LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hạch toán tiền lương và bảo hiểm": http://123doc.vn/document/1041093-hach-toan-tien-luong-va-bao-hiem.htm
nh: tháng, tuần, ngày, giờ.
Lơng tháng đợc quy định sẵn đối với từng bậc lơng trong các
thang lơng, nó có nhiều nhợc điểm bởi không tính đợc ngời làm
việc nhiều hay ít ngày trong tháng, do đó không có tác dụng
khuyến khích tận dụng đủ số ngày làm việc quy định. Lơng tháng
thờng áp dụng để trả lơng cho nhân viên làm công tác quản lý hành
chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động
không có tính chất sản xuất.
Lơng tuần đợc trả cho ngời lao động căn cứ vào mức lơng tháng và
số tuần thực tế trong tháng. Lơng tuần áp dụng trả cho các đối tợng
lao động có thời gian lao động không ổn định mang tính chất thời
vụ.
Lơng ngày trả cho ngời lao động căn cứ vào mức lơng ngày và số
ngày làm việc thực tế trong tháng. Lơng ngày thờng áp dụng để trả
lơng cho lao động trực tiếp hởng lơng thời gian, tính lơng cho ngời
lao động trong những ngày hội họp, học tập hoặc làm nghĩa vụ
khác và làm căn cứ để tính trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH). Hình
thức này có u điểm đơn giản, dễ tính toán, phản ánh đợc trình độ kỹ
thuật và điều kiện làm việc của ngời lao động. Song, nó cha gắn
tiền lơng với kết quả lao động của từng ngời nên không kích thích
việc tận dụng thời gian lao động, nâng cao năng suất lao động và
chất lợng sản phẩm.
Mức lơng giờ tính dựa trên cơ sở mức lơng ngày, nó thờng đợc áp
dụng để trả lơng cho lao động trực tiếp trong thời gian làm việc
không hởng theo sản phẩm. Ưu điểm của hình thức này là đã tận
dụng đợc thời gian lao động của công nhân nhng nhợc điểm là vẫn
cha gắn tiền lơng với kết quả lao động với từng ngời, theo dõi phức
tạp
Thực tế cho thấy đơn vị thời gian để trả lơng càng ngắn thì việc trả l-
ơng càng gần với mức độ hao phí lao động thực tế của ngời lao động.
*Tiền lơng Tiền lơng cấp bậc Số ngày làm việc
=
ì
tháng chức vụ 1 ngày thực tế trong tháng
Tiền lơng tháng
ì
12 tháng
*Tiền lơng tuần =
Số tuần làm việc theo chế độ (52)
Tiền lơng tháng
*Tiền lơng ngày =
Số ngày làm việc theo chế độ (26)
5
Tiền lơng ngày
*Tiền lơng giờ =
Số giờ làm việc theo chế độ
Hình thức trả lơng này có nhợc điểm là không phát huy đầy đủ
nguyên tắc phân phối theo lao động vì nó không xét đến thái độ lao
động, đến cách sử dụng thời gian lao động, sử dụng nguyên vật liệu,
máy móc thiết bị, cha chú ý đến kết quả và chất lợng công tác thực tế
của ngời lao động.
B. Hình thức trả lơng theo sản phẩm
Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lơng là số lợng và chất l-
ợng sản phẩm hoàn thành.
Đây là hình thức trả lơng phù hợp với nguyên tắc phân phối
theo lao động, gắn bó chặt chẽ thù lao lao động với kết quả sản xuất,
kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy năng lực, khuyến khích tài
năng, sử dụng và phát huy đợc khả năng của máy móc trang thiết bị để
tăng năng suất lao động.
Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những hạn chế có thể khắc phục
đợc nh năng suất cao nhng chất lợng kém do làm ẩu, vi phạm quy
trình, sử dụng quá năng lực của máy móc đó là do quá coi trọng số l-
ớng sản phẩm hoàn thành và một phần cũng do các định mức kinh tế
kỹ thuật xây dựng quá lỏng lẻo, không phù hợp với điều kiện và khả
năng sản xuất của doanh nghiệp.
Bởi vậy, trong việc trả lơng theo sản phẩm, vấn đề quan trọng
là phải xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật để làm cơ sở cho việc
xây dựng đơn giá tiền lơng đối với từng loại sản phẩm, từng công việc
một cách hợp lý .
Tuỳ thuộc vào điều kiện và tình hình cụ thể ở từng doanh
nghiệp, hình thức trả lơng theo sản phẩm đợc vận dụng theo các phơng
pháp cụ thể:
- Trả lơng theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế
- Trả lơng theo sản phẩm gián tiếp
- Trả lơng theo sản phẩm có thởng - phạt
- Trả lơng theo sản phẩm luỹ tiến
1. Tiền lơng trả theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế
Với cách này, tiền lơng phải trả cho ngời lao động đợc trích
trực tiếp theo số lợng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất
và đơn giá tiền lơng sản phẩm đã quy định không chịu một sự hạn chế
nào.
6
Đơn giá tiền lơng trả cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành đợc
xây dựng căn cứ vào mức lơng cấp bậc công việc và định mức thời
gian hoặc định mức sản lợng cho công việc đó. Ngoài ra , nếu có phụ
cấp khu vực thì đơn giá tiền lơng còn có thêm cả tỷ lệ phụ cấp khu
vực.
hoặc
Hình thức trả lơng theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế có u
điểm đơn giản, dễ hiểu, quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động,
lơng trả cho công nhân càng cao khi sản xuất ra càng nhiều sản phẩm,
do đó khuyến khích đợc ngời công nhân nâng cao năng suất lao động.
Đây là hình thức phổ biến đợc các doanh nghiệp sử dụng để tính lơng
phải trả cho lao động trực tiếp.Tuy nhiên cách trả lơng này cũng có nh-
ợc điểm nâng cao lợi ích cá nhân, không khuyến khích ngời lao động
quan tâm đến lợi ích chung của tập thể.
2. Tiền lơng trả theo sản phẩm luỹ tiến
Theo hình thức này, ngoài tiền lơng theo sản phẩm trực tiếp
còn căn cứ vào mức độ hoàn thành tỷ lệ luỹ tiến. Mức luỹ tiến này còn
có thể quy định bằng hoặc cao hơn định mức sản lợng. Những sản
phẩm dới mức khởi điểm luỹ tiến đợc tính theo đơn giá tiền lơng
chung cố định, những sản phẩm vợt mức càng cao thì suất luỹ tiến
càng lớn.
Lơng trả theo sản phẩm luỹ tiến có tác dụng kích thích mạnh
mẽ việc tăng nhanh năng suất lao động, nhng thờng dẫn đến tốc độ
tăng tiền lơng cao hơn tăng năng suất lao động và làm tăng khoản mục
chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Vì vậy,
hình thức này đợc sử dụng nh một giải pháp tạm thời nh áp dụng trả l-
ơng ở những khâu quan trọng cần thiết để đẩy nhanh tốc độ sản xuất
đảm bảo cho sản xuất cân đối, đồng bộ hoặc có thể áp dụng trong tr-
ờng hợp doanh nghiệp phải thực hiện gấp một đơn đặt hàng nào đó. Tr-
ờng hợp không cần thiết thì doanh nghiệp không nên sử dụng hình
thức này.
3. Tiền lơng trả theo sản phẩm gián tiếp
Tiền lơng của ngời đợc trả lơng theo sản phẩm gián tiếp đợc
xác định bằng cách nhân số lợng sản phẩm thực tế của ngời lao động
trực tiếp đợc ngời đó phục vụ với đơn giá lơng cấp bậc của họ (hoặc
mức lơng cấp bậc nhân với tỷ lệ % hoàn thành định mức sản lợng bình
quân của ngời lao động trực tiếp).
7
Tiền lơng trả theo Số lợng sản phẩm Đơn giá lơng
=
ì
sản phẩm trực tiếp của công nhân trực tiếp gián tiếp
Số lợng sản phẩm của
Mức lơng cấp bậc công nhân trực tiếp
=
ì
ì
100
của lao động gián tiếp Sản lợng định mức
Nh vậy:
Mức lơng cấp bậc của lao động gián tiếp
Đơn giá tiền lơng gián tiếp =
Sản lợng định mức
Hình thức trả lơng này áp dụng để trả lơng cho lao động gián
tiếp ở các bộ phận sản xuất nh công nghệ điều chỉnh máy, sửa chữa
thiết bị, bảo dỡng máy móc, lao động làm nhiệm vụ vận chuyển vật
liệu, thành phẩm
Trả lơng theo thành phẩm gián tiếp khuyến khích những ngời
lao động gián tiếp phối hợp với lao động trực tiếp để nâng cao năng
suất lao động, cùng quan tâm tới kết quả chung. Tuy nhiên, hình thức
này không đánh giá đợc đúng kết quả lao động của ngời lao động gián
tiếp.
4. Tiền lơng trả theo sản phẩm có thởng, phạt
Để khuyến khích ngời công nhân có ý thức trách nhiệm trong
sản xuất, công tác, doanh nghiệp có chế độ tiền thởng khi ngời công
nhân đạt đợc những chỉ tiêu mà doanh nghiệp đã quy định nh thởng về
chất lợng sản phẩm tốt, thởng về tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật
t.
Trong trờng hợp ngời lao động làm ra sản phẩm hỏng, lãng phí
vật t, không đảm bảo ngày công quy định thì có thể phải chịu mức
tiền phạt trừ vào mức tiền lơng theo sản phẩm mà họ đợc hởng.
Thực chất của hình thức trả lơng này là sự kết hợp giữa tiền l-
ơng trích theo sản phẩm với chế độ tiền thởng, phạt mà doanh nghiệp
quy định.
Hình thức này đánh vào lợi ích ngời lao động, làm tốt đợc th-
ởng, làm ẩu phải chịu mức phạt tơng ứng, do đó, tạo cho ngời công
nhân có ý thức công việc, hăng say lao động. Nhng hình thức này nếu
làm tuỳ tiện sẽ dẫn đến việc trả thởng bừa bãi, không đúng ngời đúng
việc, gây tâm lý bất bình cho ngời lao động.
C. Hình thức trả lơng khóan
Theo hình thức này, công nhân đợc giao việc và tự chịu trách
nhiệm với công việc đó cho tới khi hoàn thành.
Có 2 phơng pháp khoán: khoán công việc và khoán quỹ lơng.
- Khoán công việc:
8
Theo hình thức này, doanh nghiệp quy định mức tiền lơng cho
mỗi công việc hoặc khối lợng sản phẩm hoàn thành. Ngời lao động
căn cứ vào mức lơng này có thể tính đợc tiền lơng của mình thông qua
khối lợng công việc mình đã hoàn thành.
Mức lơng quy định Khối lợng công việc
Tiền lơng khoán công việc =
ì
cho từng công việc đã hoàn thành
Cách trả lơng này áp dụng cho những công việc lao động đơn
giản, có tính chất đột xuất nh bốc dỡ hàng, sửa chữa nhà cửa
- Khoán quỹ l ơng
Theo hình thức này, ngời lao động biết trớc số tiền lơng mà họ
sẽ nhận sau khi hoàn thành công việc và thời gian hoàn thành công
việc đợc giao. Căn cứ vào khối lợng từng công việc hoặc khối lợng sản
phẩm và thời gian cần thiết để hoàn thành mà doanh nghiệp tiến hành
khoán quỹ lơng.
Trả lơng theo cách khoán quỹ lơng áp dụng cho những công
việc không thể định mức cho từng bộ phận công việc hoặc những công
việc mà xét ra giao khoán từng công việc chi tiết thì không có lợi về mặt
kinh tế, thờng là những công việc cần hoàn thành đúng thời hạn.
Trả lơng theo cách này tạo cho ngời lao động có sự chủ động
trong việc sắp xếp tiến hành công việc của mình từ đó tranh thủ thời
gian hoàn thành công việc đợc giao. Còn đối với ngời giao khoán thì
yên tâm về thời gian hoàn thành.
Nhợc điểm của phơng pháp trả lơng này là dễ gây ra hiện tợng
làm bừa, làm ẩu, không đảm bảo chất lợng do muốn đảm bảo thời gian
hoàn thành. Vì vậy, muốn áp dụng phơng pháp này thì công tác kiểm
nghiệm chất lợng sản phẩm trớc khi giao nhận phải đợc coi trọng, thực
hiện chặt chẽ.
Nhìn chung, ở các doanh nghiệp do tồn tại trong nền kinh tế thị
trờng, đặt lợi nhuận lên mục tiêu hàng đầu nên việc tiết kiệm đợc chi
phí lơng là một nhiệm vụ quan trọng, trong đó cách thức trả lơng đợc
lựa chọn sau khi nghiên cứu thực tế các loại công việc trong doanh
nghiệp là biện pháp cơ bản, có hiệu quả cao để tiết kiệm khoản chi phí
này. Thông thờng ở một doanh nghiệp thì các phần việc phát sinh đa
dạng với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Vì vậy, các hình thức trả lơng đợc
các doanh nghiệp áp dụng linh hoạt, phù hợp trong mỗi trờng hợp,
hoàn cảnh cụ thể để có đợc tính kinh tế cao nhất.
III - Lý luận chung về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, kinh phí công đoàn.
1. Bảo hiểm xã hội (BHXH):
Trong thực tế, không phải lúc nào con ngời cũng chỉ gặp thuận
lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện để sinh sống bình thờng. Trái
9
lại, có rất nhiều trờng hợp khó khăn, bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát
sinh làm cho ngời ta bị giảm mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh
sống khác nh ốm đau, tai nạn, tuổi già mất sức lao động nhng những
nhu cầu cần thiết của cuộc sống không những mất đi hay giảm đi mà
thậm chí còn tăng lên, xuất hiện thêm những nhu cầu mới (khi ốm đau
cần chữa bệnh ). Vì vậy, con ngời và xã hội loài ngời muốn tồn tại, v-
ợt qua đợc những lúc khó khăn ấy thì phải tìm ra và thực tế đã tìm ra
nhiều cách giải quyết khác nhau.
Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, khó khăn bất lợi của mỗi
ngời đợc cả cộng đồng san sẻ gánh chịu. Còn ở xã hội phong kiến
quan lại, những lúc gặp khó khăn thì cậy nhờ ở Vua, dân c gặp khó
khăn thì trông cậy vào sự đùm bọc, hảo tâm của họ hàng làng xã. Nh
vậy là tất cả đều ở thế bị động, thụ động trông chờ vào sự hảo tâm của
phía giúp đỡ mà hoàn toàn không đợc chắc chắn.
Tiến bộ hơn, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát
triển xuất hiện mối quan hệ chủ - thợ. Khi hai bên cam kết về lao
động, điều kiện về sự đảm bảo một phần thu nhập để trang trải những
nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn cho ngời lao động đã
đợc ngời lao động quan tâm đến. Tuy nhiên, mới đầu do việc đảm bảo
này chỉ liên quan giữa hai bên chủ- thợ mà chủ thì rõ ràng không
muốn chi ra, thợ thì luôn đòi hỏi, vì vậy, tranh chấp giữa họ luôn xảy
ra.
Điều kiện khách quan đó làm xuất hiện một bên thứ ba, là
nhân vật đóng vai trò trung gian để giúp thực hiện những cam kết giữa
chủ- thợ bằng những hoạt động thích hợp của nó. Nhân vật thứ ba có
đủ khả năng và sự tín nhiệm để làm bên trung gian, đó là Nhà nớc.
Nhà nớc quy định hàng tháng giới chủ phải trích ra một khoản
tiền nho nhỏ đợc tính toán chặt chẽ trên cơ sở xác xuất những biến cố
của tập hợp những ngời lao động làm thuê để giao cho bên thứ ba, khi
có biến cố thì bên thứ ba chi trả, không phụ thuộc vào giới chủ, số tiền
không phải dùng đến (cha phải chi trả) sẽ tồn tích lâu ngày thành quỹ.
Việc Nhà nớc can thiệp vào với vai trò là bên thứ ba, một mặt
làm tăng vai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế trong các mối quan hệ
xã hội, mặt khác làm tăng chi cho ngân sách Nhà nớc.
Nhà nớc bằng những cơ sở lý luận khoa học đã buộc giới chủ
đóng góp vào quỹ BHXH với một khoản tiền phù hợp đủ cho ngời lao
động, đồng thời cũng yêu cầu giới thợ đóng góp một phần tiền lơng
của mình vào quỹ để đảm bảo cho cuộc sống của chính mình.
Nhờ các hoạt động của Nhà nớc này mà mâu thuẫn giữa chủ-
thợ đợc giải quyết, cả hai bên đều hài lòng, cảm thấy mình có lợi và đ-
ợc bảo vệ.
Nh vậy, ta có đợc khái niệm về BHXH nh sau:
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
đối với ngời lao động khi họ gặp phải biến cố làm giảm hoặc mất khả
năng lao động hoặc mất việc làm bằng cách hình thành và sử dụng một
10
quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của ngời sử dụng lao động và
ngời lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho ngời lao động và
gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
ở Việt Nam hiện nay, mọi ngời lao động có tham gia đóng
BHXH đều có quyền hởng BHXH. Đóng BHXH là tự nguyện hay bắt
buộc tuỳ thuộc vào loại đối tợng và từng loại doanh nghiệp để đảm bảo
cho ngời lao động đợc hởng các chế độ BHXH thích hợp. Phơng thức
đóng BHXH dựa trên cơ sở mức tiền lơng quy định để đóng BHXH
đối với mỗi ngời lao động.
Quỹ BHXH
Theo chế độ hiện hành, quỹ BHXH đợc tính theo tỷ lệ 20%
trên tổng quỹ lơng cấp bậc và các khoản phụ cấp thờng xuyên của ngời
lao động thực tế trong kỳ hạch toán.
Trong đó, 15% ngời sử dụng lao động phải nộp và khoản này
tính vào chi phí kinh doanh, còn 5% do ngời lao động trực tiếp đóng
góp (trừ trực tiếp vào lơng).
Chi của quỹ BHXH cho ngời lao động theo chế độ căn cứ vào:
+Mức lơng ngày của ngời lao động
+Thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ)
+Tỷ lệ trợ cấp BHXH.
2. Bảo hiểm y tế (BHYT):
Gần giống nh ý nghĩa của BHXH, BHYT là sự đảm bảo thay
thế hoặc bù đắp một phần chi phí khám chữa bệnh cho ngời lao động
khi họ gặp rủi ro ốm đau, tai nạn bằng cách hình thành và sử dụng
một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của ngời sử dụng lao động,
nhằm đảm bảo sức khoẻ cho ngời lao động.
Quỹ BHYT
Quỹ BHYT đợc hình thành bằng cách trích 3% trên số thu nhập tạm
tính của ngời lao động; trong đó ngời sử dụng lao động phải chịu 2%,
khoản này đợc tính vào chi phí kinh doanh, ngời lao động trực tiếp nộp
1% (trừ vào thu nhập).
Quỹ BHYT do Nhà nớc tổ chức, giao cho một cơ quan là cơ quan
BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho ngời lao động thông qua
mạng lới y tế nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và
cộng đồng xã hội để tăng cờng chất lợng trong việc khám chữa bệnh.
Vì vậy, khi tính đợc mức trích BHYT, các nhà doanh nghiệp phải nộp
toàn bộ cho cơ quan BHYT.
3. Kinh phí công đoàn (KPCĐ)
Ngời lao động để bảo vệ quyền lợi của mình trớc giới chủ, họ
lập ra tổ chức công đoàn. Tổ chức này chuyên trách việc đại diện cho
ngời lao động để thơng thuyết với giới chủ đòi quyền lợi cho công
nhân và giải quyết các tranh chấp bất công giữa chủ- thợ.
11
Nguôn kinh phí cho các hoạt động của tổ chức này lấy từ quỹ
Kinh phí công đoàn
Quỹ KPCĐ
ở mỗi doanh nghiệp đều phải có tổ chức công đoàn để đại diện
bảo vệ quyền lợi của ngời lao động và tập thể lao động. Ngời sử dụng
lao động có trách nhiệm bảo đảm các phơng tiện làm việc cần thiết để
công đoàn hoạt động. Ngời làm công tác công đoàn chuyên trách do
quỹ công đoàn trả lơng và đợc hởng các quyền lợi và phúc lợi tập thể
nh mọi ngời lao động trong doanh nghiệp, tuỳ theo quy chế doanh
nghiệp hoặc thoả ớc tập thể.
Nh vậy, KPCĐ là quỹ tài trợ cho hoạt động công đoàn các cấp.
Theo chế độ hiện hành thì kinh phí công đoàn đợc tính theo tỷ lệ 2%
trên tổng quỹ tiền lơng phải trả cho ngời lao động và ngời sử dụng lao
động phải chịu khoản chi phí này (khoản này cũng tính vào chi phí
kinh doanh). Thông thờng khi xác định đợc mức tính kinh phí công
đoàn trong kỳ thì một nửa doanh nghiệp phải nộp cấp trên, một nửa thì
đợc sử dụng để chi tiêu cho công đoàn tại các đơn vị.
IV - Nhiệm vụ hạch toán tiền lơng và BHXH, BHYT,
KPCĐ.
1. Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lợng lao động,
thời gian và kết quả lao động, tính lơng và tính trích các khoản theo l-
ơng, phân bổ chi phí nhân công đúng đối tợng sử dụng lao động.
2. Hớng dẫn kiểm tra các nhân viên hạch toán ở các bộ phận sản xuất
kinh doanh, các phòng ban thực hiện đầy đủ các chứng từ ghi chép
ban đầu về lao động, tiền lơng, mở sổ cần thiết và hạch toán nghiệp
vụ lao động tiền lơng đúng chế độ, đúng phơng pháp.
3. Lập các báo cáo về lao động tiền lơng thuộc phần việc do mình phụ
trách.
4. Phân tích tình hình quản lý, sử dụng thời gian lao động, chi phí
nhân công, năng suất lao động, đề xuất các biện pháp nhằm khai
thác, sử dụng triệt để có hiệu quả mọi tiềm năng lao động sẵn có
trong doanh nghiệp.
V - Chứng từ ban đầu để hạch toán tiền lơng,
BHXH, BHYT, KPCĐ.
Sổ sách của bộ phận lao động tiền lơng trong doanh nghiệp đợc
lập dựa trên cơ sở các chứng từ ban đầu lập khi tuyển dụng nâng bậc,
thôi việc mọi biến động về lao động đợc ghi chép kịp thời vào sổ
sách lao động làm căn cứ cho việc tính lơng phải trả và các chế độ
khác cho ngời lao động đợc kịp thời.
Hạch toán thời gian lao động
Hạch toán thời gian lao động là công việc đảm bảo ghi chép
kịp thời chính xác số ngày công giờ công làm việc thực tế cũng nh
12
ngày nghỉ việc ngừng việc của từng ngời lao động, từng bộ phận sản
xuất, từng phòng ban trong doanh nghiệp. Trên cơ sở này để tính lơng
phải trả cho từng ngời.
Bảng chấm công là chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch
toán thời gian lao động trong các doanh nghiệp. Bảng chấm công dùng
để ghi chép thời gian làm việc trong tháng thực tế và vắng mặt của cán
bộ công nhân viên trong tổ, đội, phòng ban Bảng chấm công phải lập
riêng cho từng tổ sản xuất, từng phòng ban và dùng trong một tháng.
Danh sách ngời lao động ghi trong sổ danh sách lao động của từng bộ
phận đợc ghi trong bảng chấm công, số liệu của chúng phải khớp
nhau. Tổ trởng tổ sản xuất hoặc trởng các phòng ban là ngời trực tiếp
ghi bảng chấm công căn cứ vào số lao động có mặt, vắng mặt đầu
ngàylàm việc ở đơn vị mình. Trong bảng chấm công những ngày nghỉ
theo quy định nh ngày lễ tết, chủ nhật đều phải đợc ghi rõ ràng.
Bảng chấm công phải để tại một địa điểm công khai để ngời
lao động giám sát thời gian lao động của mình. Cuối tháng tổ trởng, tr-
ởng phòng tập hợp tình hình sử dụng lao động cung cấp cho kế toán
phụ trách. Nhân viên kế toán kiểm tra và xác nhận hàng ngày trên
bảng chấm công. Sau đó tiến hành tập hợp số liệu báo cáo tổng hợp lên
phòng lao động tiền lơng. Cuối tháng, các bảng chấm công đợc chuyển
cho phòng kế toán tiền lơng để tiến hành tính lơng. Đối với các trờng
hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động thì phải có phiếu nghỉ ốm
do bệnh viện, cơ sở y tế cấp và xác nhận. Còn đối với các trờng hợp
ngừng việc xảy ra trong ngày do bất cứ nguyên nhân gì đều phải đợc
phản ánh vào biên bản ngừng việc , trong đó nêu rõ nguyên nhân
ngừng việc và ngời chịu trách nhiệm để làm căn cứ tính lơng và xử
lý thiệt hại xảy ra. Những chứng từ này đợc chuyển lên phòng kế toán
làm căn cứ tính trợ cấp, BHXH sau khi đã đợc tổ trởng căn cứ vào
chứng từ đó ghi vào bảng chấm công theo những ký hiệu quy định.
Hạch toán kết quả lao động
Hạch toán kết quả lao động là một nội dung quan trọng trong
toàn bộ công tác quản lý và hạch toán lao động ở các doanh nghiệp
sản xuất. Công việc tiến hành là ghi chép chính xác kịp thời số lợng
hoặc chất lợng sản phẩm hoặc khối lợng công việc hoàn thành của
từng cá nhân, tập thể làm căn cứ tính lơng và trả lơng chính xác.
Tuỳ thuộc vào loại hình và đặc điểm sản xuất của từng doanh
nghiệp, ngời ta sử dụng các chứng từ ban đầu khác nhau để hạch toán
kết quả lao động. Các chứng từ ban đầu đợc sử dụng phổ biến để hạch
toán kết quả lao động là phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn
thành, hợp đồng giao khoán
Phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành là chứng từ xác
nhận số sản phẩm (công việc) hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân ng-
ời lao động.
Phiếu này do ngời giao việc lập và phải có đầy đủ chữ ký của
ngời giao việc, ngời nhận việc, ngời kiểm tra chất lợng sản phẩm và
13
ngời duyệt. Phiếu đợc chuyển cho kế toán tiền lơng để tính lơng áp
dụng trong hình thức trả lơng theo sản phẩm.
Hợp đồng giao khoán công việc là chứng từ giao khoán ban
đầu đối với trờng hợp giao khoán công việc. Đó là bản ký kết giữa ng-
ời giao khoán và ngời nhận khoán với khối lợng công việc, thời gian
làm việc, trách nhiệm và quyền lợi mỗi bên khi thực hiện công việc đó.
Chứng từ này là cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho ngời nhận
khoán. Trờng hợp khi nghiệm thu phát hiện sản phẩm hỏng thì cán bộ
kiểm tra chất lợng cùng với ngời phụ trách bộ phận lập phiếu báo hỏng
để làm căn cứ lập biên bản xử lý. Số lợng, chất lợng công việc đã hoàn
thành và đợc nghiệm thu đợc ghi vào chứng từ hạch toán kết quả lao
động mà doanh nghiệp sử dụng, và sau khi đã ký duyệt nó đợc chuyển
về phòng kế toán tiền lơng làm căn cứ tính lơng và trả lơng cho công
nhân thực hiện.
Hạch toán thanh toán lơng với ngời lao động
Hạch toán thanh toán lơng với ngời lao động dựa trên cơ sở các
chứng từ hạch toán thời gian lao động (bảng chấm công), kết quả lao
động (bảng kê khối lợng công việc hoàn thành, biên bản nghiệm thu )
và các chứng từ khác có liên quan (giấy nghỉ ốm, biên bản nghỉ việc )
kế toán tiền lơng tiến hành tính lơng sau khi đã kiểm tra các chứng từ
trên. Công việc tính lơng , tính thởng và các khoản khác phải trả cho
ngời lao động theo hình thức trả lơng đang áp dụng tại doanh nghiệp,
kế toán lao động tiền lơng lập bảng thanh toán tiền lơng (gồm lơng
chính sách, lơng sản phẩm, các khoản phụ cấp, trợ cấp, bảo hiểm cho
từng lao động), bảng thanh toán tiền thởng.
Bảng thanh toán tiền thởng là chứng từ làm căn cứ thanh toán
tiền lơng,phụ cấp cho ngời lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất
kinh doanh. Bảng thanh toán tiền lơng đợc thanh toán cho từng bộ
phận (phòng ban ) tơng ứng với bảng chấm công. Trong bảng thanh
toán tiền lơng, mỗi công nhân viên đợc ghi một dòng căn cứ vào bậc,
mức lơng, thời gian làm việc để tính lơng cho từng ngời. Sau đó kế
toán lao động tiền lơng lập bảng thanh toán tiền lơng tổng hợp cho
toàn doanh nghiệp, tổ đội, phòng ban mỗi tháng một tờ. Bảng thanh
toán tiền lơng cho toàn doanh nghiệp sẽ chuyển sang cho kế toán tr-
ởng, thủ trởng đơn vị ký duyệt. Trên cơ sở đó, kế toán thu chi viết
phiếu chi và thanh toán lơng cho từng bộ phận.
Việc thanh toán lơng cho ngời lao động thờng đợc chia làm 2
kỳ trong tháng:
+Kỳ 1: tạm ứng
+Kỳ 2: thanh toán nốt phần còn lại sau khi đã trừ đi các khoản
phải khấu trừ vào lơng của ngời lao động theo chế độ quy định.
Tiền lơng đợc trả tận tay ngời lao động hoặc tập thể lĩnh lơng
đại diện do thủ quỹ phát. Khi nhận các khoản thu nhập, ngời lao động
phải ký vào bảng thanh toán tiền lơng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét