Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014
giao trinh fx-phan 2
_______________________________________________________________________________________
5
4. So sánh SMA với EMA
4.1 Các ví d
Sự khác biệt giữa EMA và SMA tuy là rất nhỏ,nhưng dù sao vẫn là có.Trong ví dụ này,chúng ta sử dụng
20 ngày cho thấy sự khác biệt đó.Đường EMA theo sát giá thực hơn so với đường SMA.
Từ ngày 10 đến 20, đường EMA gần giá thực hơn đường SMA (8/11 lần). Sự sai biệt trung bình của
đường EMA so với giá thực là 1.52 và đường SMA là 1.69. Điều này nghĩa là đường EMA có 1.52 điểm
nằm trên và dưới giá thực và đường SMA có 1.69 điểm nằm trên và dưới giá thực.
Khi Kodak ngừng đi xuống và bắt đầu đi ngang đường SMA vẫn giữ hướng xuống. Trong khoảng thời gian
này, đường SMA gần giá thực hơn EMA. Đường EMA bắt đầu khựng lại và rời xa giá thực. Điều này là do
giá thực bắt đầu khựng lại. Do giá thực khựng lại nên đường SMA tiếp tục giảm và gần chạm giá thực vào
ngày 13/12
So sánh giữa đường EMA 50-day và SMA 50-day của IBM cũng thấy rằng đường EMA theo xu hướng
nhanh hơn đường SMA. Các mũi tên xanh đánh dấu khi cổ phiếu bắt đầu một xu hướng mạnh. Do đặt
mức ảnh hưởng cao hơn đối với giá gần, đường EMA ảnh hưởng nhanh hơn so với SMA và gần giá thực.
Vòng tròn xám thể hiện khi xu hướng bắt đầu chậm lại và thị trường đi ngang. Khi thay đổi xu hướng bắt
đầu, đường SMA gần giá thực. Khi đến năm 2001, cả 02 đường trung bình hội tụ. Trước 2001, giá bắt đầu
xu hướng lên và EMA nhanh chóng hướng lên theo giá thực và gần với giá thực hơn SMA.
_______________________________________________________________________________________
6
4.2 Đng nào tt hơn ?
Trước tiên hãy bắt đầu với một đường EMA. Khi ta muốn một đường trung bình phản ánh hoạt động giá
nhanh hơn thì một đường EMA với số khoảng thời gian ngắn là cách tốt nhất. Điều này có thể giúp ta nắm
bắt xu hướng giá rất sớm và kết quả là lợi nhuận cao hơn.
Thực vậy, nắm bắt một xu hướng sớm hơn, ta có thể giao dịch trên xu hướng đó dài hơn và thu vào nhiều
lợi nhuận! Mặt trái đối với một đường trung bình biến động nhấp nhô là ta có thể bị đánh lừa, bởi vì đường
trung bình phản ánh quá nhanh đối với giá cả và ta có thể nghĩ rằng một xu hướng mới đang hình thành
nhưng thực tế nó có thể chỉ là một xung nhọn.
Với một đường SMA, khi ta muốn một đường trung bình “trơn tru” hơn và phản ánh chậm hơn hoạt động
giá cả, thì một SMA với số khoảng thời gian dài hơn là cách tốt nhất. Mặc dù nó chậm phản ánh hoạt động
giá, nó sẽ giúp ta không bị sai lầm. Mặt trái là nó có thể làm ta quá chậm và có thể lỡ mất một cơ hội giao
dịch tốt.
Vậy thì cái nào tốt hơn? Thật khó để quyết định. Nhiều người giao dịch vẽ nhiều đường trung bình khác
nhau để có một cái nhìn tổng quát. Họ có thể sử dụng đường SMA với số khoảng thời gian dài để tìm xu
hướng bao quát và sau đó sử dụng đường EMA với số khoảng thời gian ngắn để xác định thời điểm tốt để
giao dịch.
Đường trung bình mà bạn sử dụng sẽ tùy thuộc vào sở thích và cách giao dịch của bạn. Đường SMA hiển
nhiên có một độ trễ, đường EMA có thể bắt được đảo chiều nhanh hơn. Một số trader thích sử dụng
đường EMA đối với khoảng thời gian ngắn để nắm bắt được các thay đổi nhanh hơn. Nhưng một số trader
khác lại thích sử dụng đường SMA trên khoản thời gian dài để xác định thay đổi xu hướng dài hạn.
.Một số người nghĩ rằng các tín hiệu nhạy hơn và nhanh hơn thì tốt, nhưng điều này không luôn luôn đúng
và đây là một điều lưỡng nan trong phân tích kỹ thuật :cân bằng giữa độ nhạy và độ tin cậy. Các tín hiệu
có độ nhạy cao thì càng bị sai lầm nhiều.Do vậy,mỗi trader có kinh nghiệm sử dụng đường trung bình khác
nhau và có cách cân bằng giữa độ nhạy và độ tin cậy riêng.Tóm lại :
Đi vi đng trung bình, đng trung bình ngn hơn s nhy hơn và to nhiu tín hiu hơn.
Đng EMA nhy hơn đng SMA và s cho nhiu tín hiu hơn. Tuy nhiên điu này cũng đng
nghĩa vi vic tín hiu sai tăng lên. Đng trung bình dài hơn s chm hơn và to ít tín hiu hơn.
Các tín hiu này s có đ tin cy cao hơn, nhng chúng cũng tr hơn.
5.Khi nào nên sử dụng phương pháp đường trung bình?
Các đường trung bình làm phẳng dữ liệu giúp dễ xác định xu hướng. Bởi vì giá trong quá khứ được sử
dụng để tạo ra đường trung bình nên chúng được xem là công cụ trễ hoặc theo sau xu hướng. Đường
trung bình sẽ không tiên đoán một thay đổi trong xu hướng, mà theo sau xu hướng hiện tại. Do đó, chúng
phù hợp với mục đính xác định xu hướng chứ không dùng để dự báo xu hướng.
Bởi vì đường trung bình theo sau xu hướng,nên chúng làm việc tốt khi cổ phiếu đang có xu hướng và
không hiệu quả khi thị trường đi ngang (sideway).Vì điều này, các trader thường xác định cổ phiếu có xu
hướng hay không trước khi quyết định phân tích bằng đường trung bình.
Giá cổ phiếu có một trong ba xu hướng : xu hướng lên (uptrend),xu hướng xuống (downtrend) và xu
hướng đi ngang (sideway). Xu hướng lên được thiết lập khi giá sau cao hơn giá trước, Xu hướng xuống
được thiết lập khi giá sau thấp hơn giá trước, và xu hướng ngang khi cổ phiếu không thể thiết lập xu
hướng lên hoặc xuống. Nếu cổ phiếu đang xu hướng ngang, một xu hướng lên bắt đầu khi đường biên
trên bị phá vỡ và ngược lại xu hướng xuống hình thành khi đường biên dưới bị phá vỡ.
_______________________________________________________________________________________
7
Trong đồ thị giá của Ford ở trên, giá cổ phiếu có thể vừa lên vừa xuống. Các vòng tròn đỏ cho thấy những
lúc giá dao động trong một phạm vi hẹp. Thật khó để xác định khi nào một xu hướng sẽ dừng và giá bắt
đầu dao động trong một phạm vi hẹp hoặc khi nào giá ngừng dao động trong một phạm vi hẹp và xu
hướng sẽ bắt đầu. Chú ý những lúc giá dao động hẹp và những lúc phá vỡ hình thành xu hướng. Đường
trung bình làm việc tốt những lúc có xu hướng, nhưng không tốt những lúc dao động trong phạm vi
hẹp.Cũng chú ý rằng đường trung bình chậm sau xu hướng : nó luôn luôn nằm bên dưới giá khi xu hướng
lên và nằm bên trên giá khi xu hướng xuống. Đường SMA – 50 day được sử dụng trong ví dụ này. Tuy
nhiên,việc lựa chọn khoảng thời gian cho đường trung bình còn tùy thuộc vào tính chất của cổ phiếu cũng
như kiểu đầu tư, kiểu giao dịch…
Nếu giá dao động lên xuống trong thời gian dài thì đường trung bình không phải là một lựa chọn tốt nhất
cho việc phân tích. Đồ thị của Coca-Cola cho thấy cổ phiếu dao động từ 60 đến 40 trong 02 tháng của năm
2001. Trước khi giá đi xuống, giá dao động trên và dưới đường trung bình. Sau đợt giảm, cổ phiếu tiếp tục
dao động và không hình thành xu hướng,giá cổ phiếu cắt qua đường SMA – 70 days rất nhiều lần và tạo
ra nhiều tín hiệu giả.Cố gắng phân tích dựa vào đường trung bình những lúc này thì không hiệu quả.
Nhìn qua đồ thị dưới đây của Time Warner(TWX) cho chúng ta một bức tranh khác. Trên cùng một khoảng
thời gian, TWX đã thể hiện khả năng hình thành xu hướng. Có 03 xu hướng rõ ràng. Khi cổ phiếu di
chuyển lên bên trên hoặc xuống bên dưới đường SMA – 70 days, nó tiếp tục xu hướng đó trong một
khoảng thời gian dài hơn.Một đường trung bình dài hơn có thể làm việc tốt hơn, đồ thị của TWX đã thể
hiện xu hướng tốt hơn.
_______________________________________________________________________________________
8
6. Xác định thông số đường trung bình
Khi một cổ phiếu đã thể hiện xu hướng, công việc kế tiếp là chọn lựa một số khoảng thời gian cho đường
trung bình và kiểu đường trung bình. Một số khoảng thời gian được sử dụng cho đường trung bình sẽ thay
đổi tùy thuộc vào tính chất biến động của cổ phiếu, khuynh hướng và sở thích của cá nhân. Đối với cổ
phiếu biến động nhiều thì cần làm phẳng nhiều hơn do đó đường trung bình dài hơn. Không có bộ thời
gian chuẩn, nhưng một vài bộ thời gian đươc sử dụng phổ biến như : 21, 50, 89 và 200 days; 10, 30 và 40
week. Các trader ngắn hạn thường tìm tín hiệu xu hướng 2-3 tuần bằng đường trung bình 21 day. Phương
pháp thử và vi sai là phương tiện thông dụng tốt nhất để tìm khoảng thời gian phù hợp. Kiểm tra xem
đường trung bình so với giá như thế nào. Nếu giá và đường trung bình cắt nhau quá nhiều thì cần tăng
khoảng thời gian của đường trung bình. Nếu đường trung bình phản ánh giá chậm thì cần giảm khoảng
thời gian của đường trung bình. Thêm vào đó, có thể sử dụng cả 02 đường trung bình SMA và EMA.
Đường EMA thường sử dụng tốt nhất cho ngắn hạn vì cần sự đáp ứng nhanh của đường trung bình.
Đường SMA làm việc tốt hơn cho dài hạn.
7. Sử dụng đường trung bình
Có nhiều công dụng đối với đường trung bình, nhưng các công dụng nổi bật là :
- Nhận biết/xác định xu hướng
- Nhận biết/xác định các mức hỗ trợ và kháng cự
- Hệ thống giao dịch
7.1 Nhận biết/xác định xu hướng
Có 03 cách nhận biết xu hướng với đường trung bình : hướng, vị trí và giao cắt.
7.1.1 Hướng
Để nhận biết xu hướng là sử dụng hướng của đường trung bình để xác định xu hướng. Nếu đường trung
bình đi lên, xu hướng lên. Nếu đường trung bình đi xuống, xu hướng xuống. Hướng của đường trung bình
có thể xác định đơn giản bằng cách nhìn vào đường trung bình trên đồ thị.
_______________________________________________________________________________________
9
Trong trường hợp của Disney (DIS), đường EMA 100-day được sử dụng để nhận biết xu hướng. Một số
điểm đảo chiều quan trọng được khoanh đỏ. Một số tín hiệu tốt được đưa ra nhưng cũng có một số tín
hiệu giả và tín hiệu trễ. Khoảng thời gian của đường trung bình sẽ ảnh hưởng đến số tín hiệu và khả năng
chậm trễ của tín hiệu. Đường trung bình là một công cụ báo hiệu trễ. Do đó, đường trung bình càng dài thì
phản ánh giá càng chậm. Đối với các tín hiệu nhanh có thể sử dụng đường EMA-50 days.
7.1.2 Vị trí giá
Để nhận biết xu hướng là xét vị trí giá.Vị trí giá so với đường trung bình có thể được sử dụng để nhận biết
hướng cơ bản. Nếu giá bên trên đường trung bình thì xu hướng lên. Nếu giá bên dưới đường trung bình
thì xu hướng xuống.
Đây là một ví dụ rất dễ hiểu. Xu hướng dài hạn của Cisco (CSCO) được nhận biết bằng vị trí của đường
SMA 100-day. Khi giá CSCO bên trên đường SMA thì xu hướng tăng. Khi giá bên dưới SMA thì xu hướng
giảm. Tín hiệu mua và bán được tạo khi giá cắt qua đường trung bình. Một tín hiệu bán sai được tạo vào
tháng 8/1999 và một tín hiệu mua sai được tạo vào tháng 7/2000. Cả 02 tín hiệu này đều xảy ra khi xu
hướng của Cisco bắt đầu đảo chiều.
7.1.3 Sự giao cắt
Để nhận biết xu hướng là dựa trên vị trí của một đường trung bình ngắn so với một đường trung bình dài.
Nếu đường trung bình ngắn bên trên đường trung bình dài thì xu hướng lên. Nếu đường trung bình ngắn
bên dưới đường trung bình dài thì xu hướng xuống.
_______________________________________________________________________________________
10
Đối với Inter-Tel (INTL), đường trung bình 30 và 100 cắt nhau được sử dụng để nhận biết xu hướng. Khi
đường trung bình 30 bên trên đường trung bình 100 thì xu hướng lên. Khi đường trung bình 30 bên dưới
đường trung bình 100 thì xu hướng xuống. Một biểu đồ vi sai 30/100 được vẽ bên dưới đồ thị giá bằng
công cụ Percentage Price Oscillator (PPO) với thông số (30,100,1). Khi vi sai là dương thì xu hướng lên,
khi vi sai là âm thì xu hướng xuống. Cũng như tất cả các công cụ theo sau xu hướng, tín hiệu là hiệu quả
khi giá tạo một xu hướng mạnh, nhưng không hiệu quả khi giá dao động (sideway) trong phạm vi đó. Cũng
lưu ý rằng tín hiệu có khuynh hướng trễ và xuất hiện sau khi biến động đã bắt đầu.Một lần nữa, các công
cụ theo sau xu hướng sử dụng tốt nhất để nhận biết xu hướng chứ không phải để tiên đoán xu hướng.
7.2 Nhn bit/xác đnh các mc h tr và kháng c
Một công dụng khác của đường trung bình là xác định các mức hỗ trợ và kháng cự. Việc này được thực
hiện với một đường trung bình và được dựa trên sự kiện trước đó. Cũng như việc xác định xu hướng, việc
xác định các mức hỗ trợ và kháng cự thông qua đường trung bình đem lại hiệu quả tốt nhất trong các thị
trường đã có xu hướng rõ.
Qua đồ thị của Sun Microsystems (SUNW) dưới đây cho thấy :sau khi tạo thành xu hướng đi lên, giá đã
test thành công các mức hỗ trợ của đường trung bình vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8. Sau lần test đầu
tiên, đường trung bình 50-day đã thành công tiếp thêm 4 lần test mức hỗ trợ cho các tháng tiếp theo. Một
cú phá vỡ mức hỗ trợ của đường trung bình báo hiệu rằng cổ phiếu có thể chuyển sang dao động trong
phạm vi và có thể đảo hướng. Giá phá vỡ đường trung bình vào tháng 4/2000 và đường trung bình trở
thành mức kháng cự các tháng sau đó. Khi giá cắt đường trung bình vào tháng 6/2000, đường trung bình
trở lại làm mức hỗ trợ cho đến tháng 10/2000.
7.3 H thng giao dch (Sẽ đề cập sau này)
_______________________________________________________________________________________
11
II. BOLLINGER BANDS
1. Giới thiệu
Được John Bollinger phát triển, Bollinger Bands là một công cụ cho phép người sử dụng so sánh độ bất ổn
định của thị trường,nó cho ta biết thị trường yên lặng hay sôi động!Khi thị trường yên lặng, dải băng co hẹp
lại,khi thị trường sôi động dải băng rộng ra.
Công cụ này bao gồm 03 đường được thiết kế để bao quanh phần lớn hoạt động của giá:
- Một đường trung bình ở giữa – Middle band
- Một đường bên trên – upper band
- Một đường bên dưới – lower band
2. The Bollinger Bounce
Điều đầu tiên ta nên biết về các dải băng Bollinger là giá có khuynh hướng quay trở lại giữa dải băng. Đây
là toàn bộ ý nghĩa của Bollinger bounce.
Đối với trường hợp này, nhìn vào đồ thị dưới đây bạn có thể cho biết giá sắp tới như thế nào?
Nếu bạn trả lời là xuống thì bạn đúng! Như bạn thấy, giá xuống trở lại vùng giữa dải băng.
_______________________________________________________________________________________
12
Đó là tất cả những gì chúng ta có. Cái bạn vừa thấy là một đường Bollinger bounce kinh điển. Các dải
băng Bollinger hoạt động như các mức hỗ trợ và kháng cự nhỏ. Đối với khung thời gian dài, các dải băng
sẽ mạnh hơn. Nhiều người giao dịch đã phát triển hệ thống dựa trên các bounce để phát đạt. Chiến thuật
này được sử dụng tốt nhất khi thị trường đang lên xuống giữa 02 mức và không có xu hướng rõ ràng.
Bây giờ hãy xem cách sử dụng dải băng Bollinger khi thị trường hình thành xu hướng.
3. Bollinger Squeeze
Tên Bollinger squeeze (co thắt lại) tự nó cũng giải thích khá rõ. Khi các dải băng ép lại với nhau, nó thường
có nghĩa là một cú phá vỡ sắp xảy ra. Nếu giá đỡ bắt đầu vượt khỏi dải băng trên thì hướng biến đổi sẽ
thường là tăng. Nếu giá đỡ bắt đầu vượt khỏi dải băng dưới thì hướng biến đổi sẽ thường là tiếp tục đi
xuống. Nhìn trên đồ thị trên, bạn có thể nhìn thấy các dải băng ép sát lại nhau. Giá bắt đầu vượt khỏi dải
băng bên trên. Dựa vào thông tin này bạn nghĩ giá sẽ có biến đổi như thế nào?
Nếu bạn trả lời tăng thì bạn đúng. Đây là cách một Bollinger Squeeze tiêu biểu làm việc. Chiến thuật này
được thiết kế để bạn có khả nắm bắt được một biến đổi sớm. Dạng này không xảy ra hằng ngày, nhưng
bạn có thể phát hiện ra chúng vài lần một tuần nếu bạn xem đồ thị 15 phút.
4. Công thức tính
Dải Bollinger bao gồm 03 đường trong đó ở giữa là đường trung bình SMA và hai đường biên trên và
dưới,hình thành như sau:
- Đường biên trên = SMA + 2 standard deviations (High band)
- Đường biên dưới = SMA - 2 standard deviations (Low band)
Standard deviation là một đơn vị đo lường thống kê cung cấp sự đánh giá độ bất ổn định của đồ thị giá. Sử
dụng standard deviation đảm bảo các đường bollinger sẽ đáp ứng nhanh với các biến động giá và phản
hồi độ bất ổn định cao hay thấp. Giá tăng hoặc giảm đột ngột sẽ tạo thành dãy băng rộng.
_______________________________________________________________________________________
13
Bollinger đề nghị sử dụng đường SMA 20 cho đường ở giữa và 2 standard deviation cho các đường ngoài.
Độ dài của đường trung bình và số deviation có thể điều chỉnh cho tốt hơn tùy thuộc vào sở thích cá nhân
và đặc tính của cổ phiếu.
Giá đóng cửa là giá thường được sử dụng để tính Bollinger Bands.Các biến thể khác cũng có thể được sử
dụng bao gồm typical price và weighted price.
Typical Price = (high + low + close)/3
Weighted Price = (high + low + close + close)/4
_______________________________________________________________________________________
14
Bằng cách quan sát trên đồ thị có thể xác định khoảng thời gian phù hợp cho đường trung bình. Các
đường bollinger sẽ bao quanh phần lớn hoạt động biến đổi của giá nhưng không phải là hoàn toàn. Sau
khi có biến động đột ngột, việc giá xuyên qua dãy băng là bình thường. Nếu việc giá vượt qua khỏi dãy
băng xuất hiện thường xuyên thì đường trung bình cần dài hơn. Nếu giá hiếm khi chạm vào 02 đường
ngoài của dãy bollinger thì đường trung bình cần ngắn hơn.
Đối với các khung thời gian chung, Bollinger đề nghị sử dụng đường SMA 10-day cho ngắn hạn, đường
SMA 20-day cho trung hạn và đường SMA 50-day cho dài hạn.
5. Tín hiệu mua bán
Ngoài việc xác định quan hệ giữa các mức giá và độ bất ổn định, đường Bollinger Bands có thể kết hợp
với biến động giá và các công cụ khác để đưa ra tín hiệu và dự báo các biến động quan trọng.
5.1 Double bottom Buy
Một tín hiệu Double Bottom Buy được tạo thành khi giá vượt qua đường bollinger dưới và nằm bên trên
đường bollinger dưới sau khi tạo tiếp mức giá thấp tiếp theo. Mức giá thấp có thể cao hơn hoặc thấp hơn
so với mức giá thấp trước đó. Điều quan trọng là mức thấp thứ hai phải nằm trên đường bollinger dưới.
Giá chuyển sang xu hướng lên được xác định khi giá di chuyển lên trên đường bollinger giữa.
AT&T (T) cho chúng ta một ví dụ của một tín hiệu Double Bottom Buy. Cổ phiếu đã vượt qua đường
bollinger dưới vào cuối tháng 9 (mũi tên đỏ) và sau đó giữ bên trên tại mức thấp kế tiếp trong tháng 10.
Đợt tăng giá tháng 10 vượt qua đường bollinger giữa chứng tỏ xu hướng tăng giá.
5.2 Double Top Sell
Một tín hiệu Double Top Sell được tạo thành khi giá vượt qua đường Bollinger trên và đỉnh của đợt tăng
giá kế tiếp không vượt qua được đường bollinger trên. Giá chuyển sang xu hướng xuống được xác định
khi giá di chuyển xuống bên dưới đường bollinger giữa.
5.3 Bollinger Squeeze
Việc thay đổi giá đột ngột có thể xảy ra sau khi dãy bollinger thu hẹp lại và sự bất ổn định thấp. Trong ví dụ
này, đường bollinger không đưa ra bất kỳ tín hiệu nào về xu hướng của giá trong thời gian tới. Xu hướng
phải được xác định bằng cách sử dụng các công cụ phân tích kỹ thuật khác. Nhiều cổ phiếu chuyển sang
biến động mạnh sau một khoảng thời gian biến động ít. Việc sử dụng đường bollinger có thể xác định mức
độ biến động dễ dàng bằng quan sát đồ thị. Dãy băng hẹp cho biết thị trường ít biến động và dãy băng
rộng cho biết thị trường biến động mạnh
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét