Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan chung về vốn và vai trò của vốn
1.1.1. Vốn là gì?
Để hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp thực sự có hiệu quả
thì điều đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm là làm thế nào để có đủ vốn và sử
dụng nó như thế nào cho hiệu quả. Vậy vốn là gì và các doanh nghiệp cần bao nhiêu
vốn thì đủ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn. Vốn trong các doanh nghiệp là một
quỹ tiền tệ đặc biệt. Theo quan điểm của Mark, dưới giác độ của các yếu tố sản xuất
thì: “ Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thăg dư, là một đầu vào của quá
trình sản xuất ”.
Theo Paul A.Samuelson: Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn
vốn và hàng hóa vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại
hàng hóa lâu bền, được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong
quá trình sản xuất sau đó.
Tóm lại, có thể hiểu theo một cách khái quát nhất, vốn là toàn bộ những giá trị
ứng ra ban đầu hay các giá trị tích lũy được cho các quá trình sản xuất tiếp theo của
doanh nghiệp.
1.1.2. Phân loại vốn
Trong quá trình sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật
tư, nguyên vật liệu, hao mòn thiết bị máy móc, trả lương cho công nhân viên…. Đó là
chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được mục tiêu kinh doanh. Nhưng vấn đề đặt ra
là chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình hoạt
động sản xuất của doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn một cách tối đa nhằm đạt mục tiêu kinh doanh lớn nhất. Để quản lý và
kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, hiệu quả sử dụng vốn, tiết
kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và toàn doanh nghiệp. Cần phải tiến hành phân loại
vốn để có thể kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh những loại chi phí mà doanh
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất -kinh doanh. Tùy thuộc vào đứng trên góc độ nào
mà có nhiều cách phân loại vốn khác nhau. Say đây là một số cách phân loại vốn
thường gặp.
1.1.2.1. Phân loại vốn dựa trên giác độ chu chuyển của vốn: gồm vốn lưu
động và vốn cố định.
● Vốn lưu động (VLĐ): là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động (TSLĐ )
và vốn lưu động. VLĐ tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể
trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hóa. Nó là bộ phận của
vốn sản xuất, bao gồm giá trị nguyên vật liệu, vật liệu phụ, tiền lương…. Những giá
trị này được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hóa.
● Vốn cố định (VCĐ): là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ).
TSCĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về
mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kì kinh doanh.
1.1.2.2. Phân loại vốn theo nguồn hình thành: gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
● Nợ phải trả: là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh
nghiệp có trách nhiệm phải trả cho các tác nhân kinh tế như nợ vay ngân hàng, nợ
vay của các chủ thể kinh tế, nợ vay của các các nhân, phải trả người bán, phải nộp
ngân sách….
● Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các
thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Có ba
nguồn cơ bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, đó là: Vốn kinh doanh,
chênh lệch đánh giá lại tài sản (chủ yếu là TSCĐ), các quỹ của doanh nghiệp.
Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm vốn đầu tư xây dựng cơ
bản và kinh phí sự nghiệp (khoản kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp, phát không
hoàn lại sao cho doanh nghiệp chi tiêu cho mục đích kinh tế lâu dài, cơ bản, mục đích
chính trị - xã hội…).
1.1.2.3. Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn: gồm nguồn vốn
thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
● Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ
cho toàn bộ TSCĐ của mình. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn
của doanh nghiệp.
● Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn dùng để tài trợ cho TSLĐ tạm thời của
doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm: Vay ngân hàng, tạm ứng, người mua vừa trả
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
tiền,….
Như vậy ta có thể thấy:
TS = TSLĐ + TSCĐ
= Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
= Vốn tạm thời + Vốn thường xuyên
Việc phân loại theo cách này giúp các doanh nghiệp thấy được yếu tố thời
gian về vốn mà mình nắm giữ, từ đó lựa chọn nguồn tài trợ cho mình một cách thích
hợp nhất.
1.1.3. Vai trò của vốn
Vốn là điều kiện tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp,
đảm bảo cho sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định.
Về mặt pháp lý, mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là
doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, tối thiểu phải bằng lượng vốn
pháp định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại doanh nghiệp).
Trong quá trình hoạt động, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện pháp luật quy
định, doanh nghiệp sẽ phải chấm dứt hoạt động như: phá sản hoặc sát nhập vào
doanh nghiệp khác…. Như vậy, vốn được xem là một trong những cơ sở quan trọng
nhất đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật.
Về kinh tế: Trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, vốn là mạch máu của doanh
nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn không những đảm
bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá
trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra một cách liên tục,
thường xuyên. Vốn là yếu tố quyết định đến mở rộng phạm vi hoạt động của doanh
nghiệp.
Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy thì doanh nghiệp mới có thể
sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
1.2. Khái niệm về vốn lưu động và vai trò của vốn lưu động
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm vốn lưu động
Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi như một tế bào của nền
kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất - kinh doanh nhằm
tạo ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Quá trình sản xuất - kinh
doanh của doanh nghiệp là quá trình kết hợp các yếu tố TLSX, đối tượng lao động,
TLLĐ và sức lao động. Đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất - kinh
doanh luôn thay đổi, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Biểu hiện dưới hình thái
vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động (TSLĐ). TSLĐ của doanh
nghiệp gồm TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất gồm: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng
thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ.
TSLĐ lưu thông gồm: sản phẩm hàng hóa chưa tiệu thụ, vốn bằng tiền, vốn
trong thanh toán.
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông.
Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất - kinh doanh, TSLĐ sản xuất và
TSLĐ lưu thông luôn chuyển hóa lẫn nhau, vận động không ngừng làm cho quá trình
sản xuất - kinh doanh được liên tục
Như vậy, VLĐ của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ
nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện
thường xuyên, liên tục. VLĐ vận động liên tục, chuyển hóa từ hình thái này sang
hình thái khác, chu chuyển giá trị toàn bộ giá trị của nó vào giá trị sản phẩm và hoàn
thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
1.2.2. Phân loại vốn lưu động
Để quản lý và sử dụng VLĐ có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại VLĐ. Có
nhiều cách phân loại khác nhau, thông thường có những cách phân loại sau đây:
1.2.2.1. Phân loại theo vai trò từng loại VLĐ trong quá trình sản xuất -
kinh doanh
Theo cách này VLĐ của doanh nghiệp gồm 3 loại:
● VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ.
● VLĐ trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
● VLĐ trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn
bằng tiền, các khoản vốn đầu tư ngắn, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn,
các khoản vốn trong thanh toán.
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của VLĐ trong từng khâu
của quá trình sản xuất - kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu VLĐ hợp
lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.
1.2.2.2. Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo hình thức phân loại này, VLĐ có thể chia thành hai loại:
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
● Vốn vật tư, hàng hóa: là các khoản VLĐ có hình thái biểu hiện bằng hiện
vật cụ thể như nguyên - nhiên vật liệu, sản phảm dở dang, bán thành phẩm, thành
phẩm,
● Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gưi
ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư, các khoản đầu tư
chứng khoán ngắn hạn
Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho
dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
1.2.2.3 Phân loại theo quan hệ sở hữu
Theo cách này, VLĐ được chia thành hai loại:
● Vốn chủ sở hữu: là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh
nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt.
● Các khoản nợ: là các khoản VLĐ được hình thành từ vốn vay các tổ chức tài
chính, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh
toán. Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu VLĐ của doanh nghiệp được hình thành
bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay các khoản nợ. Từ đó có các quyết định
trong huy động và quản lý, sử dụng VLĐ một cách hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài
chính trong việc sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.2.2.4. Phân loại theo nguồn hình thành
Xét theo hình thái này có thể chia VLĐ thành các nguồn như sau:
● Nguồn vốn điều lệ: là số VLĐ được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban
đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất - kinh
doanh của doanh nghiệp.
● Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do nghiệp tự bổ sung trong quá trình
sản xuất - kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
● Nguồn vốn liên doanh, liên kết: là số VLĐ được hình thành từ vốn góp liên
doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh.
● Nguồn vốn đi vay: vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín
dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.
● Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, tría phiếu.
Việc phân chia VLĐ theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ
cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu VLĐ trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý
tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình.
1.2.2.5. Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Theo cách phân loại này, VLĐ được chia thành hai loại là VLĐ tạm thời và
VLĐ thường xuyên.
● Nguồn VLĐ tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, chủ yếu để đáp
ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
- doanh của doanh nghiệp, bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức
tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác.
● Nguồn VLĐ thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình
thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết.
Việc phân loại nguồn VLĐ như trên giúp cho người quản lý xem xét huy động
các nguồn VLĐ một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng cao hiệu quả tổ
chức và sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp mình. Ngoài ra nó còn giúp cho nhà quản
lý lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn VLĐ
trong tương lai, trên cơ sở xác định quy mô, số lượng VLĐ cần thiết để lựa chọn
nguồn VLĐ này mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.
1.2.3. Vai trò của vốn lưu động
Với sự cạnh tranh trong nền kinh tế ngày càng khốc liệt thì vốn là yếu tố quyết
định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Trong đó VLĐ được coi là
nguồn lực quan trọng nhất trong doanh nghiệp. VLĐ giúp cho doanh nghiệp chớp
được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
VLĐ là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình hoạt động của hàng hóa cũng
như phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ bán hàng của doanh nghiệp, là
bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ
một lần vào giá trị sản phẩm. VLĐ đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả
hàng hóa bán ra.
Mặt khác, VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh thời gian lưu thông
có hợp lý hay không. Do đó thông qua quá trình luân chuyển VLĐ của doanh nghiệp,
các nhà quản trị doanh nghiệp có thể đánh giá kịp thời đối với các mặt hàng mua sắm
dự trữ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn ảnh hưởng tới
kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, do vậy việc quản
lý vốn có ý nghĩa rất quan trọng. Sử dụng vốn hợp lý sẽ cho phép khai thác tối đa
năng lực hoạt động của TSLĐ góp phần hạ thấp chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
Tóm lại, VLĐ có vai trò rất lớn trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh
nghiệp thương mại, việc tìm hiểu và nghên cứu vấn đề sử dụng VLĐ là cần thiết để có
thể đưa ra các biện pháp tối ưu phục vụ cho chiến lượ kinh doanh trong doanh nghiệp.
1.3. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.3.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng VLĐ
Trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ
mô của Nhà nước, hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp phải linh hoạt thích
ứng với cơ chế mới để có thể tồn tại và phát triển. Và do đó vấn đề hiệu quả phải là
mối quan tâm hàng đầu của các daonh nghiệp.
Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục
tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những
điều kiện nhất định. Kết quả mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu trong hoạt
động của mình càng lớn hơn chi phí bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu. Về cơ
bản, vấn đề hiệu quả phản ánh trên hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá
trình sản xuất - kinh doanh với chi phí thấp nhất.
Có nhiều khái niệm về hiệu quả sử dụng VLĐ.
● Đứng từ góc độ kinh tế xem xét thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
được thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận, hay nói cách khác chỉ tiêu lợi nhuận nói lên hiệu
quả sử dụng vốn ở một góc độ nào đó.
Hiệu quả sử dụng VLĐ được biểu hiện bằng mối quan hệ giữa kết quả hoạt
động sản xuất - kinh doanh với số VLĐ đầu tư cho hoạt động của doanh nghiệp trong
một kỳ nhất định
Hiệu quả sử dụng VLĐ =
Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào
● Hiệu quả sử dụng VLĐ là hiệu quả thu được sau khi đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển VLĐ qua các giai đoạn của quá trình sản xuất. Tốc độ này càng cao chứng tỏ
hiệu quả sử dụng VLĐ càng lớn và ngược lại.
● Hiệu quả sử dụng VLĐ là hiệu quả đem lại cao nhất khi mà số VLĐ cần cho
một đồng luân chuyển là ít nhất. Quan niệm này thiên về chiều hướng càng tiết kiệm
được bao nhiêu VLĐ cho một đồng luân chuyển thì càng tốt. Nhưng nếu hàng hóa
sản xuất ra không tiêu thụ được thì hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng không cao.
● Hiệu quả sử dụng VLĐ là thời gian ngắn nhất để VLĐ quay được một vòng.
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
Quan điểm này có thể là hệ quả của quan niệm trên.
● Hiệu quả sử dụng VLĐ là hiệu quả phản ánh tổng TSLĐ so với tổng nợ lưu
động là cao nhất.
● Hiệu quả sử dụng VLĐ là hiệu quả phản ánh số lợi nhuận thu được khi bỏ ra
một đồng VLĐ.
● Hiệu quả sử dụng VLĐ là hiệu quả thu được khi đầu tư thêm VLĐ một cách
hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo
tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng VLĐ.
Nói tóm lại, cho dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hiệu quả sử dụng VLĐ
song khi nói đến hiệu quả sử dụng VLĐ chúng ta phải có một quan niệm toàn diện
hơn và không thể tách rời nó với một chu kỳ - sản xuất kinh doanh hợp lý (chu kỳ sản
xuất kinh - doanh càng ngắn hiệu quả sử dụng vốn càng cao), một định mức sử dụng
đầu vào hợp lý, công tác tổ chức quản lý sản xuất, tiêu thụ và thu hồi công nợ chặt
chẽ. Do vậy cần thiết phải đề cập tới các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng VLĐ.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ
Trong quá trình sản xuất - kinh doanh của mình các doanh nghiệp đã sử dụng
VLĐ để đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được bình thường và
liên tục. Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả từng
đồng VLĐ. Việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả VLĐ được đánh giá thông qua các chỉ
tiêu sau:
● Tốc độ luân chuyển VLĐ
Việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm VLĐ được biểu hiện trước hết ở tốc độ luân
chuyển VLĐ của doanh nghiệp nhanh hay chậm. VLĐ luan chuyển càng nhanh thì
hiệu suất sử dụng VLĐ càng cao và ngược lại.
Tốc độ luân chuyển VLĐ có thể đo bằng hai chỉ tiêu là: số lần luân chuyển (số
vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng quay vốn). Số lần luân
chuyển VLĐ phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong thời kỳ nhất định,
thường tính trong một năm.
Công thức tính:
M
VLĐ
Trong đó:
L: số lần luân chuyển (số vòng quay) của VLĐ trong kỳ.
M: tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
9
L =
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
VLĐ: vốn lưu động bình quân trong kỳ.
● Kỳ luân chuyển VLĐ phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay VLĐ.
Công thức được xác định như sau:
360 (VLĐ x 360)
L M
Trong đó:
K: kỳ luân chuyển VLĐ.
M: tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.
VLĐ: VLĐ bình quân trong kỳ.
Vòng quay VLĐ càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn và
chứng tỏ VLĐ càng được sử dụng có hiệu quả.
VLĐ bình quân tháng, quý, năm được tính như sau:
VLĐ đầu tháng + VLĐ cuối tháng
VLĐBQ tháng = ————————————————
2
VLĐBQ tháng 1 + VLĐBQ tháng 2 + VLĐBQ tháng 3
VLĐQ quý = ———————————————————————
3
Tổng VLĐBQ các quý
VLĐBQ năm = ———————————
4
● Hiệu suất của VLĐ: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ có thể làm ra bao
nhiêu đồng doanh thu.
Công thức:
DT
Hiệu suất của VLĐ (H) = _______
LĐ
Trong đó:
VLĐ: VLĐ bình quân trong kỳ
DT: doanh thu
Số doanh thu tạo trên một đồng VLĐ càng lớn thì hiệu suất của VLĐ càng cao.
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
10
K = Hay K =
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
● Hàm lượng VLĐ (mức đảm nhận VLĐ)
Hàm lượng VLĐ là số VLĐ cần có để đạt được một đồng doanh thu. Đây là chỉ
tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng VLĐ, chỉ tiêu này được tính như sau:
Hàm lượng VLĐ =
1
H
Trong đó: H: Hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp (hiệu suất của VLĐ).
● Tỷ suất lợi nhuận VLĐ
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ phản ánh một đồng VLĐ có thể tạo ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế thu nhập, tỷ suất này càng cao chứng tỏ hiệu quả
sử dụng VLĐ càng cao.
- Tỷ suất lợi nhuận VLĐ trước thuế và lãi vay: chỉ tiêu này phản ánh mức sinh
lời của VLĐ chưa có sự tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và chưa
tính đến VLĐ được hình thành từ nguồn nào.
Công thức tính:
Tỷ suất VLĐ trước
thuế và lãi vay
=
LN trước thuế và lãi vay
x 100%
VLĐ bình quân trong kỳ
- Tỷ suất lợi nhuận VLĐ tính với lợi nhuận trước thuế: chỉ tiêu này
phản ánh mức sinh lời của VLĐ chưa có sự tác động của thuế TNDN.
Công thức tính:
Tỷ suất VLĐ
trước thuế
=
LN trước thuế
x 100%
VLĐ bình quân trong kỳ
- Tỷ suất lợi nhuận thuần: chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của VLĐ, một
đồng VLĐ có thể đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần. Chỉ tiêu này phản ánh
mức sinh lời của VLĐ đã chịu sự tác động của cả thuế TNDN và lãi vay.
Sinh viên Hà Lan Anh Quản lý công 48
11
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét