Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Hình thái giải phẫu




5
trong cây để sử dụng đúng mục đích là yêu cầu về Sinh hóa học (Biochimie)
và khoa Hóa học thực vật được khuyến khích, mục đích để ứng dụng vào các
ngành khoa học khác nhứt là trong ngành Dược, một ngành mà từ rất lâu con
người đã biết sử dụng nhiều sản phẩm khác nhau có nguồn gốc từ thực vật.
Chính do giải phẩu cơ thể thự
c vật mà chúng ta mới biết được nấm, vi khuẩn
và virus ký sinh gây bệnh cho thực vật đồng thời có thể thấy được cơ thể thực vật
phản ứng lại các tác nhân gây bệnh như thế nào, nhờ đó có thể giúp cho các nhà bảo
vệ thực vật có biện pháp phòng trừ bệnh cho cây trồng. Bên cạnh đó, trong công tác
chọn giống cây trồng nông nghiệp hay lâm nghiệp cũng nhờ đến các hiểu biết về hình
thái giải phẩu thực vật. Ví dụ: trong sản xuất giấy cũng cần biết được nguồn gốc và
cấu tạo từng loại celuloz từ các loại cây nào, hoặc việc xác định độ bền cơ học và chất
lượng gỗ của ngành lâm nghiệp cũng phụ thuộc vào yếu tố gỗ và sợi mà kết quả là do
công tác giải phẩu thực vật khoa học Sinh học phân tử
(Biologie moléculaire) là
lĩnh vực đang được quan tâm nhiều nhất hiện nay.
Mối quan hệ giữa hình thái giải phẩu thực vật với Sinh thái học
(Écologie) cũng rất chặt chẽ, nhờ các dấu hiệu biến đổi về hình thái giải phẩu các
cơ quan khác nhau của cây, của các cá thể hoặc của số loài nhứt định mà có thể
giải thích được các hình thức thích nghi khác nhau của cơ thể với điề
u kiện thay
đổi của môi trường. Các thích nghi này có thể di truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác là lĩnh vực của môn Di truyền học (Génétique), đồng thời môn Địa lý học
thực vật (Phytogéographie) nghiên cứu sự phát tán của thực vật trên mặt địa cầu
và nguyên nhân sự phát tán đó.
Cuối cùng, Cổ thực vật học (Paléontologie végétale) là một chương trong
Cổ sinh học (Paléogiologie) nghiên cứu di tích hóa thạch các th
ực vật sống vào
các thời đại địa chất trước đây còn lại trong các lớp khác nhau của vỏ trái đất.
Các di tích này vẫn còn giữ được hình thái bên ngoài và cả những chi tiết hiển vi
trong cấu tạo bên trong cơ thể, không những giúp cho việc xác định lịch sử phát
triển của thực vật mà còn giúp cả cho việc xác định tuổi các tầng lớp vỏ trái đất.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI GIẢI
PHẨU THỰC VẬT

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu nhất về thực vật vẫn là quan sát, so sánh
trên cơ sở các dữ kiện ngoài thiên nhiên, sau đó tiến hành giải phẩu trong phòng
thí nghiệm, so sánh các mẫu vật thu thập được lưu giữ qua bộ bách thảo tập hay
hình ảnh, cuối cùng là phân tích, tổng hợp và rút ra nhận xét. Việc quan sát
không những tiến hành trên cơ thể sống của thực vật mà còn cả trên những bộ
phận đã chết c
ủa các cơ quan, kể cả các cơ quan đang hình thành, cùng với quá
trình phát triển cá thể cũng như chủng loại phát sinh.
Các cấu trúc bên trong cơ thể thực vật đều được quan sát dưới kính hiển vi,
như thế các mẫu vật cần phải được cắt lát thật mỏng theo những phương hướng nhứt
định trong không gian (theo mặt phẳng ngang, mặt phẳng dọc hay tiếp tuyến). Khi cần
quan sát sự hình thành một cơ quan, sự
sắp xếp các mô hay sự biến đổi trong cấu tạo
từ bộ phận này sang bộ phận khác hay theo dõi sự phân chia tế bào, cần tiến hành một
loạt các lát cắt liên tiếp nhau ở nơi đó. Nhưng nếu cần quan sát hình dạng riêng biệt
của tế bào tách ra từ các mô thì sử dụng phương pháp ngâm mủn tách rời các tế bào
ra. Để phân biệt các loại tế bào hay thành phần cấu tạo các loại mô trong cơ quan,
thường các lát cắ
t được nhuộm màu và tùy theo yêu cầu quan sát phần nào mà sẽ



6
nhuộm màu gì cho phù hợp. Trong phòng thí nghiệm thực vật, để nhận biết tế bào có
vách bằng celuloz sẽ nhuộm đỏ bằng carmin, tế bào có vách tẩm mộc tố sẽ được
nhuộm xanh với lục iod, nhân tế bào được nhuộm bằng hematoxylin Tùy theo yêu
cầu nghiên cứu hay sự quan sát mà có thể làm tiêu bản hiển vi tạm thời hay cố định.
Ngày nay, kính hiển vi điện tử phóng đại từ 10.000 đến 40.000 lần đã cho phép
các nhà nghiên cứu giải phẩu tìm ra các cấu trúc siêu hiển vi và phát hiện nhiều đặc
điểm mới của tế bào, cấu trúc nhân, nhiễm sắc thể góp phần trong việc nghiên cứu
giải phẩu và di truyền học hiện đại. Bên cạnh đó, các thành tựu trong công nghệ sinh
học và bằng phương pháp nuôi cấy mô trong môi trường dinh dưỡng thích hợp có thể
nhân giống cây rất nhanh mà không cần đến các hình thức sinh sản khác.

Câu hỏi: 1. Phân biệt giữa hình thức dinh dưỡng là tự dưỡng, dị dưỡng, toàn
thẩm, toàn thực.
2. Liệt kê và mô tả ngắn gọn các giai đoạn hình thành môn Hình thái
giải phẩu thực

vật.


3. Nêu những đặc điểm cho thấy có sự liên quan giữa môn Hình thái
giải phẩu thực vật và các môn học khác.
4. Tại sao người nguyên thủy và người văn minh thường sử dụng thực
vật cho mục đích sơn, kiến trúc và điêu khắc ?
5. Gọi tên và mô tả 3 lãnh vực thực nghiệm của việc nghiên cứu thực
vật.

CHƯƠNG 1 CẤU TRÚC CỦA TẾ BÀO
THỰC VẬT
Từ khoá
- Tế bào
- Mạng nội chất
- Sắc tố quang hợp
- Thủy thể bộ
- Nhân và nhân con
Tóm tắt nội dung
Tất cả các cơ thể thực vật đều được cấu tạo từ tế bào, dù cơ thể đó là cơ thể
đơn bào hay đa bào. Cơ thể đa bào thường gồm nhiều loại tế bào, có thể từ vài chục
đến nhiều triệu hay có khi hàng nhiều tỉ tế bào hoạt động như một thể thống nhứt.
Mỗi tế bào đều được bao quanh bởi một màng tế
bào, màng này hoạt
động như màng ngăn cách giữa bên trong và bên ngoài tế bào đồng thời giúp
điều hòa các hoạt động trong tế bào.
Trong mỗi tế bào đều có tế bào chất và các bào quan, nơi xảy ra các phản
ứng chuyển hóa hóa học và cũng là nơi sản xuất ra các enzim, protein và các
chất cần thiết khác cho tế bào. Nhân là một bào quan không thể thiếu của tế bào
chân hạch do chứa thông tin di truyền và kiểm soát tất cả hoạt động của tế bào.
Ch
ỉ có ở tế bào thực vật mới có sắc tố quang hợp nằm trong cơ cấu đặc
biệt là lục lạp mà nhờ nó, thực vật quang hợp tự tạo ra chất hữu cơ cho chính nó
đồng thời cung cấp những sản phẩm hữu cơ cho tất cả các sinh vật khác. Nếu
không có cây xanh thì cuộc sống của chúng ta trên hành tinh này sẽ như thế nào?





7
Yêu cầu đối với sinh viên
Sau khi nghiên cứu phần này, sinh viên có thể:
- Phân biệt cấu trúc cơ bản của một tế bào thực vật dưới kính hiển vi
quang học gồm: lục lạp, vị trí thủy thể bộ, sắc lạp, hạt tinh bột, nhân với nhân
con bên trong.
- Vẽ và chú thích sơ đồ minh họa vài loại tế bào dưới kính hiển vi quang học.

1. KHÁI NIỆM VỀ TẾ BÀO

Đặt vấn đề: Theo bạn, thế nào là tế bào ? Giữa tế bào động vật và tế bào thực vật
có điểm nào chung và điểm nào khác nhau ? Sự sai khác đó có nói lên điều gì
không ?


Bất cứ cơ thể sống nào cũng đều được cấu tạo bởi những đơn vị cơ bản là
tế bào, mỗi tế bào được sinh ra từ một tế bào khác. Nhiều vi khuẩn và các sinh
vật nguyên sinh có cơ thể chỉ gồm một tế bào có kích thước hiển vi. Một số nấm
và thực vật bậc thấp như tảo có cấu tạo cơ thể hoặc chỉ
gồm một tế bào có kích
thước hiển vi hoặc được cấu tạo do nhiều tế bào mà mỗi tế bào có cấu trúc gần
giống nhau và cùng hoàn thành nhiệm vụ như nhau trong cơ thể thực vật.
Cơ thể thực vật đa bào bậc cao được cấu tạo bởi nhiều tế bào, trong đó các
tế bào chuyên hoá khác nhau về hình dạng và cấu trúc để đảm nhận những nhiệm
vụ đặc biệ
t khác nhau. Mỗi nhóm tế bào tập hợp nhau làm thành mô, nhiều mô
họp thành cơ quan trong một cơ thể thống nhất gồm nhiều cơ quan.
Chu kỳ sống của thực vật phức tạp dần từ thực vật bậc thấp đến thực vật
bậc cao, thể hiện một quá trình tiến hóa lâu dài cũng như những thích nghi trong
cấu tạo cơ thể ngày càng tốt hơn cho việc phát triển giống loài.

1.1 Lược sử về sự phát hiện tế bào
Hầu hết các tế bào đều có kích thước rất nhỏ nên mắt trần không thể quan
sát được, vì thế lược sử phát hiện tế bào gần như là lược sử phát minh ra kính
hiển vi. Galileo người Ý (1564-1642) chế tạo ra viễn vọng kính để quan sát các
vì sao trong bầu trời, vô tình khi quan sát kính với đầu kính lật ngược đã tình cờ
khám phá ra những vật rất nhỏ ở chung quanh. Antonie Van Leeuwenhoek
(1632-1703) người Hà Lan, do yêu cầu kiểm tra tơ lụa nên ông mài các thấu kính
để quan sát ch
ất lượng của vải, nhờ đó quan sát được những vật nhỏ li ti chung
quanh và ông cũng khám phá ra sự hiện diện của thế giới vi sinh vật.
Robert Hook (1635-1723) nhà vật lý học người Anh lần đầu tiên (1665)
mô tả các lổ nhỏ có vách bao bọc của miếng nút bần cắt ngang dưới kính hiển vi,
ông dùng thuật ngữ tế bào (cellula / phòng / buồng nhỏ) để chỉ các lổ đó.

1.2. Thuyết tế bào

Câu hỏi: Thuyết về tế bào đã có từ khi nào ? Bạn biết gì về thuyết nầy và các
thuyết trước nó nếu có?




8

Cho đến thế kỷ thứ XIX, khái niệm sinh vật có cấu tạo tế bào của Robert
Hook mới được "sống dậy" từ nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là công
trình của hai người Đức: nhà thực vật học Mathias Jakob Schleiden (1838) và
nhà động vật học Theodor Schwann (1939) đã hệ thống hóa quan điểm thành
thuyết tế bào: "Tất cả các sinh vật do một hay nhiều tế bào tạo thành", cách
khác: "Tế bào là
đơn vị cấu tạo sống cơ bản của tất cả sinh vật". Năm 1858, bác
sĩ người Đức Rudolph Virchow mở rộng thêm học thuyết tế bào: "Tế bào do tế
bào có trước sinh ra". Sau đó, Louis Pasteur (1862) thuyết phục các nhà khoa
học đồng thời bằng hàng loạt thí nghiệm chứng minh quan điểm của R. Virchow.
Học thuyết tế bào ra đời và được tóm tắt: "Tế bào là đơn vị cấu tạ
o sống cơ bản
của tất cả sinh vật, tế bào do tế bào có trước sinh ra".

1.3. Hình dạng và kích thước tế bào
1.3.1. Hình dạng
Hình dạng tế bào rất biến thiên và tùy thuộc rất nhiều vào tế bào chính là
sinh vật đơn bào hay tế bào là một thành phần đã chuyên hóa để đảm nhận những
nhiệm vụ khác nhau trong cơ thể sinh vật đa bào.
Ở sinh vật đơn bào, tế bào có hình cầu (Chlorella), hình cong như lưỡi
liềm (Closterium), hình trứng (Chlamydomonas) Ở thực vật bậc cao, tế bào có
dạng hình chữ nhật, hình nhiều cạnh g
ần tròn hoặc có hình kéo dài ở hai đầu (tế
bào sợi) Tuy nhiên trong quá trình phát triển của thực vật, hình dạng tế bào có
thể thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ hay sự thích nghi trong môi trường sống.
1.3.2. Kích thước
Kích thước của tế bào biến thiên theo từng loại tế bào, thường tế bào rất nhỏ và
phải dùng kính hiển vi mới quan sát được. Vi khuẩn có lẽ là sinh vật đơn bào có kích
thước nhỏ nhất, kích thước trung bình của tế bào thự
c vật từ 10-1000µm, một số loại
tế bào đặc biệt có kích thước lớn hơn và có thể nhìn thấy bằng mắt thường (tế bào thịt
quả dưa hấu, tép bưởi, cam, sợi đay, sợi gai, sợi bông ).
Hình dạng và kích thước của tế bào còn liên quan đến chức năng của tế bào.
















H.1.1. Các dạng tế bào thực vật : (1) Hình cầu (Chlorella), (2) Hình trứng (Chlamydomonas),
(3) Một số tế bào khác nhau ở các mô của thực vật bậc cao



9


2. CẤU TRÚC CỦA TẾ BÀO

Câu hỏi: Liệt kê các loại bào quan trong tế bào chân hạch và chức năng tương
ứng.

Trong trường hợp điển hình, mỗi tế bào thực vật trưởng thành có một vách
tế bào cứng rắn bao bọc bên ngoài màng sinh chất hay màng tế bào chất ít nhiều
rắn chắc và đàn hồi, bên trong là chất nguyên sinh (protoplasm) gồm tế bào chất
(cytoplasm), nhân (nucleus). Trong tế bào chất có mạng lưới nội chất và bộ máy
Golgi, các bào quan (organelles) có màng bao như ty thể, lục lạp hay không có
màng bao như ribo thể
,


















H.1.2.
H.1.2
2.1. Màng tế bào



H.1.2. Tế bào thực vật với các thành phần bên trong (x 8.000)

2.1. Màng tế bào

Câu hỏi: Thế nào là màng tế bào chất? Hãy cho biết sự quan trọng về mặt sinh lý
học của màng.

Màng tế bào là sản phẩm hoạt động của chất nguyên sinh, được tạo thành
ở những giai đoạn nhất định của sự phát triển của tế bào. Chỉ một số trường hợp
tế bào không nhìn thấy rõ có màng bao bọc và được gọi tế bào trần.
Màng tế bào gồm màng tế bào chất bao quanh khối sinh chất, ng
ăn cách
nó với môi trường bên ngoài và các bào quan khác bên trong khối sinh chất như
màng nhân, màng của ty thể bộ, lục lạp, màng nội chất
Màng tế bào rất mỏng, dày từ 5-10nm nên không thể thấy được bằng kính
hiển vi thường; đây là một màng đôi / kép ngăn cách các tế bào chất với môi
trường bên ngoài tế bào; có cấu trúc gồm 2 lớp phospholipid và ở giữa chèn các



10
phân tử protein màng. Màng tế bào có tác dụng như một hàng rào chọn lọc
kiểm soát các ion và phân tử qua lại giữa tế bào và môi trường xuyên qua màng,
đó là màng thấm chọn lọc (selective permeability) cho phép một số chất đi qua dễ
dàng hơn những chất khác, điều này giải thích hiện tượng co nguyên sinh và
phản co nguyên sinh qua vách tế bào. Hiện tượng thấm thấu xảy ra khi nồng độ
dung dịch bên trong tế bào và ngoài môi trường chênh lệch nhau.

2.2. Tế bào chất

Câu hỏi: Trạng thái "sol - gel" của chất tế bào thể hiện như thế nào?

Tế bào chất là thành phần chất nguyên sinh gồm một khối dịch lỏng là
dịch tế bào chất (cytosol) và bộ khung xương protein của tế bào (cytoskeleton).
Chính tại đây xảy ra các quá trình hoạt động sống của tế bào. Khi tế bào còn non,
tế bào chất chiếm hầu hết hay phần lớn khoang tế bào, trong quá trình phát triển
của tế bào dần dần xuất hi
ện không bào, tế bào càng già thì không bào càng lớn
nên tế bào chất lúc đó chỉ còn là lớp màng mỏng nằm sát màng tế bào. Bên ngoài
tế bào chất là màng ngoại chất (plasmalemme), chính nhờ màng này mà chất tế
bào có thể chứa đến 90% nước vẫn không tan trong nước. Màng ngoại chất được
cấu tạo bằng lipo-protein cứng rắn, khi màng này bị bể thì tế bào chất chảy ra
nhưng tế bào chất sẽ tạo ngay một màng mới.
Bộ khung xương tế bào là mộ
t hệ thống lưới protein phức tạp, sườn
protein này tạo hình dạng của tế bào, nơi xảy ra sự phân chia tế bào, tăng trưởng,
biệt hóa và chuyển động của các bào quan từ nơi này đến nơi khác trong tế bào.
Tế bào chất dưới kính hiển vi điện tử có cấu tạo như sau:
- Một lưới ba chiều (ngang, dọc và đứng) do các phân tử protein hoặc ở
thể phân tử hình cầu hoặc ở
thể những sợi rất dài tạo thành.
- Phân tử lipid làm thành lớp, miếng hay khối giữa các mành lưới phức tạp đó.
- Nước chiếm từ 80-90% hoặc dưới dạng phân tử nước dính vào các gốc háo
thủy của protein trong cơ cấu sinh chất, hoặc thể phân tử nước hay tự do dạng ion.
- Màng ngoại chất là một màng đôi lipo-protein dính nhau do cực kỵ nước
của lipid làm thành. Cơ cấu màng đôi này không chỉ riêng cho màng ngoại chấ
t
mà chung cho tất cả bề mặt giáp với vách tế bào.
2.2.1. Tính chất vật lý của tế bào chất
Tế bào chất dưới dạng thể giao trạng: lỏng như nước, không màu và hơi trong
suốt, có tính đàn hồi; đó chính là hệ thống keo có thể vừa ở trạng thái lỏng (sol) như
nước, vừa có thể ở trạng thái đặc (gel). Tế bào chất là chất đều hòa như một giọt nước
v
ới ánh sáng, tuy nhiên khi có chất độc hay bị đun nóng nó sẽ trở nên đục.
Trạng thái sol đặc trưng cho độ nhớt của tế bào, độ nhớt này có thể thay
đổi tùy thuộc vào loại tế bào, vào trạng thái sinh lý của tế bào và nhứt là nó phản
ảnh cơ cấu của tế bào chất; trạng thái gel gần với thể rắn hơn, do đó nó bảo đảm
hình dạng ổn định của tế bào.
pH của tế bào ch
ất gần trung hòa ( # 7), pH này rất ít thay đổi do trong tế
bào chất chứa hầu hết protein là những ion lưỡng tính, khi gặp acid sẽ hóa hợp
với acid, khi gặp baz sẽ hóa hợp với baz, trong tế bào chất có nhiều chất muối
làm thành môi trường đệm không cho pH biến thiên.
Trong tế bào chất sống, thường xuyên có sự thay đổi trạng thái từ sol sang
gel và ngược lại, đây là đặc tính đặc biệt cần thiết cho đời sống của tế bào, đặc



11
tính này bị ảnh hưởng của tác động môi trường bên ngoài như khi bị đun nóng ở
nhiệt độ cao thì tế bào chất mất khả năng chuyển hóa thuận nghịch từ sol sang gel
và ngược lại và do đó tế bào sẽ chết.
2.2.2. Tính chất sinh lý của tế bào chất
Tế bào chất thường làm thành lớp mỏng sát màng tế bào, luôn chuyển
động vòng (Brown) hay chuyển động qua lại từ nhân ra phía ngoài màng và
ngược lại (chuyển
động tia). Môt số tác nhân bên ngoài (kích thích cơ học, các
chất hóa học hay nhiệt độ) cũng tham gia gây sự chuyển động hay làm thay đổi
tốc độ chuyển động của tế bào.
Trong cơ thể thực vật đa bào, tế bào chất của các tế bào ở cạnh nhau liên
hệ nhau nhờ các sợi liên bào là những sợi mảnh tế bào chất xuyên qua vách tế
bào, giữa các tế bào luôn có sự giao lưu để dẫn truyền các sản phẩm trao
đổi chất
hay dẫn truyền kích thích của các nhân tố bên ngoài vào sâu trong cơ quan.

2.3. Nhân

Câu hỏi: 1. Mô tả cấu trúc và đặc tính sinh học của nhân.
2. Đối với tế bào chân hạch, nhân là trung tâm kiểm soát sự di truyền của tế bào. Theo bạn có
đúng không? Ở tế bào sơ hạch có di truyền tế bào hay không? Và do cấu trúc nào đảm nhận

2.3.1. Số lượng, hình dạng và kích thước
Nhân là một bào quan lớn nhất có màng bao được nhà Vạn vật học người
Anh R. Brown tìm thấy đầu tiên (1831). Tế bào sống - thực vật cũng như động
vật - thường chỉ có một nhân, tuy nhiên một số lớn sợi nấm bậc cao có hai nhân,
một số sợi nấm bậc thấp và tảo có nhiều nhân, đặc biệt tế bào ống sàng là tế bào
sống dẫn truyền ch
ất hữu cơ là không có nhân; ngoài ra nhóm tiền nhân
(Procaryota) chưa có nhân hoàn chỉnh do chưa có màng nhân.
Hình dạng của nhân rất khác nhau: hình cầu trong các tế bào có kích thước
đồng đều, trong tế bào dài, hẹp thì nhân có hình dẹp, thấu kính hay dài. Hình
dạng nhân có thể thay đổi dưới ảnh hưởng chuyển động của tế bào chất, cũng có
khi nhân có hình dạng phức tạp, điều này có thể liên quan đến bệnh lý của tế bào.
Nhân thường to, kích thước trung bình từ 5-500 µm. Nhân nhỏ nhất ở n
ấm
mốc và rong khoảng 1 µm, ngược lại ở những cây họ Tuế (Cycadaceae) nhân to
đến 600 µm. Kích thước của nhân phụ thuộc vào kích thước của tế bào, tế bào to
có nhân to và ngược lại. Tỉ lệ giữa thể tích nhân và thể tích tế bào thường không
đổi và đặc sắc cho từng loại tế bào: ở tế bào non tỉ lệ này cao nhứt là 1/3, tỉ lệ này
giảm dần khi tế bào lớn lên.
Vị trí của nhân trong tế
bào cũng không cố định. Khi tế bào còn non thì
nhân nằm gần trung tâm tế bào, khi tế bào trưởng thành cùng với sự hình thành
một hoặc một số không bào thì nhân cùng với tế bào chất chuyển ra chung quanh
sát với màng tế bào, đôi khi nhân bị di chuyển theo chuyển động Brown của tế
bào chất. Trong tế bào lông hút của rễ cây, nhân nằm ở đầu ngọn lông hút nơi mà
sự hấp thu nước và chất khoáng xảy ra mạnh mẽ nhất.
Nhân gồm có: màng nhân, nhân chất, acid nhân, nhân con







12







H.1.3. Nhân: trung tâm kiểm soát di truyền
2.3.2. Cấu trúc
2.3.2.1. Màng nhân
Bao bọc và ngăn cách nhân với tế bào chất, là một màng đôi gồm 2 lớp
lipoprotein có chiều dày khoảng 30-50nm, khoảng cách giữa 2 lớp khoảng 10-
30nm, mặt trong màng tiếp xúc với nhân chất, màng ngoài có những nơi thông
với mạng nội chất của tế bào, mặt ngoài của màng ngoài tiếp xúc với tế bào chất
và thường chứa nhiều hạt ribo thể.
Giữa 2 màng củ
a màng nhân có một khoảng trống dày từ 150-300A được
gọi là vùng ngoại vi. Màng nhân không liên tục và thông với mạng lưới nội chất
qua những lỗ nhân, mỗi lỗ nhân được viền bởi một phức hợp gồm 8 protein, sự
trao đổi chất xuyên qua các lỗ này được chọn lọc rất cao. Màng nhân có tính
thấm đối với nhiều chất kể cả protein, các chất có phân tử lượng dưới 500 xuyên
qua dễ dàng (Feldherer & Harding, 1964), ngoài ra màng nhân còn là nơi để hai
đầu nhi
ễm sắc thể bám vào.













H.1.4. Sơ đồ thể nhân H.1.5. Màng nhân



2.3.2.2. Nhân chất (nucleoplasm)
Chiếm gần hết phần phía trong màng nhân, gồm dịch nhân và chất nhiễm
sắc; dưới kính hiển vi, dịch nhân có nhiều vùng đậm đặc chứa DNA. -
- Dịch nhân là hệ thống chất keo háo nước, chứa các acid nhân, các chất
hòa tan như các vật liệu để tổng hợp acid nhân, các enzim … Thành phần hóa
học của dịch nhân có các protein đơn giản và các ion Ca
2+
, Mg
2+
.
- Nhiễm sắc thể là do các chất nhiễm sắc tập hợp thành, tùy theo nhân ở
giai đoạn phân chia hay không mà thể nhiễm sắc tồn tại dưới dạng khác nhau. Ở
giai đoạn nghỉ không phân chia nhiễm sắc thể là những sợi dài, mảnh (sợi nhiễm



13
sắc), khi nhân vào giai đoạn phân chia, các sợi xoắn lại, co ngắn, dày lên và
quan sát rõ dưới kính hiển vi quang học.
Thể nhiễm sắc có cấu trúc sợi xoắn vặn. Trên lát cắt mỏng của tế bào, chỉ
thấy từng đoạn ngắn của nhiễm sắc thể dưới dạng hạt, dấu phẩy hoặc hình que,
sợi chính là các DNA và protein. Mỗi nhiễm sắc thể thường có phần thắt eo chia
làm 2 phầ
n bằng nhau hay không và tạo nên các kiểu thể nhiễm sắc khác nhau.
Hình dạng và số lượng nhiễm sắc thể cố định đối với mỗi loài sinh vật, sự thay
đổi thể nhiễm sắc sẽ gây ra những biến đổi về hình thái và chức năng của cơ thể.
2.3.2.3. Acid nhân
Hai acid nhân DNA và RNA có vai trò quan trọng trong sự tồn tại, hoạt
động và sinh sản của sinh vật. Cách khác, là nơi tồn trữ tín hiệu di truyền hay
gene và thông qua chúng, các tín hiệ
u này được sử dụng để điều khiển sự tổng
hợp tất cả protein của tế bào, và như vậy, chúng kiểm soát toàn bộ hoạt động và
sự di truyền của sinh vật.
2.3.2.4. Nhân con / hạch nhân
Trong mỗi nhân thường có 1-2 khối hình cầu nhỏ, chiết quang hơn chất nhân,
đó là hạch nhân. Hạch nhân không có màng ngăn cách với dịch nhân bao quanh,
thường có cấu tạo sợi (mỗi sợi do các hạt nhỏ dính lạ
i với nhau như chuỗi hạt) xếp
thành một khối xốp nằm trong chất nền trong suốt. Các nhân con chứa DNA, RNA,
protein, lipid, enzim, acid nucleic, một số khoáng chất như Zn, Fe, P, K, Ca.
Nhân con có lẽ là một trung tâm tổng hợp acid ribonucleic rất đắc lực,
nhân con có vai trò trong quá trình phân bào: ở tế bào phân cắt đắc lực, hạch
nhân rất to, trái lại hạch nhân rất nhỏ ở các tế bào không tiến hóa nữa, ngoài ra
nhân con là nơi tạo ra các ribosome.
2.3.3. Nhiệm vụ của nhân
Nhân có vai trò rất quan tr
ọng trong tế bào, nó điều khiển mọi quá trình tổng
hợp diễn ra bên trong tế bào cũng như các quá trình sinh trưởng, sinh sản và các hoạt
động sinh lý khác. Nhưng có thể nói vai trò quan trọng bậc nhất của nhân là kiểm
soát di truyền của tế bào; DNA của nhân là bản thiết kế chương trình di truyền của tế
bào, nó qui định tính đặc trưng của protein được tổng hợp nên. Ngoài ra, nhân có
vai trò chủ đạo trong sự sinh sản của tế bào, do trong nhân mang các yếu t
ố di truyền
xác định các đặc điểm của thế hệ con cháu của chúng.
Nhân chỉ có các vai trò nêu trên khi nó được gắn liền với tế bào chất, nếu
tế bào mà không có nhân thì đời sống không kéo dài được, và ngược lại nhân
không có tế bào chất cũng không thể tồn tại. Điều đó cho thấy tế bào là một hệ
thống duy nhất, trong đó mỗi thành phần đều có liên quan chặt chẽ với nhau.

2.4. Mạng lưới nội chất (Endoplasmic reticulum)

Câu hỏi: Sự phân các ngăn bên trong tế bào nhờ mạng lưới nội chất có giúp gì
được cho tế bào?
Mạng nội chất được phát hiện bằng kính hiển vi điện tử vào năm 1945 và
được K.R.Porter đặt tên vào năm 1953. Ngay từ năm 1942, G.W.Searth đã quan
sát được màng này bằng kính hiển vi thường ở tế bào thực vật.



14
2.4.1. Hình dạng và kích thước
Mạng nội chất có ở tất cả tế bào chân hạch, gồm hệ thống các ống và túi có
hình dạng phức tạp xếp hổn độn hay thành mảng song song hay hình tròn đồng trục.
Thường mạng nội chất phân tán khắp tế bào, nhưng ở một số tế bào khác, mạng nội
chất gồm các túi hay phiến mang các hạt lipid hay các tinh thể protein.
Các thay đổi về hình dạng và vật chấ
t chứa trong mạng nội chất tùy thuộc
vào loại tế bào và tùy thuộc từng giai đoạn phát triển cũng như sinh lý trong tế bào:
mạng lưới nội chất rất mịn ở tế bào phôi nên tế bào chất có vẽ như đậm đặc, lưới
phù to ở tế bào già và tế bào chất có vẽ loãng; các túi có vách dày khoảng 50A.
Mạng nội chất trổ ra ngoài ở màng ngoại chất, ở bên trong chúng thông với thủy thể
(không bào), thông với nhân và nhiều quan sát cho rằng màng nhân chỉ là một phần
của mạng nội chất. Theo Buvat thì mạng nội chất khi phù to ra sẽ thành thủy thể.
2.4.2. Màng của mạng nội chất
Màng của mạng nội chất là màng đôi chứa các protein, vừa là thành phần
cấu trúc mạng nội chất vừa là enzim xúc tác các phản ứng hóa học, cách khác
mạng nội chất là một phiến có màng liên tục bao quanh một nội dung bên trong
gọi là lumen, màng của mạng n
ội chất nối liền với màng ngoài của nhân, do đó
chỉ còn màng trong của nhân phân chia lumen với nhân chất.
2.4.3. Vùng sần và vùng láng trên mạng nội chất
Ở một số vùng mạng nội chất gồm nhiều phiến dẹp chồng lên nhau gọi là
cisternae tạo thành vùng mạng nội chất sần, trong khi ở vùng khác, mạng nội chất chia
thành mạng lưới nhiều ống nhỏ không chứa các hạt cisternae và gọi là vùng láng.


























Xem chi tiết: Hình thái giải phẫu


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét