Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Đánh giá triển vọng hợp tác kinh tế ASEAN

1986 2. 978, 0 822, 9 2. 155, 1
Nguồn: Niên giám thống kê năm 1986
Nói chung, các hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam mới đạt 2. 978
triệu USD vào năm 1986. Từ năm 1988 cải cách hệ thống thu ngân sách chính
phủ diễn ra nhanh chóng theo hướng đa dạng hoá các nguồn thu, giảm bớt sự
phụ thuộc vào nguồn thu quốc doanh. Thu quốc doanh giảm dần, từ chỗ các
khoản này chiếm 75% thu ngân sách bình quân trong thời kỳ 1984-1987 giảm
xuống còn 60% trong năm 1988 và 40% trong năm 1990.
Với chính sách xuất khẩu, đa dạng hoá đa phương hoá trong quan hệ ngoại
thương, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh, từ 3. 623 triệu rúp -đôla
năm 1988 lên hơn 20. 000 triệu rúp-đôla năm 1999. Thuế xuất khẩu cũng tăng
lên trong tổng thu ngân sách chính phủ, từ 7, 5% năm 1988 lên gần 12% năm
1990 và đã tăng lên đến 22, 5% năm 1994. Hầu hết mọi loại hàng hoá thương
mại đều phải chịu thuế nhập khẩu, còn thuế xuất khẩu thì được qui định cho
nhiều mặt hàng quan trọng.
Từ ngày 1-3-1992 luật thuế xuất nhập khẩu đã được ban hành. Đó là cơ sở
pháp lý chắc chắn cho việc xử lý thuếu trong giao dịch thương mại quốc tế.
2. Đầu tư trực tiếp:
Vào những năm 80 quan hệ việt nam và ASEAN mới được thiết lập trở lại
chủ yếu là quan hệ thương mại. chính phủ việt nam luôn cố gắng sủa đổi luật
đầu tư để thu hút vốn đầu tư. Tháng 12 năm 1987 quốc hội nước ta thông qua
luật đầu tư nước ngoài. SDo vói điều lệ năm 1977 thì bộ luật này cụ thể hơn, rõ
ràng hơn và thực tế đầu tư nước ngoài được coi là một biện pháp nhằm khai thác
có hiệu quả nguồn lao đọng và cá tài nguyên khác để đẩy mạnh xuất khẩu.
Trong những năm đầu sau khi ban hành luật đầu tư nhìn chung các nhà đầu
tư ASEAN thma gia đầu tư vào việt nam còn mang tính chất dè dặt với những
dự án nhỏ mang tính chất thăm dò, tìm hiêut thị trường việt nam. Phần lớn các
dự án đầu tư của các nước ASEAN tập trung ở một số lĩnh vực như công nghiệp
ché biến, lâm sản, khách sạn, hầu hết các dự án này chiếm 10% số dự án và 11,
5
8%tổng số vốn đàu tư nưcs ngoài tại việt nam. Ngoài một số dự án của
Singapore thì hầu hết các dự án khác của ASEAN dều có số vốn nhỏ. Điều này
phản ánh được bộ luật đầu tư của việt nam chư đồng bộ chưa thông thoáng. Mặt
khác nó thể hiện sự chưa yên tâm của các nhà đầu tư vào thị trường Việt Nam về
chế độ chính sách cung như an ninh. trong khi suác cạnh tranh của các nước
khác là rất lớn.
3. Hợp tác về tài chính ngân hàng
Để thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và ASEAN không phải chỉ
có các hiệp định thương mại là có ttác dụng mà ngoài ra sự hợp tác trên cáclĩnh
vực đầu tư, ngân hàng tài chính, vận tải đều có ảnh hưởng trực tiếp đén quan hệ
này. nhưng do trong khuôn khổ hạn hẹp của bài khoá dưới này chỉ trình bày vào
lĩnh vực hơp tác tài chính ngân hàng.
Thoả thuận hỗ trợ ngọai tệ được các ngân hàng công thương và các cơ quan
tiền tệ cuae ASEAN ký kết tại hội nghị nhằm cung cấp kịp thời những khoản tín
dụng ngắn hạn cho các nước thành viên gặp khó khăn trong thanh toán quốc tế.
theo thoả thuận này mỗi nước thành viên góp 20 triệu USD khi cần được vay 40
triệu USD. Năm 1978 mức đóng góp lên 40 triệu và khoản được vay lên 80
triệu. Mặc dù đã hết hiệu lực vào năm 1992 song đến nay ASEAN vẫn chưa có
quyết định gì về SWAP.
Một thành tựu quan trọng nữa trong lĩnh vực hợp tác tiền tệ là việc sử dụng
các dồng tiền ASEAN trong thanh toán thương mại giữa các nướ ngày càng gia
tăng.
Ngoài ra các thương mại tư nhân ASEAN cũng hợp tác với nhau khá chặt
chẽ thông qua các hiệp hội ngân hàng ASEAN để tài trợ cho các dự án liên
doanh, năm 1981 ngân thương mại tư nhân đã hợp tác thành lập công ty tài
chính ASEAN.
Trong lĩnh vực bảo hiểm, những cuộc họp của những người đứng đầu các
cơ bảo hiểm và tái bảo hiểm trong khu vực hội đồng bảo hiểm ASEAN, một tổ
chức phi chính phủ được thành lập năm 1977 và được công nhận là hội viên liên
kết chính thức của ASEAN từ tháng 6-1993. Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần
6
thứ ba đã thông qua sáng kiến thành lập công bảo hiểm ASEAN (ATC) trên cơ
sơ quĩ bảo hiểm ASEAN.
Về hợp tác hải quan, tháng 3-1983 các nước ASEAN đã ký điều lệ hướng
dẫn hoạt động của hải quan ( The ASEAn custom code ò conduct). Điều lệ này
Giữa các nước thành viên sáng lập ra ASEAN cũng chỉ chiếm 15% tổng số
kim ngạch xuất khẩu của các nước, còn 85% là buôn bán với các nước ngoài
khu vực, chủ yếu là các nước tư bản phát triển. Điều đó là do có nhiều điểm
tương đồng giữa các nước trong khu vực không có lợi cho sự phát triển thương
mại giữa họ. Tất cả đều ở trong tình trạng thiếu nguồn vốn kĩ thuật lạc hậu, cơ
cấu hàng xuất khẩu chủ yếu là nguồn nguyên liệu, nông phẩm và hàng công
nghiệp gia công chế biến dựa vào thu hút nguồn lao động rẻ trong nước còn
đang dư thừa.
Hơn nữa trong thời kì đầu vẫn còn nhiều nhân tố bất ổn định, mâu thuẫn và
nguy cơ xung đột giữa các quốc gia trong khu vực: Liên Xô và Mĩ đã chi phối
chiều hướng phát triển khác nhau tạo ra sự bất đồng, thậm chí có khi quan hệ
giữa các nước trong khu vực còn mang tính đối đầu nhua. Vì vậy, ngay cả khi tổ
chức ASEAN được thành lập, mặc dù mục tiêu phát triển kinh tế xã hội được đặt
lên hàng đầu như trong tuyên bố chung ngày 8 – 8 – 1967 tại Bangkok, Thái Lan
đã ghi: các nước Đông Nam á có trách nhiệm chính về tăng cường sự ổn định
kinh tế xã hội của khu vực; quyết tâm đảm bảo an ninh và ổn định của mình,
không có sự can thiệp của bên ngoài dưới bất kì hình thức biểu hiện nào, nhung
chủ đề chính trong chường trình nghị sự của hội nghị ngoại trưởng thường viên
của ASEAN trong khoảng mười năm đầu chủ yếu tập trung vào việc tạo lập sự
ổn định, bảo đảm an ninh, giải quyết các tranh chấp và tìm kiếm thái độ chung
trước ảnh hưởng quân sự từ nước ngoài. Tháng 2. 1977, hiệp định mậu dịch ưu
đãi ở Manila(Philippin) nhằm tăng cường quan hệ mậu dịch giữa các nước thành
viên. Theo đó mỗi nước sẽ có chính sách cụ thể để dần dần giải phóng mậu dịch
trong khu vực khỏi hàng rào thuế quan cách biệt nhau. Năm 1977 có 4 mặt hàng,
đến cuối năm 1982 có 2. 529 mặt hàng với mác ưu đãi giảm từ 20% đến 25%
thuế quan.
Ngoài ra, do đặc điểm kinh tế xã hội của Việt Nam. Đường lối kinh tế đối
ngoại của Việt Nam nghiêng hẳn về phía các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là
7
từ tháng 6- 1978 trong khoá họp lần thứ 32 của hội đồng tương trợ kinh tế
(SEU) chính phủ Việt Nam quyết định ra nhập SEUvới tư cách là thành viên
chính thức. Liên kết kinh tế với các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa
được mở rộng, trong đó SEU giành cho Việt Nam nhiều sự ưu đãi nhằm tạo điều
kiện cho Việt Nam xây dựng và phát triển mô hình kinh tế theo mô hình xã hội
chủ nghĩa như các nước trong cộng đồng SEU. Cơ cấu tổ chức và cơ cấu hoạt
động ngoại thương mang tính chất chỉ huy, tập trung vào một trung tâm thống
nhất. Nhà nước nắm toàn bộ quyền ngoại thương ngoại giao cho tổng công ty
xuất nhập khẩu đặc quyền hoạt động trong lĩnh vực này. Các tổ chức kinh doanh
xuất khẩu cũng không có quyền chủ động trong các hoạt động xuất nhập khẩu.
Tất cả các hoạt động ngoại thương, giá cả, mặt hàng, thị trường, tỉ giá hối đoái
đều do nhà nước quy định. Nhà nước cung cấp vốn, vật tư, thiết bị cho sản xuất
sản phẩm xuất khẩu theo kế hoạch phân bổ hàng năm. Lãi xuất của các xí
nghiệp xuất nhập khẩu phải nộp cho nhà nước, các khoản lỗ nhà nước sẽ bù.
Hoạt động xuất nhập khẩu trong phạm vi SEU được thực hiện theo các nghị
định thư kí kết hàng năm thu bù chênh lệch ngoại thương và chuyển số dư năm
sau. Cơ chế hoạt động thương mại trong khối các nước xã hội chủ nghĩa nói
chung còn mang nặng tính chất trao đổi hiện vật, mang tính chênh lệch hành
chính.
* Mức độ:
Do những đặc điểm trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Asean nên
nó có ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ trong quan hệ thương mại giữa hai bên.
Nhìn chung quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Asean trong thời gian
này tiến triển rất chậm chạp trong một thời gian dài, chủ yếu là quan hệ với các
nước xã hội chủ nghĩa(chiếm đến 60- 70 % ) còn trong tổng giá trị hàng nhập
khẩu phần từ các nước xã hội chủ nghĩa năm thấp nhất chiếm 56% và cao nhất
lên tới 81%.
Các nước đang phát triển nói chung (có cả nước Đông Nam á) chiếm từ
13% đến 20% trong tổng giá trị xuất khẩu và từ 4% đến13% trong tổng giá trị
nhập khẩu vào Việt Nam trong giai đoạn từ 1976 – 1985.
8
Đến giữa những năm 1986 quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước
ngoài chủ yếu vẫn là các nước xã hội chủ nghĩa và giá trị xuất khẩu tăng chậm
với số lượng thấp.
Trong những năm 1986-1989 Việt Nam còn buôn bán với các nước SEU kim
ngạch buôn bán với khối này trong tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam cao
nhất lên tới 73, 8% (năm 1987) và thấp nhất là năm 1989 cũng lên tới 62%.
Tuy nhiên để đối phó với thách thức bên ngoài các nước ASEAN phải tăng
cường liên kết nội bộ ASEAN nhằm tạo sức mạnh chung cho ASEAN lấy đó là
chỗ dựa cho mỗi nước, chính vì thế mà một sự kiện quan trọng trong sự điều
chỉnh này là lần đầu tiên sau 9 năm thành lập hội nghị cao cấp lần thứ nhất
ASEAN đã tiến hành ở Bali(Inđônêxia) năm 1976. Tuyên bố của hội nghị đã
khẳng định ASEAN là một tổ chức chính trị khu vực nhấn mạnh tầm quan trọng
của kinh tế và hình thành cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn. Điều này rất có lợi cho
quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN sau này.
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM
VÀ SAU NHỮNG NĂM 1990
I. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆT NAM GIA NHẬP ASEAN VÀ THAM GIA AFTA:
Sau nhiều năm và nhiều giai đoạn thăng trầm trong quan hệ đối ngoại giữa
hai bên Việt Nam và ASEAN đã có nhiều chuyển biến quan trọng từ thập kỉ 90
đến nay, kết quả nổi bật nhất từ năm 1995 đến nay, Việt Nam đã được kết nạp
vào ASEAN. Như vậy không gian ASEAN đã được mở rộng từ ASEAN 6 thành
ASEAN 7.
Việc Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức này đã mở ra một thời kì
mới cho tổ chức này, thời kì hội nhập khu vực hoá của Đông Nam á. Đây là lần
đầu tiên một quốc gia do Đảng cộng sản lãnh đạo đi theo hướng xã hội chủ
nghĩa mà trước đó coi là một Đảng nguy hiểm, có một thực tế là sau khi Việt
Nam chính thức trở thành thành viên chính thức của ASEAN thì việc
9
Campuchia, Lào và Myanma tham gia vào tổ chức này chỉ còn là vấn đề thời
gian.
Như mọi người đã biết ASEAN không phải là một liên minh giữa những
nước có cùng trình độ phát triển như EU và cũng không phải là một khối liên
minh mẫu dịch tự do giữa hai nước phát triển và một nước đang phát triển như
khối mậu dịch tự do Bắc Mĩ NAFTA mà là một hiệp hội giữa các nước đang
phát triển có nhiều thể chế chính trị khác nhau, trình độ phát triển khác nhau.
Chính vì thế Việt Nam một quốc gia do Đangr cộng sản lãnh đạo tham gia vào
ASEAN càng thể hiện rõ tính hiệp hội của tổ chức này. Với tinh thần mềm mại
uyển chuyển của hiệp hội và đặc trưng thống nhất trong đa dạng vai trò của
ASEAN càng được khẳng định như một phần của tình hình quốc tế và là khu
vực đang có nhiều thay đổi và phần quan trọng là do sức mạnh của hiệp hội
ngày càng được tăng cường.
Về phần mình, sau khi tham gia ASEAN trước hết là Việt Nam có vai trò
quan trọng hơn trong việc giải quyết nhiêù vấn đề về an ninh chính trị trong khu
vực như việc tranh chấp lãnh thổ, vùng biển hải đảo nguy cơ xung đột sắc tộc
tôn giáo và vấn đề tội phạm quốc tế an ninh nội địa khó kiểm soát. ngoài ra có
thể thấy việc Việt Nam tham gia vào ASEAN tạo ra những tác động qua lại về
kinh tế. Việt Nam với nguồn tài nguyên đa dạng và phóng phú, với thị trường
tiêu thụ rộng lớn ít khắt khe hơn các thị trường ở các nước đang pháp triển là
yếu tố đáng kể để ASEAN đa dạng hơn, có điều kiện thuận lợi hơn trong lĩh vực
hợp tác cùng khai thác, cùng pháp triển trong phạm vi khu vực. Việt Nam hiện
nay đang đạt mức tăng trưởng 8, 2% năm, lạm pháp trên dưới 10%, xuất khẩu
tăng gần 40% đặc biệt mỗi năm Việt Nam cung cấp cho thị trường thế giới hơn
1 triệu tấn gạo. Đó là những thuận lợi của Việt Nam dành cho các ASEAN
trong quá trình hợp tác cùng pháp triển.
Sau khi trở thành thành viên chính thức của ASEAN, Việt Nam đã tuân thủ
các nguyên tắc hoạt động cũng như thực hiện các thoả thuật trong khối. Trong
đó nổi bật nhất là Việt Nam tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) Năm 1995 kim ngạch xuất khẩu chính thức của Việt Nam đạt 5, 2 tỉ
USA và kim ngạch nhập khẩu đạt 7, 5 tỉ USA, thâm hụt 2, 3 tỉ USA trong đó
hơn một nửa thâm hụt với các nước ASEAN, những nước này hầu hết xuất khẩu
10
hàng chế tạo, phân bón và máy móc sangViệt Nam và nhập dàu mỏ từ Việt
Nam. Đồng thời đay cũng là cơ hội để Việt Nam có điều kiện tham vào sự phân
công lao động sản xuất của ASEAN, tạo điều kiện cho Việt Nam đầu tư, pháp
triển có chiều sâu theo hướng chuyên môn hoá và thúc đẩy hơn nữa chất lượng
sản phẩm hàng hoá để có thể vừa hợp tác vừa cạnh tranh trong phạm vi khu
vực.
II. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN AFTA CỦA VIỆT NAM
Để thực hiện AFTA, các nước thành viên có thể tiến hành bắt đầu cắt giảm
thuế quan của các mặt hàng thuộc diện cắt giảm vào những thời gian khác nhau,
nhưng thời điểm hoàn thanh việc cắt giảm là như nhau. Riêng đối với Việt Nam,
những thời hạn phải hoàn thành việc cắt giảm đều được cộng thêm ba năm.
Theo nguyên tắc này, Singapore và Malaysia đã bắt đầu thực hiên việc cắt
giảm thuế quan ngay từ năm 1993. Đối với các mặt hàng có mức thuế quan trên
20%, Brunei bắt đầu giảm từ năm 1994, Philippines năm 1996 Indonesia và Thái
lan năm 1998, Nhưng đối với các mặt hàng có mức thuế quan dưới 20% thì
Brunei và Philippines bắt đầu thực hiện năm 1996 còn Thái lan đến năm 1999
mới bắt đâù thực hiện.
Tại hội đồng AFTA của ASEAN tháng 10 /1995. Việt Nam đã công bố
danh mục giảm thuế 1622 mặt hàng cho cả thời kì 1996-2000 và bắt đầu từ 1-1
-1996 sẽ tham gia ngay vào đợt đầu lịch trình CEPT với 875 danh mục giảm
thuế nhập khẩu xuống 0-5% và sẽ tự do hoá thương mại hoàn toàn vào năm
2006
III. TÌNH HÌNH QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM -ASEAN TỪ SAU NĂM 90.
1. Quan hệ thương mại Việt Nam -ASEAN từ sau năm 1990.
1.1. Về xuất khẩu:
Trước hết xét về mặt cơ cấu buôn bán, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang ASEAN chiếm 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, còn kim
ngạch nhập khẩu từ ASEAN lại chiếm tới chừng 1/3 tổng kim ngạch nhập
khẩu. Mặc dù xuất khẩu gia tăng đặc biệt nhờ mặt hàng chủ đạo là dầu thô xuất
sang Singapore, triển vọng gia tăng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước
ASEAN chưa có những hứa hẹn thay đổi.
11
Bảng: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nước
ASEAN tính đến năm 1996
1992 1993 1994 1995 1996
XK NK XK NK XK NK XK NK XK NK
Indonesia 10, 9 39, 8 22, 9 84, 5 35, 3 116,
3
55, 8 190 45, 7 154,
3
Malaysia 68, 4 35, 9 55, 8 24, 8 64, 8 66, 1 104, 5 190, 5 77, 7 272,
3
Philippin 1, 0 0, 5 1, 6 1, 9 3, 6 15, 0 42, 5 24, 6 132, 0 173,
0
Singapore
Thailand
Nhập
Tổngkim ngạch 2581 2541 2985 1269 3893 5225 5445 8155 7255 3894
Trong tổng số 21, 4 37, 0 17, 8 32, 2 20, 4 30, 0 23, 5 27, 8 35, 0 34, 9
Nguồn: Việt Nam Đông Nam á ngày nay số 2/1997
Tính đến hết tháng 2/1997, tổng gía trị xuất khẩu của Việt Nam sang các
nước ASEAN đạt 1, 883 tỉ USD, chiếm 21% tổng giá trị xuất khẩu của Việt
Nam trong tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam. Như vậy trong buôn bán với
các nước ASEAN-Việt Nam đã nhập siêu 1, 267tỉ USD (tính đến năm 1997).
Riêng năm 1998 do ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ diễn ra ở hầu hết các nước trong khu vực châu á và sự giảm sút của nhiều
mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dầu thô, hạt điều, than đá nên kim ngạch xuất
khẩu của ta chỉ tăng có 0, 9%.
Năm 1999 tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam sang các nước
ASEAN là 23, 159 tỷ USD trong đó vùng Đông Nam á là 5. 751 tỷ USD. Năm
99 mức nhập siêu giảm xuống còn 823 triệu USD. Nhưng một số nhà kinh tế
cho rằng mức nhập siêu sẽ còn tăng lên nữa khi Việt Nam thực hiện chương
trình cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ CEPT. Vì nhiều nuớc trong khu vực
có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam, khả năng cạnh tranh hàng hoá của họ
lớn hơn Việt Nam, nhất là các mặt hàng công nghiệp chế tạo. Trong khi đó mặt
12
hàng xuất khẩu chủ lực của ta chủ yếu là hàng nông sản lại nằm trong danh mục
loại trừ hoàn toàn hoặc cắt giảm thuế chậm trong tiến trình tiến tới AFTA.
Mặt khác, cũng cần thấy rằng một số hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu
sang ASEAN như gạo càphê, cao su, hàng may mặc lại được các nước này tái
xuất sang các nước khác vì công nghệ chế biến của họ cao hơn, họ có thể nâng
chất lượng hàng Việt Nam, hoặc do Việt Nam chưa tìm kiếm, tiếp cận với thị
trường bên ngoài.
1.2. Về nhập khẩu
Việt Nam nhập từ ASEAN chủ yếu là từ những nguyên vật liệu dùng cho
sản xuất mà Việt Nam chưa sản xuất được hoặc chưa đủ đáp ứng được nhu cầu
trong nước như nhôm, ximăng, hoá chất, điện tử, thuốc chữa bệnh…hơn một
nửa tổng số mặt hàng có thuế nhập khẩu hiện thấp hơn 5% đó là hàng hoá vật tư
phục vụ sản xuất hoặc hàng tiêu dùng là sản xuất hoặc hàng tiêu dùng thiết yếu.
Nhập khẩu của Việt Nam từ các nuớc ASEAN có chiều hướng giảm sút
trong năm 1993, 1994, 1995(so với năm 1991 và 1992) nhưng đến năm 1996 thì
chiều hướng này không còn nữa. Kết quả này chắc chắn là do Việt Nam thực
hiện CEPT.
Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN dao động 27-28% so với
tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước trong hai năm 1995và 1996 nhưng năm
1996 tỷ trọng này lại tăng vọt lên là 34, 9%.
1.3. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với hai nước điển hình là
Singapore và Thailand.
a. Quan hệ thương mại Việt Nam -Singapore
Singapore là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam trong khối ASEAN nói riêng
và lớn thứ hai sau Nhật Bản. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng
8/1973. Sau đó đã kí kết với nhau nhiều hiệp định thương mại và kinh tế. Quan
hệ buôn bán giữa hai bên tăng nhanh từ 112 triệu USD năm 1989 lên 691 triệu
năm 1990 và đạt cao nhất lên tới 3. 517 tỷ USD năm 1996 gấp 31, 4 lần năm
1980
Biểu: Xuất nhập khẩu Việt Nam-Singapore
Đơn vị (triệu USD và %)
13
1990 1992 1994 1996 1998 1999
Tổng số 691, 5 1. 223, 3 1. 739, 3 3. 322, 6 3. 517 2. 705
Trong đó
-Xuất khẩu 194, 5 401, 7 593, 5 1. 250 1. 080 822
-Nhập khẩu 497 821, 6 1. 145, 8 2. 032, 6 2. 437 1. 883
% trong ASEAN 77, 8 80, 5 67, 3 69, 7 57, 4 47
Nguồn:tổng cục thống kê, sđđ Bộ kế hoạch và đầu tư
Trong giai đoạn 1990-1989 kim ngạch buôn bán giữa hai nước liên tục tăng
nhanh và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam với
ASEAN. Năm 1990 là 77, 8;1992 là 80, 5 1996 là 69, 7 năm 1998 là 57, 4% và
1999 là 47%, bỏ cách xa bạn hàng thứ hai trong khu vực là thailand. Riêng năm
1996 Singapore là nước đứng đẩu trong các nước có quan buôn bán với Việt
Nam, chiếm 18% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của vệt Nam với thế
giới. Năm 1997 -1999 do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực,
buôn bán hai chiều có giảm đi, nhưng Singapore vẫn còn chiếm tỷ trong lớn
trong tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam. Năm 1997 là 17%, năm 1998là
16, 1% và năm 1999 là 11, 7%.
Năm 1999 Singapore là bạn hàng đứng thứ hai sau nhật bản về nhập khẩu
hàng hoá của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore
chiếm 7, 1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1999. Singapore đứng thứ
nhất về nhập khẩu hạt tiêu, cao su đứng thứ hai về nhập khẩu gạo, đứng thứ ba
về nhập khẩu cà phê, dầu thô của Việt Nam năm 1999.
Việt Nam nhập từ singapore nhiều loại hàng hoá phục vụ cho nhu cầu phát
triển của mình. Tốc độ nhập khẩu tăng nhanh rong thời gian vừa qua, cao nhất là
năm 1998với 2, 437 tỷ USD bằng 490, 3 so với năm 1990. hàng nhập khẩu từ
Singapore chủ yếu là xăng dầu thành phẩm sắt thép các loại máy móc thiết bị,
xemáy, ôtô, hàng điện tử, phân bón
Điểm đáng chú ý là Singapore là một trong những bạn hàng lớn nhất của
Việt Nam, nhưng ngược alị tỷ trọng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam chỉ
chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chỉ bằng 1, 2% trong tổng kim ngạch ngoại thuơng của
Singapore năm 1997. Do thuế xuất nhập khẩu vào Singapore gần như bằng 0%.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét