Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu tại Công Ty Dệt Hải Phòng

những xu hớng bất ổn, cho nên sức mạnh của một nền kinh tế nền tảng phải là sự
độc lập chủ quyền an ninh quốc gia. Đối với nớc ta cần phát huy hết lợi thế có sẵn
và tạo ra những chỗ đứng mới trên những thị trờng ổn định.
II. các nhân tố ảnh hởng tới hoạt động xuất khẩu
Công tác xuất khẩu liên quan đến nhu cầu thị trờng, tập quán tiêu dùng
trong và ngoài nớc cũng nh các chính sách thuế quan, phi thuế quan của nhà nớc ở
các mức độ khác nhau trong đó gồm:
1.các nhân tố khách quan
1.1 Yếu tố cung cầu của thị tr ờng .
ở mỗi thị trờng nhu cầu sản phẩm thờng rất khác nhau về chất lợng, quy
cách cũng nh mẫu mã. Do đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi muốn thâm nhập vào
thị trờng nào cần phải nghiên cứu kỹ đặc điểm tiêu dùng của thị trờng đó.
Vi dụ: Nhật Bản đợc coi là một trong những nớc trên thế giới đòi hỏi chất l-
ợng sản phẩm cao nhất, gồm cả độ bền và khả năng hoạt động. Thị hiếu của ngời
tiêu dùng chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống và điều kiện của Nhật Bản. Đây là
yếu tố quan trọng trong việc quyết định tiêu dùng sản phẩm hàng hoá. Do khủng
hoảng kinh tế gần đây nên ngời tiêu dùng Nhật Bản thích mua hàng hoá có giá trị
hợp lý. Tuy nhiên xét về mặt chất lợng hàng hoá tiêu dùng thì ngời Nhật Bản đòi
hỏi cao nhất trên thế giới
Sau khi nắm vững các thói quen, tập quán tiêu dùng ở mỗi thị trờng doanh
nghiệp phải có chiến lợc cạnh tranh một cách hoàn hảo. Thị trờng ở mỗi nớc có thể
biến động tuỳ theo thu nhập của ngời dân, tập quán, thị hiếu tiêu dùng cũng nh
những biến động ở từng thời kỳ.
1.2 Yếu tố về hàng rào thuế quan, phi thuế quan .
Thuế quan là loại thuế gián thu đánh vào hàng hoá khi qua cửa khẩu của
một nớc.Trên thực tế khi đánh thuế có hai mục đích: có thể là mục đích tài chính
5
và cũng có thể là mục đích bảo hộ. Cả hai mục đích này đều có ảnh hởng to lớn
đến việc xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp vào một nớc khác.
Thuế quan tài chính thông thờng đánh vào những hàng hoá xuất khẩu có lợi
nhuận cao hay những hàng hoá không đợc khuyến khích .
Thuế quan bảo hộ chủ yếu đánh vào những hàng hoá nhập khẩu, làm tăng
giá của hàng nhập để hàng hoá trong nớc có u thế hơn về giá cả so với đối thủ cạnh
tranh. Thuế quan bảo hộ là công cụ sắc bén tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp trong nớc tăng nhanh sản xuất.
Khi nhà nớc tăng thuế nhập khẩu, thông thờng sẽ làm cho khối lợng hàng
hoá nhập khẩu giảm do giá hàng tăng hạn chế tiêu dùng. Nhng trong một số trờng
hợp sẽ làm cho giá cả hàng hoá trên thị trờng tăng lên mà số lợng hàng nhập khẩu
lại không giảm, và ngợc lại.
Khi thuế suất xuất khẩu tăng sẽ hạn chế xuất khẩu do giá bán hàng hoá ra
thị trờng cao không đủ sức cạnh tranh với hàng nớc khác. Biện pháp này nhà nớc
thờng áp dụng với những hàng hoá không khuyến khích xuất khẩu. và ngợc lại.
Trên thực tế, thuế quan bảo hộ không phải bao giờ cũng có tác dụng hạn chế
nhập khẩu. Cho nên ngoài biện pháp đó nhà nớc còn dùng các biện pháp phi thuế
quan khác để hạn chế nhập khẩu, chúng gồm:
+ Quản lý hàng nhập khẩu bằng hạn ngạch: Biện pháp này nhằm chống lại
những nhà sản xuất lớn có khả năng cạnh tranh cao, nhằm ngăn chặn hàng nhập
khẩu từ nớc ngoài vào để bảo vệ thị trờng trong nớc hoặc nhằm cân bằng cán cân
thanh toán, hoặc làm công cụ mặc cả trong các cuộc thơng lợng, cũng có thể dùng
để hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng mang tính chiến lợc của nền kinh tế xã hội.
Ví dụ: nh gạo ở Việt Nam hiện nay.
+ Giấy phép nhập khẩu: Tính chất kín đáo và bí mật của giấy phép cũng nh
thủ tục cấp giấy phép của chính quyền nhà nớc cũng tạo khả năng hạn chế nhập
6
khẩu nhằm bảo hộ hàng trong nớc.
+ Một số biện pháp hạn chế nhập khẩu khác: Bên cạnh những biện pháp hạn
chế nhập khẩu trực tiếp, Nhà nớc còn dùng một số biện pháp gián tiếp nhằm ngăn
cản việc nhập khẩu hàng hoá từ nớc ngoài nh: Biện pháp về vệ sinh thú y, vệ sinh
thực phẩm, hoặc các tiêu chuẩn về kỹ thuật nh tiêu chuẩn về kích thớc, bao bì,
những tiêu chuẩn về môi trờng sinh thái.
Các yếu tố về thuế quan, phi thuế quan có ảnh hởng rất lớn đến việc xuất
khẩu của một doanh nghiệp vào một thị trờng nớc ngoài, cho nên trớc khi thâm
nhập hàng hoá vào một thị trờng nào doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ chính
sách thuế quan, phi thuế quan của nớc đó.
1.3 Tín dụng xuất khẩu .
Tín dụng xuất khẩu tức là nhà nớc dành cho ngời nớc ngoài những khoản tín
dụng để mua hàng nớc mình. Nhà nớc không chỉ trực tiếp can thiệp vào thị trờng
tín dụng mà còn tạo điều kiện tín dụng xuất khẩu u đãi hơn so với điều kiện tín
dụng trong nớc. Điều đó làm khả năng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nớc
tăng lên. Ngoài ra, Nhà nớc đảm bảo gánh vác mọi rủi ro đối với khoản tín dụng
mà doanh nghiệp xuất khẩu nớc mình dành cho nhà nhập khẩu nớc ngoài. Đây là
phơng tiện quan trọng đẩy mạnh việc tiêu dùng hàng hoá ở thị trờng nớc ngoài. Nó
làm cho nhà xuất khẩu yên tâm và mở rộng xuất khẩu ra thị trờng nớc ngoài mà
không sợ gặp sự rủi ro.
1.4 Yếu tố về tỷ gía hối đoái.
Trong tình hình nền kinh tế mở cửa, các mối quan hệ kinh tế ngày càng rộng
thì việc thanh toán không chỉ là đơn vị tiền tệ trong nớc mà còn phải sử dụng nhiều
loại ngoại tệ khác nhau, từ đó phát sinh nhu cầu tất yếu phải so sánh giá trị, so
sánh sức mạnh đồng tiền trong nớc và đồng ngoại tệ, đó là tỷ giá hối đoái. Nh vậy,
tỷ giá hối đoái dùng để biểu hiện và so sánh những quan hệ về giá cả giữa các
đồng tiền một nớc đợc biểu hiện qua đơn vị tiền tệ của nớc khác. Do đó hoạt động
7
xuất khẩu chịu ảnh hởng rất lớn của tỷ giá hối đoái. Ví dụ nh khi tỷ giá hối đoái
tăng nghĩa là giá trị đồng nội tệ giảm so với đồng ngoại tệ sẽ khuyến khích xuất
khẩu và hạn chế nhập khẩu và ngợc lại khi tỷ giá hối đoái giảm thì sẽ tăng nhập
khẩu và hạn chế xuất khẩu.
2-các nhân tố chủ quan
2.1 Năng lực tổ chức và trình độ cán bộ làm xuất khẩu:
Đây là một yếu tố rất quan trọng có tính quyết định rất lớn trong quá trình
nâng cao doanh thu bán hàng cũng nh tìm kiếm lợi nhuận, nó bao gồm các khâu tổ
chức tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị, chính sách bán hàng.
Trình độ của cán bộ làm công tác xuất khẩu sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm
các rủi ro trong quá trình thực hiện các công tác đàm phán ký kết hợp đồng, cũng
nh tác nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng. Thực tế hiện nay trong một số
doanh nghiệp đội ngũ cán bộ làm công tác tác nghiệp vừa yếu cả về chuyên môn
lẫn ngoại ngữ, nên điều dễ hiểu là nhiều hợp đồng xuất nhập khẩu của các doanh
nghiệp Việt Nam ký với nớc ngoài bị rất nhiều sơ hở, yếu kém làm thua thiệt cho
phía Việt Nam. Chính vì vậy, việc tổ chức và nâng cao trình độ của cán bộ làm
công tác xuất khẩu rất cần thiết cho các doanh nghiệp.
2.2./ Công nghệ và thiết bị công nghệ.
Công nghệ bao gồm cả công tác công nghệ và phơng tiện kỹ thuật đợc ký
kết với nhau theo hình thức thích hợp, trong đó máy móc thiết bị kỹ thuật là phơng
tiện kỹ thuật để thực hiện phơng pháp công nghệ.
Dây chuyền công nghệ và máy móc thiết bị ảnh hởng rất lớn tới cơ cấu của
sản xuất, đồng thời nó quyết định tới chất lợng sản phẩm và việc thay đổi cải tiến
sản phẩm. Ngoài ra nó còn thúc đẩy việc tăng năng suất lao động. Khi máy móc
thiết bị của doanh nghiệp hiện đại, phù hợp với năng lực hiện có của mình thì sẽ
làm cho hàng hoá có chất lợng cao, mẫu mã đẹp và ngợc lại với trờng hợp máy
móc thiết bị lạc hậu hoặc quá hiện đại không thể áp dụng sẽ làm cho hàng hoá sản
8
xuất ra không tiêu thụ đợc. Nh vậy có thể kết luận là trình độ và khả năng công
nghệ là một loại vũ khi sắc bén để thành công trong cạnh tranh với các sản phẩm
cùng loại trên thị trờng. Một dây chuyền công nghệ và máy móc thiết bị lạc hậu
không thể sản xuất đợc những sản phẩm có chất lợng cao, có nhiều tính năng đáp
ứng đợc nhu cầu đa dạng của thị trờng.
2.3./ Trình độ lành nghề và bậc thợ của công nhân.
Trình độ tay nghề của công nhân phản ánh tính chất chuyên môn hoá, trình
độ thành thạo nghề nghiệp. Nếu trình độ ngời làm công tác xuất khẩu kém sẽ làm
cho doanh nghiệp thua thiệt trong đàm phán ký kết hợp đồng cũng nh thực hiện
hợp đồng xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp. Không những thế nếu trình độ
nghề nghiệp của công nhân cao hơn mức yêu cầu của công việc đợc bố trí sẽ gây
lãng phí trong việc sử dụng lao động, và ngợc lại sẽ ảnh hởng đến năng suất lao
động và chất lợng sản phẩm. Cho nên vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải
bố trí đợc một cơ cấu lao động tối u nhằm sử dụng có hiệu qua nguồn lao động
đồng thời phải thờng xuyên tổ chức công tác đào tạo tay nghề cho cán bộ công
nhân viên, và luôn luôn coi đó là nhiệm vụ thờng xuyên của mọi doanh nghiệp.
2.4./ Giá sản phẩm.
Giá sản phẩm là biểu hiện tổng hợp của nhiều mối quan hệ kinh tế trên thị
trờng (Vấn đề cung cầu, lu thông tiền tệ). Chính vì vậy mà giá thành sản phẩm ảnh
hởng rất lớn tới khối lợng hàng hoá xuất khẩu và lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Muốn có một sản phẩm có giá trị cạnh tranh tốt đồng thời có lợi nhuận phù hợp thì
đòi hỏi doanh nghiệp phải có một giá bán thích hợp với thị trờng. Muốn xác định
giá bán này doanh nghiệp phải căn cứ vào giá bình quân của giá thị trờng, giá đó
đợc tính nh sau:

9
Sản lượng bình quân
Sản lượng
Giá bình quân
Cung
Cầu
Giá




Nếu giá bán cao hơn giá bình quân của thị trờng thì sản phẩm - hàng hoá có
thể bán đợc với số lợng ít thậm chí không bán đợc một sản phẩm nào.
Nếu bán với giá thấp hơn giá bình quân thì lợi nhuận của doanh nghiệp có
thể bị giảm xuống hoặc không có lợi nhuận (lỗ vốn).
Từ đó ta thấy muốn bán giá thấp hơn mà không ảnh hởng tới lợi nhuận,
doanh nghiệp phải tăng doanh số bán hàng, ngoài ra phải phấn đấu giảm chi phí
các yếu tố đầu vào nh tiết kiệm vật t, tăng năng suất lao động, hạn chế phế phẩm,
hoàn thiện bộ máy quản lý, thay đổi quy trình công nghệ.
- Chất lợng hàng hoá và mẫu mã sản phẩm đợc ngời tiêu dùng rất quan tâm
tuỳ thuộc vào thị trờng mỗi nớc. Các loại mẫu mã và chất lợng sản phẩm tuỳ thuộc
vào tập quán ngời tiêu dùng theo lứa tuổi.
Do mức thu nhập bình quân ở mỗi nớc là rất khác nhau nên thông thờng ở
các nớc càng phát triển thì sự đòi hỏi về mẫu mã, chất lợng càng cao và càng khắt
khe.
2.5./ Các biện pháp về hỗ trợ xuất khẩu.
Biện pháp hỗ trợ xuất khẩu bao gồm các hoạt động quảng cáo khuyết trơng,
tiếp thị thông qua phơng tiện thông tin đại chúng, hội chợ triển lãm. Đây thực sự là
một hoạt động rất cần thiết để mở rộng thị trờng xuất khẩu. Thực chất của hoạt
động này là tạo ra và sắp xếp các mối quan hệ trong kinh doanh vào một hệ thống
10
đồng thời giải quyết các mối quan hệ đó, kích thích động viên ngời tiêu dùng mua
hàng. Làm tốt công việc này doanh nghiệp sẽ đem lại :
+ Thế lực trong kinh doanh, tạo nhu cầu mới, tạo uy tín cho sản phẩm đối
với ngời tiêu dùng.
+ Tăng doanh số bán hàng, giảm lợng hàng hoá tồn kho, ứ đọng không cần
thiết.
+ Hỗ trợ công tác bán hàng xuất khẩu .
+ Kích thích nhu cầu tiêu dùng.
III. nội dung hoạt động xuất khẩu
1./ nghiên cứu thị trờng .
Trong kinh doanh nói chung không thể tách sản xuất với lu thông vì hai
khâu này gắn liền với nhau, thúc đẩy nhau phát triển, một khâu trong quá trình
kinh doanh bị ách tắc sẽ gây cản trở đối với các khâu khác trong cả một hệ thống.
Một trong những nguyên nhân làm cho sản phẩm hàng hoá bị ứ đọng là do giá
thành cao, chất lợng kém, giá cả không đợc ngời mua chấp nhận. Theo nhiều nhà
kinh doanh có kinh nghiện thì ngay trong quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất
sản phẩm thì cũng đồng nghĩa với việc tiến hành nghiên cứu thị trờng để khi hàng
hoá đợc sản xuất ra tiêu thụ một cách thuận lợi. Nh vậy không những phải tìm hiểu
thị trờng trong nớc mà còn phải mở rộng ra nghiên cứu thị trờng nớc ngoài.
1.1./ Các ph ơng pháp nghiên cứu thị tr ờng n ớc ngoài.
Khi nghiên cứu thị trờng cần phải sử dụng những phơng pháp thích hợp
cũng nh những cán bộ có năng lực và thích hợp với chuyên ngành của họ. Có thể
sử dụng nhiều phơng pháp khác nhau nhng có hai phơng pháp chủ yếu đó là phơng
pháp nghiên cứu thị trờng nớc ngoài thông qua nghiên cứu tại bàn làm việc và ph-
ơng pháp nghiên cứu trực tiếp trên thị trờng nớc ngoài.
11
- Phơng pháp nghiên cứu tại bàn làm việc là việc nghiên cứu thông qua các
phơng tiện thông tin đại chúng nh sử dụng các loại báo chí, tạp chí, các loại ấn
phẩm thờng là các tạp chí kinh tế xuất bản định kỳ hoặc không định kỳ, các loại
sách chuyên khảo, các bản thống kê, các thông báo của các công ty môi giới. Ph-
ơng pháp này có u thế là chi phí thấp, tiết kiệm thời gian nhng thông tin không cập
nhập, dễ làm mất cơ hội trong kinh doanh.
- Nghiên cứu trực tiếp ở thị trờng nớc ngoài là cách nghiên cứu ngay tại thị
trờng tiêu thụ sản phẩm. Đây là phơng pháp nghiên cứu rất phức tạp và tốn kém
nhng nó lại là phơng pháp mang lại hiệu quả thiết thực nhất, mang lại thông tin cập
nhập, giúp cho doanh nghiệp có thể chớp cơ hội để thành công trong cạnh tranh.
Bởi nghiên cứu tiếp xúc trực tiếp với thị trờng có thể tạo đợc các quan hệ trực tiếp
với ngời mua hàng, bán hàng tìm hiểu và mua các mẫu hàng về để nghiên cứu sản
xuất, xuất khẩu.
Ngoài ra các doanh nghiệp còn sử dụng các phơng thức bán thử để tìm hiểu
tình hình thị trờng hàng hoá, qua đó ngời xuất khẩu có điều kiện nghiên cứu toàn
diện. Phơng pháp này sẽ tạo thuận lợi lâu dài nếu tìm đợc thị trờng. Sau khi bán
thử, thu thập thông tin về hàng của mình, cải tiến để xuất khẩu lớn hơn, phù hợp
hơn .
1.2./ Các hình thức tổ chức nghiên cứu thị tr ờng n ớc ngoài .
Trong công cuộc đổi mới cơ chế quản lý ở nớc ta, việc đổi mới cơ chế xuất
nhập khẩu là một hớng đi đúng đắn và quan trọng, việc nghiên cứu thị trờng thế
giới thể hiện sự hiểu biết về quy luật vận động của nó. Quy luật này thể hiện qua
những biến đổi về nhu cầu, cung ứng giá cả hàng hoá cụ thể trên thị trờng. Việc
hiểu biết về quy luật của thị trờng hàng hoá là để giải quyết những vấn đề liên
quan nh thái độ tiếp thu của ngời tiêu dùng, yêu cầu của thị trờng đối với những
hàng hoá mới sẽ đợc tiêu thụ, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, những biện
pháp và hình thức thâm nhập, chiếm lĩnh thị trờng.
12
Trong việc thực hiện chiến lợc xuất khẩu sản phẩm hàng hoá cần phải xác
định thị trờng nào là thị trờng trọng điểm, tiêu thụ nhiều sản phẩm hàng hoá của
doanh nghiệp mình, và thị trờng đó có cơ hội và những điều kiện thuận lợi để tăng
khối lợng hàng xuất khẩu, thu đợc lợi nhuận cao hơn hay không? Ngoài ra, việc
nghiên cứu thị trờng nớc ngoài còn phải thu thập những thông tin về các chế độ
kiểm tra chất lợng sản phẩm hàng hoá theo từng bớc. Trong việc giao dịch thơng
mại với các nớc còn phải tìm hiểu rõ các chính sách về thuế quan và nhập khẩu của
họ.
Sự cạnh tranh trên thị trờng nói chung ngày càng gay gắt. Việc nghiên cứu
thị trờng còn phải xác định đầy đủ vị trí và sự hoạt động của đối thủ cạnh tranh, tức
là đánh giá đợc khả năng kinh tế, khoa học kỹ thuật của các đối thủ cạnh tranh,
đánh giá, xem xét các chiến lợc thị trờng, việc tổ chức, phục vụ khách hàng, chiến
lợc quảng cáo, cố vấn kỹ thuật, điều kiện bán hàng trên cùng thị trờng của đối thủ
cạnh tranh. Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lợc xâm nhập thị trờng
thích hợp.
Việc nghiên cứu thị trờng nớc ngoài đợc vận dụng để xác định chiến lợc
kinh doanh nói chung và chiến thuật của ngời xuất khẩu hàng hoá trong hoạt động
kinh tế đối ngoại nói riêng. Khi đã dự đoán đợc xu hớng phát triển của thị trờng n-
ớc ngoài mà trớc hết là xu hớng biến động về giá cả hàng hoá, ngời xuất khẩu cần
xác định chiến lợc kinh doanh nh: Nếu giá cả hàng hoá có xu hớng tăng thì ta sẽ
không bán ra vội vàng hoặc không bán hàng hoá với khối lợng lớn mà để cho mức
tăng của giá cả đến một mức nhất định mới bán hàng thì nh vậy doanh nghiệp mới
thu đợc lợi nhuận cao trong những lúc giá cả hàng hoá có xu hớng tăng. Còn ngợc
lại, khi giá cả có xu hớng giảm thì phải nhanh chóng bán hàng để tránh tình trạng
thua lỗ, và nhiều khi cần áp dụng những phơng thức khác nh bán hạ giá để bán với
khối lợng lớn khi giá cha kịp hạ.
Trong quá trình nghiên cứu thị trờng nớc ngoài, việc cần nắm vững những
vấn đề quan trọng nh: Làm cách nào để thâm nhập thị trờng quốc tế, mở rộng quá
13
trình tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá đã có sẵn trên thị trờng truyền thống của
doanh nghiệp. Nghiên cứu hàng hoá và dịch vụ để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ
hàng hoá mới, hoặc hàng hoá đợc đổi mới trên thị trờng truyền thống và đẩy mạnh
quá trình tiêu thụ hàng hoá có sẵn trên thị trờng mới và nghiên cứu quá trình sản
xuất có sản phẩm hàng hoá mới đa ra tiêu thụ trên thị trờng mới.
Việc nghiên cứu thị trờng và công tác Marketing ngày nay đang giữ vị trí
quan trọng trong điều kiện cạnh tranh giành thị trờng gay gắt. Marketing trên thị
trờng nớc ngoài thờng hay đợc các công ty lớn quan tâm, họ coi đây là điều kiện
tiên quyết trong việc giành thắng lợi trong cuộc chạy đua giành thị trờng. Đối với
đơn vị kinh doanh đối ngoại do rủi ro trên thị trờng nớc ngoài cao cho nên việc
nghiên cứu thị trờng nớc ngoài có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét