LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Địa lí phổ thông - du lịch sinh thái": http://123doc.vn/document/533838-dia-li-pho-thong-du-lich-sinh-thai.htm
TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN 195
SỰ CÔNG NHẬN VÀ CHỨNG NHẬN 197
Kết
luận 213
Câu hỏi ôn tập 214
Chương 7: Xây dựng chương trình du lịch sinh thái: tập
trung vào sự trải nghiệm 215
Tại sao chúng ta nên hòa nhịp vào thị trường kinh doanh? 216
Kế hoạch thực hiện chương trình 221
Triết lý, vấn đề và mục tiêu khách
quan 222
Nhu cầu và tài sản có trong tay 224
Những tiêu chí đánh giá 224
Những điểm thu hút và nguồn tài nguyên 225
Cấu trúc thiết kế chương trình 229
Thiết kế chương trình: vấn đề hậu cần 231
Lí do chúng ta phải cẩn trọng 232
Thiết kế chương trình: rủi ro và cách lãnh đạo 234
Sự rủi ro có thể xảy ra trong quá trình quản lí 234
Thực hiện chương trình 237
Đánh giá 239
Đánh giá định hình và tổng
kết 240
Cách đánh
giá 240
Nghiên cứu thực tiễn
7.1 242
5
Dẫn giải du lịch sinh thái
Kết
luận 243
Câu hỏi ôn tập 244
Chương 8: Phát triển du lịch: quốc tế, cộng đồng và
triển vọng vùng du lịch 244
Vấn đề quốc tế 244
Lý thuyết phát triển 244
Du lịch tại các nước chưa phát triển 247
Khái niệm tiền ngoại biên 249
Phát triển cộng đồng 253
Sự hợp tác 262
Nghiên cứu thực tế 8.1 264
Nghiên cứu thực tiễn 8.2 268
Phát triển điểm đến 274
Thiết kế bền vững và nhà nghỉ sinh thái 275
Nghiên cứu thực tiễn 8.3 279
Nghiên cứu về khu nghỉ dưỡng sinh thái 281
Kết luận 283
Câu hỏi ôn tập 284
Chương 9: Vai trò của các nguyên tắc đạo đức trong du
lịch sinh thái 285
Nguyên tắc đạo đức 286
Nguyên tắc đạo đức và du lịch 289
Nghiên cứu thực tiễn
9.1 290
Thiếu các nghiên cứu 293
6
Dẫn giải du lịch sinh thái
Vai trò của đạo đức học trong du lịch sinh thái 299
Nghiêncứu thực tế 9.2 299
Bên ngoài những quy tắc đạo đức học 303
Kết luận 309
Câu hỏi ôn tập 310
Kết luận 312
Phụ lục 324
CHƯƠNG 1 Bản chất của du lịch
7
Dẫn giải du lịch sinh thái
Trong chương này hệ thống ngành du lịch sẽ được đề cập tới, bao gồm những định nghĩa
về du lịch và các nhân tốthành tố ngành có liên quan. Các điểm đến được quan tâm đáng
kể với tư cách là những thành tốnhân tố cơ bản của hoạt động du lịch. Những mô hình du
lịch đại chúng và du lịch mang tính thay thế được giới thiệu với tư cách là phương thức
tiếp cận phù hợp với sự phát triển của du lịch ngày nay. Cuối cùng, phần lớn chương này
dành đề cập tớicho sự phát triển bền vững và du lịch bền vững cùng những biểu hiện của
du lịch bền vững; với mục đích chứng minh sự hợp lý của hình thức phát triển này cho
tương lai của ngành du lịch. Những lập luận này sẽ cung cấp thông tin cơ bản nhằm tìm
hiểuphân tích du lịch sinh thái. Thông tin, sẽ được nêu ra đầy đủđề cập cụ thể ở chương 2.
Định nghĩa về du lịch
Là một trong những ngành công nghiệp phát triển nhất của thế giới, du lịch liên quan tới
nhiều bộ phậnlĩnh vực chủ yếu của kinh tế thế giới. Với những khái niệmhiện tượng tương
tự mà có , sự gắn kết phức tạp rất khó đan kết thành kết cấu của cuộc sống về mặt kinh tế,
văn hóa xã hội và môi trường;. H hơn nữa, nó còn phụ thuộc chủ yếu và thứ yếu vào mức
độ tăng trưởngcác cấp độ khác nhau của việc sản xuất và dịch vụ; . Vvì ì vậy thật khó để
định nghĩa những khái niệmthuật ngữ cơ bản. Điều khó khăn này được phản ánh trong một
xã luận năm 1991 của The economist:
Không có định nghĩa nào đầy đủ về du lịch, bất cứ định nghĩa nào đưa ra đều có thể dẫn
tới nguy cơ ngành này được đánh giá quá cao hoặc quá thấp. Có thể nói định nghĩa đơn
giản nhất của du lịch là đưa con người tới một nơi khác không phải nơi ở của mình (và
ngược lại), nơi này sẽ cung cấp phòng dịch vụ lưu trú và thực phẩm cho họ khi đi trong
thời gian họ xa nhà. Song cũng không phải các mọi trường hợp đều gắn với việc di
chuyển. GiảGỉa dụ như việc kinh doanh của các nhà hàng cũng được tính trong du lịch và
lữ hành, và con số này sẽ được thổi phồng lên do việc kinh doanhbán hàng cho cư dân
của các địa phương. Điều này không bao gồm tất cả doanh thu của nhà hàng mà đó là sự
lầm lẫnNhưng nếu loại bỏ tất cả các doanh thu của nhà hàng sẽ dẫn tới sự nhầm lẫn
8
Dẫn giải du lịch sinh thái
Theo Clawson and Knetsch (1966) and Mitchell (1984), cChính sự hòa nhập phức tạp
trong hệ thống kinh tế xã hội (thiếu sự tập trung cần thiết) đã khiến những nỗ lực định
nghĩa về du lịch trở nên khó khăn. Việc nghiên cứu về du lịch thường được đặt ở những
thái cực khác nhau về phương pháp mang tính thừa nhậntiếp cận, định hướng phương pháp
luận và ý nghĩa của việc nghiên cứu. Sự phong phú của các định nghĩa du lịch, mà mỗi
định nghĩa mang những đặc điểm chặt chẽ, phản ánh những quan điểm nghiên cứu thống
nhất với các lĩnh vực khác nhau. Gỉa dụ Ví dụ như, du lịch chia sẻ những đặc điểm cơ bản
đặc trưng và những nền tảng mang tính lý thuyết về tương tự như sự nghiên cứu về sự giải
trí và nghỉ dưỡng được nghiên cứu. Theo Jansen- Verbeke and Dietvort (1987) thì những
khái niệm về “giải trí”, “nghỉ dưỡng” và “du lịch” thể hiện sự thống nhất hài hòa, không rõ
rệt dựa trên các nét đặc trưng, các hoạt động và dựa trên kinh nghiệm nhờ vậy có thể thấy
được sự khác nhau của các thuật ngữ trên. Nói cách khác, các định nghĩa có tính kinh tế
hoặc tính chuyên môn/ thống kê thường bỏ qua yếu tố trải nghiệm của con người trong các
khái niệm, thay vào đó lại ưa thích sự tiếp cận khi dùng phương pháp dựa trên hoạt động
của con người vượt qua những rào cản về chính trị và số lượng tiền có được từ hoạt động
này.
Đó còn là mối liên hệ với các môn học khác nhau như tâm lý học, xã hội học, nhân chủng
học, địa lý, kinh tế góp phần giúp định nghĩacho sự phức tạp của du lịch. Tuy nhiên, mặc
dù có mối liên hệ gần gũi giữa các môn học đó, một số người bao gồm Leiper (1981) ủng
hộ môn du lịch thuần túy. Theo ông phương pháp tiếp cận môn du lịch này cần phải xây
dựng xoay quanh cấu trúc của ngành công nghiệp mà ông cho là một hệ thống mở của 5
thành tố tương tác với môi trường rộng lớn hơn: (1) nhân tố con người hoạt độngyếu tố
năng động của con người, (2) vùng phát sinh, (3) vùng chuyển tiếp, (4) địa điểm và (5)
ngành du lịch. Định nghĩa này khá giống so với định nghĩa được đưa ra bởi Mathieson và
Wall (1982) những người luôn cho rằng du lịch gồm 3 thành tố cơ bản: (1) nhân tố hoạt
động liên quayếu tố năng động,n liên quan tới việc di chuyển tới địa điểm được lựa chọn,
(2) nhân tốyếu tố không đổi ( tĩnh) có liên quan tới việc lưu lại địa điểm đã chọn và (3)
nhân tố kết quả từ hai nhân tố trên, quan tâm tới những ảnh hưởng lên các hệ thống phụ về
kinh tế, xã hội và vật chất mà qua đó du lịch chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp.
Những nhà nghiên cứu khác, trong đó có Mill và Morrison thì định nghĩa du lịch là hệ
9
Dẫn giải du lịch sinh thái
thống của các phần liên quan. Hệ thống này giống như mạng nhện- khi chạm vào một phần
của nó thì những ảnh hưởng dội lại sẽ đựợc cảm nhận ở khắp nơi (Mill và Morrison 1985:
xix). Bao gồm trong hệ thống du lịch này là 4 bộ phận cấu thành: Thị trường (vươn tới
thương trường), Đi du lịchLữ hành (mua các sản phẩm du lịch), Điểm đến (hình thành nhu
cầu đi du lịch) và Quảng báTiếp thị (bán sản phẩm du lịch).
Nhận thức được vấn đề khó khăn trong việc định nghĩa du lịch, Smith (1990s) thấy rằng
nên chấp nhận sự tồn tại những định nghĩa khác nhau về du lịch, mỗi định nghĩa đều phục
vụ cho những mục đích nhất định. Đây có thể coi là phương pháp hiệu quả nhất. Trong
cuốn sách này, du lịch được định nghĩa là hệ thống có liên quan tới nhau bao gồm khách
du lịch và các dịch vụ đi kèm được cung cấp và sử dụng (cơ sở vật chất, điểm du lịch, việc
chuyên chở và chỗ ởnơi lưu trú) để hỗ trợ hoạt động khách du lịch. Tổ chức Ddu lịch thế
giới (UNWTO) định nghĩa về khách du lịch với tư cách là người đi du lịch để nghỉ ngơi
với khoảng thời gian ít nhất là một đêm, nhưng không được nhiều hơn một năm đối với
khách du lịch quốc tế và 6 tháng đối với khách du lịch đi du lịch trong nước của họ với .
Mmục đích chính là đi du lịch chứ không liên quan tới các hoạt độngviệc làm có trả
côngcó nhận thù lao tại những nơi khách đến.
Những điểm du lịch
Ngành du lịch bao gồm nhiều thành tố quan trọng; mà du khách dựa vào nhằm đạt được
những nhu cầu, mục đích rõ ràng và nói chungchung và cụ thể của mình ở địa điểm du
lịch. Phân loại một cách chung nhất, chúng gồm có cơ sở vật chất, chỗ ởnơi lưu trú, việc
chuyên chở và điểm du lịch hấp dẫn). Mặc dù việc phân tích sâu về những nhân thành tố
trên nằm ngoài phạm vi của cuốn sách này, nhưng cần nói thêm về tầm quan trọng của
những nơi thu hút khách du lịch với tư cách là nhân tốthành tố căn bản của hoạt động du
lịchsự trải nghiệm của du khách. Theo Goeld và các cộng sự (2000) thì những nhân tốthành
tố này có thể được chia thành Văn hóa (bảo tàng, địa điểm lịch sử…) Thiên nhiên (vườn
quốc gia, thực vật, động vật…) Sự kiện (lễ hội, sự kiện tôn giáo…) Thư giãn (chơi golf, đi
bộ…) Giải trí (rạp chiếu phim, công viên giải tríchủ đề…). Các nghiên cứu về du lịch
trước đây thường dựa vào sự am hiểu về các điểm hấp dẫn du lịch và ảnh hưởng của chúng
10
Dẫn giải du lịch sinh thái
tới du khách thế nào nhiều hơn những thành tố khác trong ngành này. Gunn cho là những
điểm du lịch chỉ ra những lý do quan trọng nhất cho việc du lịch tới các nơi đó (1972:24)
MacCannell miêu tả những điểm thu hút khách du lịchdu lịch hấp dẫn như là những mối
quan hệ thực tế trên kinh nghiệmlâu bền giữa khách du lịch, địa điểm và người tạo ra
(1989:41). Khách du lịch đại diện cho thành tố con người, địa điểm du lịch bao gồm nơi
đến thật sự hay thực thể tồn tại và người tạo ra thể hiện sự hình thành thông tin, mà khách
du lịch sử dụng để định ra và mang lại ý nghĩa cho điểm du lịch đó. Tuy nhiên, Lew (1987)
có một quan điểm hoàn toàn khác, ông cho rằng trong những hoàn cảnh của khách du lịch-
địa điểm-người tạo ra thì bất cứ điều gì cũng có thể trở thành một điểm thu hút khách du
lịch bao gồm các dịch vụ và cơ sở vật chất. Lew đã nhấn mạnh những đặc điểm chủ quan
cũng như khách quan của các điểm thu hút khách du lịch và cho rằng những nhà nghiên
cứu nên chú tâm vào 3 mảng chính của một nơi du lịch:
Tính đặc trưng: nêu lên đặc tính duy nhất cụ thểvốn có của một địa điểm. Những
địa điểm này được nhận ra bằng tên và thường có liên quan tới những vùng nhỏ.
Đây là hình thái thường xuyên nhất của điểm du lịch được nghiên cứu trong nghiên
cứu du lịch.
Tính tổ chức: trọng tâm không nhằm vào bản thân của các điểm du lịch mà tập
trung vào sức chứa đựng của không gian và bản chất của thời gian. Mức tiếp diễn
phụ thuộc vào kích cỡ của vùng mà điểm du lịch sở hữu.
Tính nhận thức: một nơi có thể thúc đẩy cảm giác được là khách du lịch. Điểm du
lịchĐiểm hấp dẫn là những nơi gợi cảm giác có liên quan tới những thuật ngữ đưa
ra bởi Relph (1976) “người trong cuộc” và “ người ngoài cuộc” và tính xác thực
của những khoảng trước và sau của MacCannell (1989).
Leiper (1990:381) đã góp thêm vào cuộc bàn luận bằng cách tiếp nhận kiểu mẫu của
MacCannel thành một định nghĩa mang tính hệ thống. Ông viết rằng:
11
Dẫn giải du lịch sinh thái
Điểm thu hút khách du lịch là sự sắp xếp một cách có hệ thống của 3 thành tố: con người
với nhu cầu du lịch, một điểm trung tâm (mang đặc điểm của một nơi du khách đến thăm)
và ít nhất có điểmỉêm chỉ thị (thông tin về đỉêm điểm trung tâm đó).
Cách tiếp cận này của Leiper cũng được phản ánh qua những nỗ lực của Gunn (1972);
người đã viết rất cụ thể về tầm quan trọng của các điểm du lịch trong nghiên cứu về du
lịch. Gunn đã đưa ra kiểu mẫu về nơi thu hút khách du lịch bao gồm 3 vùng: (1) những
vùng trung tâm, (2) đai không bị xâm phạm, là khoảng không gian cần thiết xung quanh
các khu vực trung tâm trong bối cảnh cụ thể và (3) vùng được khám phá, bao gồm cơ sở hạ
tầng thiết yếu dành cho hoạt động du lịch như khu vệ sinh và thông tin. Gunn lập luận rằng
một nơi thu hút khách du lịch mà thiếu một trong 3 vùng trên thì sẽ không đầy đủ và khó
quản lý.
Một vài tác giả, gồm có Pearce (1982), Gunn (1988) và Leiper (1990) đă đưa ra kết luận
rằng những điểm du lịchyếu tố tạo điểm hấp dẫn nằm có ở các thứ bậc khác nhau, từ
những thứ cụ thể và nhỏ trong một địa điểm cho tới toàn bộ cácnối liền các nước và các lục
địa. Tính chất hay biến đổi về mức độ này khiến những phân tích về nơi thu hút du lịch cả
về địa điểm và vùng miền trở nên phức tạp. Vì vậy, có sự tồn tại hàng loạt về cấu trúc bên
trong và ngoài của điểm du lịch trong những vùng khác nhau và giữa các vùng với nhau và
quan điểm về những kiểu khách du lịch khác nhau khi đến các nơi này. Về mặt không gian
cùng với sự ảnh hưởng của thời gian, số lượng và loại hình các nơi thu hút du lịch được
khách du lịch hay những nhóm khách du lịch tới thăm có thể tạo nên một địa điểm thích
hợp. Những hình thái cụ thể khác sẽ chiếm giữ một địa điểm du lịch nhất địnhloại khách có
vai trò khác nhau sẽ có những vị trí khác nhau ở điểm đến du lịch. Thông qua phân tích về
thời gian, không gian và những nhân tố khác thuộc về hành vi, khách du lịch có thể phù
hợp được phân loại dựa trên trong hệ thống các kiểu hình dựa trên khả năng tận dụng và
chuyển dịch của họ giữa các điểm du lịch họ lựa chọn. Một người khác có thể đưa ra giả
định rằng những nhóm khách du lịch khác nhau dựa trên nền tảng của loại hình du lịch họ
chọn và khoảng thời gian họ ở những nơi đó (Fenell, 1996) Những ẩn ýhàm ý này trong
ngành du lịch đưa ra một hình thức những trải nghiệm của khách du lịch ở những mảng
khác nhau của một vùng. Gỉa Ví dụ như trong một vùng du lịch cụ thể có thể nhận ra tầm
12
Dẫn giải du lịch sinh thái
quan trọng của việc cung cấp sự hòa trộn những cơ hội du lịch có tính tổng hợp,có được từ
những trải nghiệm rất cụ thể và đến những sở thích chung của khách du lịch khi tìm kiếm
những trải nghiệm về văn hóa và thiên nhiên ở những môi trường như thành thị, nông thôn
và vùng ít ngườihẻo lánh (những vùng đệm được định nghĩa ở trang 34).
Những điểm thu hút khách du lịch cũng được đề cập ở những công trình nghiên cứu trước
đây cũ như những thực thể tĩnh và động của hình thái văn hóa và thiên nhiên (Gunn 1988).
Trong hình thái thiên nhiên của chúng, những nơi thu hút khách du lịch hình thành nên nền
tảng cho những loại hình du lịch đặc trưng, dựa chủ yếu trên những khía cạnh của thế giới
tự nhiên dễ nhận thấy nhất như du lịch hoang dã (tham khảo Reynolds và Braithwaite
2001) và du lịch sinh thái (tham khảo Page và Dowing 2002). Gỉa Ví dụ như, đối với
những người tìm hiểu về các loài chim bằng quan sát thì những loài đơn lẻ là loài có sức
quyến rũ một cách cụ thể và và được săn lùng nhiều nhất. Một trường hợp thực tế là sự trở
lại mang tính chu kỳ hàng năm của loài hải âu lớn sống đơn lẻ ở khu bảo tồn thiên nhiên
quốc gia Hermaness ở Unst, Shetland, Scotland. Việc hiện diện của loài này đã thu hút
những khách du lịch thích được tìm hiểu loài chim qua quan sát lập tức thay đổi kết hoạch
của họ và hướng tới Hermaness. Loài hải âu lớn đã trở thành điểm nhấn hấp dẫn những du
khách thích quan sát chim, và Hermaness, trong một bối cảnh rộng hơn, hoạt động như là
một cầu nối (trung tâm hấp dẫn) để giới thiệu sự hấp dẫn (loài chim) tới du khách. Sức hút
về thiên nhiên có thể biến đổi theo thời gian và không gian và thời gian có thể đo lường
bằng các hình thái cụ thể như giây, phút, giờ, ngày, tuần, tháng, và năm. Đối với khách du
lịch đi du lịch với mục đích chính là trải nghiệm những sự biến đổi của các điểm hấp dẫn,
sự di chuyển của họ là nguồn của sự thách thức và sự thất bại.
Du lịch đại chúng và các hình thức thay thế: các màu sắc cạnh tranhNhững
mô hình cạnh tranh
Du lịch là một ngành được nhiều người tán thành nhưng cũng không ít người phản đối vì
tiềm lực để phát triển và hơn thế nữa, có thể làm biến đổi hoàn toàn môi trườngcác khu
13
Dẫn giải du lịch sinh thái
vực của lĩnh vực nàysang một hình thức khác. Thủa xưaỞ vế thứ nhất, du lịch được xem
nhìn nhận như một động lực cho sự phát triển lâu dài, sau nàyở vế sau sự nhiễum loạn sinh
thái và xã hội tại một số khu vực bị biến đổi đã làm thay đổi các vùng miềntrở nên tràn
ngập. Trong khi hầu hết những tài liệu trước đõycó được về những đã nêu ra những ảnh
hưởng xấu tiêu cực đến của du lịch là từ các nước đang phát triển, thìtrên con đường phát
triển của thế giới, thì một thế giới đã các nước phát triển không thể bỏ qua đượccũng
không là ngoại lệ. Young (1993), thí dụ, là tư liệu về sự chuyển đổi một trại nuôi cá nhỏ ở
Malta bằng các minh hoạ sinh động tới một mức mà du lịch phát triển, thông qua đó sự
phát triển của hệ thống phương tiện giao thông, sự phát triển của những khu nghỉ đại
chúng, và nhận thức của con người, tất cả khu vực nàycũng đều biến đổi theo thời gian.
Ngày nay, chúng ta dễ dàngthiên về việc làm giảm giá trị của du lịch quần đại chúng, coi
nó như một con quái quỏi vật, một thứ thật khác lạ với rất íớt những đền bùự về mặt chất
lượng cho điểm đến tham quan, người dân bản địa và những nguồn tài nguyên thiênự
nhiên. Do đó, du lịch quần chúngdu lịch đại chúng bị phê phán bởi sự thật rằng nó có ảnh
hưởng lớn đến ngành du lịch trong lĩnh vực thuộc về những phương hướng phát triển
không phải của vì người dân địa phương, và sự thật là chúng ta việc đầu tư một khoản tiền
rất nhỏ vào các điểm tham quan du lịch đó mà lẽ ra là , nơi lưu giữ và sẽ làm tthu về ăng
khoảnnguồn thu nhập cho chúng ta. Khách sạn và những khu nghỉ dưỡng sang trọng là
những nơi tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của du lịch quần chúngdu lịch đại chúng đến du lịch
nói chung, nơi mà thường được lập nên bằng việc sử dụng những sản phẩm không thuộc
của địa phương, áp dụngcó những đòi hỏi tối thiểu về việc một phần những luật lệ của
việc sản xuất thức ăn địa phương, và hơn thế nữa đáp ứng được thị hiếu của người dân thủ
đôđược sở hữu bằng sở thích của các ông chủ giàu có. Việc quảng bá khách sạn dựa trên
cơ sở của số lượng lớn, thu hút sốcàng đông du khách càng tốt đông khách, đặc biệt vào
mùa vụ. Ngụ ý của mùa vụ là tất cả người dân địa phương vào thời điểm đó sẽ làm việc
trong các vị trí được trả công mà dựa vào đơn thuần chỉ là số lượng khách đến thăm quan.
Sự phát triển đó tồn tại như một điều kiện mà tập trung chủ yếu vào con người trong một
mật độ dày đặc, là sự chuyển đổi của người dân địa phương từ lối sống tự cấp, từ túc
truyền thống (như được chỉ ra bởi Young, 1983) phụ thuộc tới một lối sống khác, lối sống
phụ thuộc. Cuối cùng, sự hấp dẫn mà được chấp nhận trong và xung quanh sự phát triển
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét