Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Quan điểm triết học duy vật biện chứng về con người và vấn đề xây dựng con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.

Các trường phái triết học tôn giáo phuơng Đông như Phật giáo, Hồi
giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm,
thần bí hoặc nhị nguyên luận. Trong triết học Phật giáo, con người là sự
kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần). Đời sống trên trần chỉ
là ảo giác hư vô. Vì vậy, cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống
gửi, là tạm bợ. Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tới cõi Niết bàn, nơi
tinh thần con người được giải thoát để trở thành bất diệt.
Như vậy, dù bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc nhị nguyên,
suy đến cùng, con người trong quan niệm của các học thuyết tôn giáo
phương Đông đều phản ánh sai lầm về bản chất con người, hướng con
người đến thế giới thần linh. Trong triết học phương Đông, với sự chi
phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc duy vật chất phác,biểu hiện tư
tưởng Nho giáo, Lão giáo, quan niêm về bản chất con người cũng thể
hiện một cách phong phú. Khổng Tử cho bản chất con người do “thiên
mệnh” chi phối quyết định, đức “nhân” chính là giá trị cao nhất của con
người, đặc biệt là người quân tử. Mạnh tử quy tính thiện của con người
vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán xấu mà
con người bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp. Vì vậy, phải thông qua tu
dưỡng, rèn luyện để giữ được đạo đức của mình. Cũng như Không Tử,
Mạnh Tử cho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt
con người hướng tới các giá trị đạo đức tốt đẹp.
Triết học Tuân Tử lại cho rằng, bản chất con người khi sinh ra là ác,
nhưng có thể cải bién được, phải chống lại cái ác ấy thì con người mới
tốt được.
Trong triết học phương Đông, còn có quan niệm duy tâm cho rằng trời
và con người có thể hòa hợp với nhau (thiên nhân hợp nhất). Đổng
Trọng Thư, một ngươi kế thừa Nho giáo theo khuynh hướng duy tâm

5
cực đoan quan niệm trời và con người có thể thông hiểu lẫn nhau(thiên
nhiên nhân cảm ứng). Nhìn chung, đây là quan điểm duy tâm, quy cuộc
đời con nguời vào vào vai trò quyết định của “thiên mệnh”.
Lão Tử người mở đầu cho phái Đạo gia, cho rằng con người sinh ra
từ “Đạo”. Do vậy, con người cần phải sống “vô vi”, theo lẽ tự nhiên,
thuần phác, không hành động một cách giả tạo gò ép, trái với tự nhiên.
Quan niệm này biểu hiện tư tưởng duy tâm chủ quan của triết học Đạo
gia.
Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học, triết học phương Đông
biểu hiện tính đa dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người trong
mối quan hệ chính chị, đạo đức. Nhìn chung, con người trong triết học
phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật
chất phác ngây thơ trong mối quan hệ tự nhiên xã hội.
1.2.1.2. Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác.
Triết học phương Tây trước Mác biểu hiện nhiều quan niệm khác nhau
về con người:
Các trường phái triết học phương tây đặc biệt là Kitô giáo, nhận thức
vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí. Trong Kitô
giáo, con người là kẻ có thể xác, Thể xác sẽ mất đi nhưng linh hồn sẽ
tồn tại vĩnh cửu.Linh hồn là giá trị cao nhất của con người. Vì vậy, phải
thường xuyên chăm sóc phần linh hồn để hướng tới Thiên đường vĩnh
cửu.
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu
của tư duy triết học. Con người và thế giới xung quanh la tấm gương
phản chiếu lẫn nhau. Con người là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la .
Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu đã có sự phân biệt con

6
người với tự nhiên, nhưng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con
người.
Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của thượng đế
tạo ra. Mọi số phận, nièm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều
do Thượng đế sắp đặt. Trí tuệ của con người thấp hơn lý trí anh minh
sáng suốt của thượng đế. Con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sống
nhưng đành bằng lòng với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc
vĩnh cửu là ở thế giới bên kia.
Triết học thời kỳ phục hưng – cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý
trí con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ. Đó là một trong
những yếu tố quan trọng nhằm giải thpát con người khỏi mọi gông cùm
chật hẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặt cho con người.
Tu nhiên, để nhận thức đầy đủ bản chất con người cả về mặt sinh học
và mặt xã hội thì chưa có trường phái triết học nào có được. Con người
chỉ mới được nhấn mạnh về mặt cá thể, mà xem nhẹ mặt xã hội.
Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng như Cantơ,
Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng của
chủ nghĩa duy tâm. Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách
quan, thông qua sự vận động của “ý niệm tuyệt đối” đã cho rằng, con
người là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”. Bước diễu hành của “ý niệm
tuyệt đối” thông qua quá trình tự ý thức của con người đã đưa con
người trở về với giá trị tinh thần, giá trị bản thể và cao nhất trong đời
sống con người. Hêghen cũng là người trình bày một cách có hệ thống
các quy luật của quá trình tư duy của con người, làm rõ cơ chế của đời
sóng tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của con người. Mặc dù, con
người được nhận thức từ góc độ duy tâm khách quan, nhưng Hêghen

7
là người khẳng định vai trò chủ thể của con người với lịch sử, đồng thời
là kết quả của sự phát triển lịch sử.
Tư tưởng triết học của Phoiơbắc đă vượt qua những hạn chế trong
triết học Hêghen để hi vọng tìm đến bản chất con người một cách đích
thực Phoiơbắc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể
xác về bản chất con người trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định
con người do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên. Con người là
kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiê. Con người và tự nhiên là
thống nhất, không thể tách rời
*Có thể nói rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước
Mác, dù đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận
hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất con người.
Nhìn chung, các quan niệm đều xem xét con người một cáhc trìu tượng,
tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hóa mặt tự
nhiên - sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con người.
Tuy vậy, một số trường phái triết học vẫn đạt được một số thành tựu
trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý tính, xác lập các giá
trị về nhân bản học để hướng con người đến tự do. Đó là những tiền đề
có ý nghĩa trong việc hình thành tư tưởng con người của triết học
Macxít.
1.2.2. Quan niệm của triết học Mác – Lênin về bản chất con người.
1.2.2.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt
xã hội.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết
học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa
yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.

8
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm
của thế giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản
tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con ngườI là điều kiện đầu
tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể
vô cơ thể của con người”. Con người là bộ phận của giới tự nhiên. Con
người là tinh hoa của muôn loài, là sản phẩm của quá trình lâu dài của
thế giới tự nhiên. Con người phải tìm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn
tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở.
Đó là quá trình con người đấu tranh với tự nhiên, thú dữ để sinh tồn.
Trải qua hàng chục vạn năm con người đã thay đổi từu vượn thành
người, điều đó đã được chứng minh trong các công trình nghiên cứu
của Đácuyn. Các gia đọan mang tính sinh học mà con người trải qua từ
sinh thành, phát triên đến mất đi quy định bản chất sinh học trong đời
sống con người. Như vậy con người trước hết là một tồn tại sinh vật,
biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của
con người và mối quan hệ của nó đối với tự nhiên. Những thuộc tính,
những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý các giai đoạn phát triển
giống nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người. Tuy nhiên,
mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con
người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài
vật là mặt xã hội. Trong kịch sử đã có hững quan niệm khác nhau phân
biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ
lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hoặc con người là động vật
có tư duy …
Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía
cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên
được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy.

9
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác đã nhận thức vấn
đề con người một cách toàn diện, cụ thể trong toàn bộ tính hiện thực
của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất.
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất con người đã làm thay đổi, cải
biến tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người
thì tái sản xuất toàn bộ giới tự nhiên”. Tính xã hội của con người biểu
hiện trong sản xuất vật chất; hoạt động vật chất tự biểu hiện một cách
căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động lao động sản
xuẩt, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời
sống của mình; hình thành phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan
hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã
hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng
đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát
triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật
khác nhau, nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên
như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự chao
đổi chất, về di chuền, biến dị tiến hóa …quy định phương diện sinh học
của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận
động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm,
khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan
hệ giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn
chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội.
Mối quan hệ sinh học và xã hội trong đời sống con nggười như nhu cầu
ăn, mặc, ở ; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu
thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần.

10
Như vậy với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy
rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh
học và nhu cầu xã hội trong mỗi con ngườI là thống nhất với nhau, hòa
quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên xã
hội.
1.2.2.2. Bản chất con người là sự tổng hòa những quan hệ xã hội.
C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng Luân cương về Phoiơbắc: “bản
chất con người không phải là một cái trìu tượng cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa
những mối quan hệ xã hội.”
Luận đề khẳng định rằng, không có con người trìu tượng, thoát ly mọi
điều kiện, hoàn cảnh kịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác
định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất
định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình,
con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát
triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã
hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh
tế ; quan hệ cá nhân, gia đình xã hội …) con người mới bộc lộ bản chất
của mình.

1.2.2.3. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử.
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại
con người. Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa
lâu dài của thế giới hữu sinh. Song điều quan trọng hơn cả là, con
người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội.

11
Con người có hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên,cải biến tự
nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội.
Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con
người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong
phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lai một tự nhiên thứ hai theo mục đích
của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên con người cũng làm ra lịch sử của
mình. Con người là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời là chủ thể sáng
tạo ra lịch sử của chính bản thân con người. Hoat động lao động sản
xuất vừa là vừa là điều kiện cho sự tồn tại con người, vừa là phương
thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy
luật của kịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh
thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu
và nhu cầu do con người dặt ra. Không có hoạt động của con người thì
cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của
toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
* Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ
đại đến hiện đại. Triết học Mác – Lênin đã giải quyết những nội dung
liên quan đến con người.Con người có vị trí và vai trò rất quan trọng đối
với thế giới, và trong thực tế hiện nay thì con người là một lực lượng
chủ đạo trong nền sản xuất xã hội. Trong công cuộc đổi mới xã hội chỉ
có con người – yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã
hội mớI là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quyết định sự thành
công hay thất bại. Nhưng con người cũng là mục tiêu, là cái đích của sự
phát triển, đổi mới này.

12
Với thực trạng nước ta hiện nay là nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu
thì biện pháp duy nhât để thoat khỏi tình trạng đó kà nhất thiết phải tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nó vì lợi ích của con
người và có thành công hay không là phụ thuộc vào con người.
Chương 2
CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA Ở VIỆT NAM
2.1. Thế nào là công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.1.1. Khái niệm công nhiệp hóa.
Khái niệm đơn giản: Là đưa tính công nghiệp cho một hoạt động,
trang bị cho (một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công ngiệp …
Khái niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình hình
thành lịch sử công nghiệp hóa ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ.
Theo các nhà kinh tế Liên Xô thì công nghiệp hóa là phát triển đại
công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển ấy cần thiết
cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên
tiến.
Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc đã đưa
ra định nghĩa: Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong
quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân
được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều nghành ở trong nước
với kỹ thuật hiện đại.
2.1.2. Khái niệm công nghiệp hóa hiện, đại hóa

13
Công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
gắn liền với đổi mới công nghệ xây dựng cơ cấu vật chất - kỹ thuật, là
quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp sang
trình độ công nghệ cao hơn, nhờ đó mà tạo ra sự tăng trưởng bền vững
và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Khái niệm này rất phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay. Nước ta là
một nước nông nghiệp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.Nền
công nghiệp của nước ta còn yếu kém và lạc hậu, vì vậy thực hiện
công nghiệp hóa hiện đại hóa là một bước đi vô cùng đúng đắn.
2.2. Nhân tố con người là nhân tố quyết định trong công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.2.1. Tầm quan trọng của con người.
Để thực hiện được công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì cần có môi
trường ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết như: nguồn lực con
người, vốn tài nguên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý …
Trong đó thì con người là nhân tố quyết định.
Các nước lạc hậu đi sau như (nước ta hiện nay) không thể phát triển
nhanh chóng nếu không tiếp thu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện
đại của các nước phát triển. Nhưng không phải chuyển giao công nghệ
bằng mọi cách mà không cần đến yếu tố con người. Công nghệ đó
được phát huy tác dụng, hay bị phá hoại điều đó phụ thuộc vào con
người. Con người là yếu tố chủ lực bởi vì:
Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí
địa lý nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chung chỉ phát huy tác dụng
khi có sự tác động của con người, con người là nguồn lực duy nhất có
trí tuệ, có ý trí, và biết gắn kết các nguồn lực khác lại với nhau, tạo

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét