giải quyết khó khăn cho khách hàng, hạn chế tối đa
rủi ro có thể xảy ra.Vấn đề cần được nhìn nhận một cách đúng đắn là rủi ro của khách
hàng cũng sẽ dẫn đến rủi ro cho NH, NH sẽ tư vấn cho khách hàng những điều lợi và
bất lợi, những cái nào nên làm và không nên. Những tư vấn đó sẽ phần nào giúp
doanh nghiệp tránh được rủi ro trong kinh doanh, thuận lợi hơn trong quá trình đàm
phán và ký kết hợp đồng ngoại thương.
- Tuy nhiên, để cung cấp dịch vụ tư vấn hiệu quả và chất lượng, NH cũng cần
phải đầu tư khá lớn như: phải có hệ thống công nghệ hiện đại cho việc thu thập và xử
lý thông tin; đào tạo đội ngũ nhân viên tư vấn chuyên nghiệp,trình độ cao, năng động
và nhiệt tình… Nếu NHCT-CN6 làm được điều này chính là đã nâng cao được năng
lực cạnh tranh của mình trước các đối thủ cạnh tranh trên cùng địa bàn.
- Một biện pháp hạn chế rủi ro khác không kém phần quan trọng trong hoạt
đông tài trợ của NH chính là việc phân tán rủi ro. Hiện nay, khách hàng của NH, đặc
biệt là khách hàng của nghiệp vụ tài trợ XNK chỉ là một số doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở địa bàn TP.Hồ Chí Minh và Bình Dương. Cho nên, giải pháp mở rộng đối tượng
khách hàng trở nên cấp bách hơn cả. Vì vậy, các chi nhánh NHCT trên địa bàn cần
xây dựng chính sách khách hàng phù hợp. Trước mắt, NH vẫn phải tiếp tục duy trì
mối quan hệ bền vững với khách hàng hiện tại bằng cách ưu đãi lãi suất thấp hơn, tài
sản đảm bảo giảm bớt, thủ tục xin vay ít đi, thời gian giải quyết hồ sơ nhanh hơn, bên
cạnh cần thu hút thêm khách hàng mới. Nếu được NH nên thành lập một bộ phận tiếp
thị chuyên nghiệp để tìm kiếm khách hàng, tư vấn, giới thiệu đến giao dịch với NH
SVTH: Bùi Vũ An Trang 67
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
với những tiện ích hấp dẫn như giảm phí mở tài khoản, thủ tục nhanh gọn… Trên cơ
sở đó NH sẽ bán thêm được các dịch vụ hỗ trợ khác.
- Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa ngành nghề phục vụ cũng là điều cần phải
làm. Các ngành hàng xuất khẩu của thành phố ngày càng đa dạng và phong phú chính
là điều kiện thuận lợi để NHCT-CN6 mở rộng tầm hoạt động. Tuy nhiên cần có sự
nghiên cứu kỹ càng và lên kế hoạch cụ thể đối với những ngành nào có khả năng phát
triển và ít gặp rủi ro, từ đó đưa ra chính sách phân bổ vốn tài trợ hợp lý nhất. Cụ thể ở
thị trường thành phố Hồ Chí Minh, NHCT-CN6 có thể tập trung vào một số ngành
như: dệt-may, giày dép, linh kiện điện tử; cần phân phối liên tục sản phẩm trong các
ngành này.
- Ngoài ra, thị trường xuất khẩu đang có nhiều vấn đề rủi ro trong tỷ giá và
hạn ngạch xuất khẩu. Vấn đề này NHCT-CN6 không thể quyết định tự ý giải quyết
được, phải phụ thuộc vào sự quản lý linh hoạt của NHNN và Chính phủ.
3.3.2. Chủ động tiếp cận các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong doanh số tài trợ ngoại thương của NHCT-CN6, tỷ trọng đóng góp của loại hình
doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn. Hơn thế nữa đây là một bộ phận khách hàng lớn
và đầy tiềm năng của dịch vụ tài trợ XNK. Có thể nghiên cứu để đề ra những chính
sách hợp lý để tiếp cận các doanh nghiệp này một cách hiệu quả:
a) Thiết lập bộ phận nghiên cứu khách hàng
- Một trong những vấn đề khó khăn nhất của NH khi muốn tiếp cận với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là sự đa dạng và năng động của họ. Thật sự không hề
dễ dàng gì khi đưa ra một chuẩn mực chung để đánh giá năng lực của từng đối tượng
do đặc điểm mỗi ngành nghề khác nhau, yêu cầu tài chính cho từng doanh nghiệp lại
không giống nhau. Tuy nhiên, cũng không phải không có cách tiếp cận với họ. Vấn
đề đặt ra là NHCT-CN6 cần lập một bộ phận nghiên cứu khách hàng, chuyên tìm
hiểu về tình hình hoạt động, nhu cầu tài chính và các khó khăn khác của doanh
nghiệp vừa và nhỏ để có cách tiếp cận phù hợp, cần làm như sau:
+ Thông qua phối hợp với Sở thương mại, Sở kế hoạch – Đầu tư và tìm
kiếm từ các nguồn khác (báo, đài, mua thông tin…), quan tâm đến các doanh nghiệp
SVTH: Bùi Vũ An Trang 68
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
trong khu công nghiệp - khu chế xuất, nắm bắt nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, các
dự án chuẩn bị đầu tư, tiến độ thi công xây dựng nhà máy… Khi các doanh nghiệp
này đủ điều kiện nhu cầu vay vốn thì NH có thể đáp ứng vốn kịp thời.
+ Điều tra, nghiên cứu và tổng hợp thông tin liên quan đến hoạt động XNK
như: ngành nào được Chính phủ ưu đãi, khuyến khích xuất khẩu, diễn biến thị trường
thế giới đối với các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu ra sao. Từ đó, xây dựng chiến
lược trong năm tài chính những mặt hàng, ngành hàng cụ thể nào, đối tượng nào
được ưu tiên cấp tài trợ.
+ Trên cơ sở số liệu thống kê và những thông tin thu thập được, bộ phận
nghiên cứu sẽ đưa ra nhận định về khả năng phát triển của những nhóm đối tượng
doanh nghiệp, những nhóm ngành hàng; lập kế hoạch cụ thể tiếp cận khách hàng…từ
đó làm cơ sở cho bộ phận tín dụng làm tốt khâu thẩm định và giúp ban lãnh đạo lên
kế hoạch phân bổ vốn tài trợ hợp lý, an toàn.
b) Đa dạng hóa danh mục sản phẩm
- Đa dạng hóa các loại hình tài trợ vào thời điểm này đối với NH thực sự là
cần thiết. Không chỉ riêng với NHCT mà với tất cả các NH đã và đang hoạt động
trong lĩnh vực tài trợ ngoại thương. Các NH cần phải áp dụng các nghiệp vụ được
xem là còn mới ở Việt Nam để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và cũng để cạnh
tranh với các NH chi nhánh nước ngoài đang hoạt động và các NH nước ngoài sắp
hoạt động tại Việt Nam khi mà cam kết của Việt Nam về mở rộng lĩnh vực tài chính
tiền tệ khi gia nhập WTO bắt đầu có hiệu lực.
- Hiện nay, loại hình tài trợ của NHCT-CN6 nhìn chung còn khá đơn điệu.
Đây cũng là một điểm bất lợi của NHCT-CN6 so với đối thủ cạnh tranh:
 Chẳng hạn đối với những dịch vụ chưa giao dịch, NH phải tăng cường việc
giới thiệu về tiện ích của nó cho khách hàng, tư vấn cho khách hàng sử dụng để
tăng tính hiệu quả cho thương vụ và mang lại lợi nhuận cao cho NH.
 Cần thiết phải nhanh chóng nghiên cứu và đưa vào thực tế nhiều loại hình tài
trợ ngoại thương đang rất phổ biến trên thế giới như chiết khấu miễn truy đòi, tài
trợ ngoại thương trên cơ sở hối phiếu, bao thanh toán (Factoring). Đồng thời, NH
SVTH: Bùi Vũ An Trang 69
Chương 3: Một Số Giải Pháp Kiến Nghị
cũng nên nghiên cứu và giới thiệu đến khách hàng một số loại hình L/C đặc biệt
như: L/C điều khoản đỏ, L/C tuần hoàn… để phục vụ nhu cầu của khách hàng tốt
hơn và góp phần tăng doanh thu cho NH.
- Ngoài ra với cương vị là một NH chi nhánh, NHCT-CN6 cần có những
nghiên cứu các sản phẩm tài trợ mới (đối với Việt Nam) theo thông lệ quốc tế, đồng
thời xem xét cả những vấn đề pháp lý liên quan để đề xuất lên Hội sở chính, phối hợp
cùng cơ quan luật pháp của Nhà nước để hoạt động cho thích hợp.
3.3.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh qua việc lành mạnh hóa tài chính
- Để đứng vững ở thị trường trong nước và mở rộng thị phần hoạt động ra
nước ngoài, bất kỳ một NH nào cũng phải trang bị cho mình một nền tảng tài chính
vững mạnh. Thành phố Hồ Chí Minh là khu vực kinh tế năng động nhất nước, tập
trung đông dân cư và nhiều loại hình doanh nghiệp với các ngành nghề. Khả năng
huy động vốn từ dân cư là rất lớn. Bằng nhiều chính sách như chương trình tiết kiệm
dự thưởng cùng với lãi suất hấp dẫn, tin rằng trong thời gian tới, NHCT-CN6 sẽ tăng
vốn cần thiết để đẩy mạnh hoạt động tài trợ ngoại thương của mình.
- NH cần đẩy mạnh công tác tiếp thị bằng tờ rơi hoặc những khẩu hiệu hấp
dẫn về mức lãi suất huy động đăng tải trên các phương tiện báo chí, đài truyền hình.
Hoặc NH có thể thiết kế những tờ hướng dẫn về việc chi trả kiều hối và mua bán
ngoại tệ đính kèm với biểu phí dịch vụ đặt tại quầy giao dịch để cung cấp miễn phí
cho khách hàng. Đặc biệt, các tờ rơi về các dịch vụ phải được thiết kế bắt mắt và gây
sự chú ý. Đây có lẽ là hình thức quảng bá thương hiệu hiệu quả nhất hiện nay.
- Ngoài ra, cần tăng cường triển khai hình thức mà NHCT-CN6 nên áp dụng là
tìm đến các cửa hàng hoặc công ty kinh doanh vàng bạc đá quý tiếp thị, đặt quan hệ
đại lý để thu mua ngoại tệ. Đây là cách thức thật sự mang lại hiệu quả tăng nguồn
ngoại tệ cho NHCT-CN6. Một nguồn vốn ngoại tệ dồi dào sẽ góp phần rất lớn vào
hiệu quả tài trợ giao dịch XNK cho doanh nghiệp.
- Nợ quá hạn là một trong những yếu tố quan trọng đánh giá năng lực cạnh
tranh của một NH trong tiến trình hội nhập. Và NHCT-CN6 tự hào về điều này, tỷ lệ
nợ quá hạn rất thấp, không đáng kể và đã được thu hồi.
SVTH: Bùi Vũ An Trang 70

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét