Mục Lục
Lời Mở Đầu Trang
1. Thực trạng khai thác than ở Quảng Ninh…………………… 3
2. Tiếp cận phương pháp đánh giá thiệt hại môi trường do quá trình
khai thác than ở Quảng Ninh………………………………………… 6
2.1. Tác động môi trường từ quá trình khai thác than ở Quảng Ninh……6
2.2 Tiếp cận phương pháp đánh giá thiệt hại môi trường do quá trình khai
thác than than 9
2.2.1.Tác động tới môi trường từ khai thác than ở Quảng Ninh 11
2.2.2. Tiếp cận phương pháp đánh giá thiệt hại môit trường do khai thác than
ở Quảng Ninh gây nên…………………………… ………. 12
3. Kết luận
3.1. Kết luận chung
3.2 Ý kiến cá nhân
Tài liệu tham khảo
1
L I M UỜ Ở ĐẦ
Mối giao hoà giữa con người và tự nhiên chính là cội nguồn của sự
sống. Đó không đơn giản là chỉ là một lời nói xuông vì với bốn chức năng
của môi trường tự nhiên:
Môi trường cung cấp nguồn tài nguyên
Môi trường là nơi chứa đựng chất thải
Môi trường là không gian sống, cung cấp các hàng hoá môi trường
Môi trường cung cấp các thông tin môi trường
sẽ làm sáng tỏ vấn đề này. Nếu coi Việt Nam là một con người thu nhỏ
của vô vàn những con người đang sống trên trái đất này thì không lẽ gì mà nó
tách khỏi tự nhiên. Với những vật chất có sẵn của tạo hoá thì "con người" Việt
Nam ấy cũng dựa vào đó để duy trì sự tồn tại mình thông qua quá trình sản
xuất của mình. Khi đó, mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên
được thiết lập. Đây phải chăng là mối quan hệ tương hỗ hai bên cùng có lợi
hay là đi theo chiều hướng tiêu cực khác. Để giải quyết vấn đề này chúng ta sẽ
cụ thể đi vào nghiên cứu lĩnh vực khai thác than ở Việt Nam, đặc biệt ở tỉnh
Quảng Ninh, nơi xuất khẩu than chính của nước ta thông qua việc tiếp cận
phương pháp đánh giá thiệt hại môi trường do khai thác than gây nên.
Đứng trên cương vị của một sinh viên chuyên ngành Kinh tế - Quản
lý tài nguyên môi trường mục đích làm đề tài này là xuất phát từ yêu cầu thực
tế. Một mặt bản thân em muốn tìm hiểu thực trạng khai thác than ở tỉnh Quảng
Ninh góp vào GDP quốc dân như thế nào để từ đó rút ra động lực khiến quá
trình khai thác than tăng nhanh gây thiệt hại môi trường. Mặt khác, tìm hiểu
xem phương pháp đánh giá thiệt hại thông qua các chi phí môi trường cũng như
giá thị trường có hiệu quả như thế nào trong lĩnh vực này.
Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Thế
Chinh đã giúp đỡ em hoàn thành đề án này !!!
2
1. Thực trạng khai thác than ở Quảng Ninh.
Ngành Than có những đóng góp quan trọng trong chỉ số tăng trưởng
GDP ngành công nghiệp tỉnh Quảng Ninh. Nhưng cũng cần phải nói thêm rằng,
nếu ngành Than đóng góp 1 đồng cho kinh tế địa phương thì địa phương bỏ ra
nhiều đồng để hoàn thiện và khắc phục ô nhiễm môi trường…
90% trữ lượng than của cả nước thuộc về tỉnh Quảng Ninh. Đây chính là
đặc điểm hình thành vùng công nghiệp khai thác than từ rất sớm. Tuy nhiên, hoạt
động khai thác luôn có những diễn biến phức tạp, gây tác động xấu đến nhiều lĩnh
vực. Theo báo cáo của ngành Than, trong nhiều năm qua, do nhu cầu than trên
thế giới ngày càng tăng nhanh nên ngành Than đã tổ chức lại sản xuất, tăng
cường đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại, sản lượng khai thác than không
ngừng tăng lên từ 11.03 triệu tấn (2000), góp phần làm tăng trưởng kinh tế của
tỉnh.
Thống kê hiện nay cho thấy, trên địa bàn tỉnh có 41 đơn vị khai thác
than và 7 đơn vị sàng tuyển, chế biến than thuộc Tập đoàn Than - Khoáng sản
Việt Nam (TKV). Ngoài ra còn có hai đơn vị là Công ty liên doanh Phát triển
Vietmindo Energitama và Công ty Xi măng & Xây dựng Quảng Ninh. Đó là chưa
kể hàng chục doanh nghiệp, cơ sở khai thác " không chính qui" dưới các danh
nghĩa tận thu, trồng rừng… hình thức khai thác rất thủ công nhưng sôi động trong
khai thác theo kiểu bóc ngắn cắn dài với sản lượng ước tính hàng triệu tấn trên
năm.
Vùng khai thác than, chế biến, tiêu thụ than có phạm vi rất lớn, trải từ
Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ,Hạ Long, Cẩm Phả. Chỉ riêng khối doanh nghiệp
thuộc TKV, sản lượng khai thác đã đẩy mạnh ở mức cao chưa từng thấy. Lấy
mốc năm 2005, TKV đã khai thác được 31.15 triệu tấn tăng 175% so với quy
hoạch năm 2010. Kinh tế Quảng Ninh tiếp tục duy trì ở mức tăng trưởng cao trên
12% , trong đó nganh Than tănng rất nhanh về sản lượng. Than sản xuất trong 6
thnág đầu năm 2006 đạt 21 triệu tấn, tăng 215% so với cùng kỳ. Nhiều khai
trường khai thác than trái phép ở các địa phương xuống sâu tới hàng chục mét
3
nhưng vẫn chưa được hoàn nguyên, đang là ẩn hoạ nguy hiểm đe doạ đến sinh
mạng của người dân trong mùa mưa bão 2008.
Hiện nay mỗi năm TKV khai thác được hơn 50 triệu tấn than, trong đó
khoảng 15 - 20 triệu tấn cung cấp cho các khách hàng trong nước, còn lại là xuất
hết ra nứoc ngoài chủ yếu là Trung Quốc. Các chuyên gia ngành than cho biết, sản
lượng than đã đạt ở mức giới hạn, do các mỏ lộ thiên đang giảm dần. Trong
những năm tới, việc khai thác than càng ngày càng tiến sâu vào lòng đất hơn, nên
sản lượng sẽ giảm.
Theo Đại tá Nguyễn Hữu Tứơc, giám đốc công an tỉnh Quảng Ninh cho
biết, chính quyền một số địa phương như Đông Triều, Hạ Long, Cẩm Phả đã cấp
giấy phép cho một số dự án được đội lốt bằng tên gọi trồng rừng, làm các công
trình giao thông, phúc lợi nhưng thực chất là cho phương tiện cơ giới đào bới khai
thác than với số lượng lớn. Nhưng nguy hại nhất là than bất hợp pháp lại chảy ra
từ những công trường khai thác hợp pháp.
Boá cáo cho biết trong bối cảnh khai thác nhộn nhạo gần đây, công ty than
Mạo Khê đã nhanh chong chiếm 427130 m
2
để khai thác lộ vỉa không có giấy
phép và lập bãi thải không có báo cáo ĐTM, việc khai thác vận chuyển than của
công ty diễn ra ồ ạt tại khu vực vỉa 6, 7, 9B về phía Bắc.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về năng lượng tăng
lên. Quan hệ cung - cầu thúc đẩy việc khai thác than nói chung. Trong khi
than của các công ty khai thác không đủ đáp ứng và giá cả lại không cạnh
tranh nên việc khai thác than lậu là việc khó tránh khỏi. Hiện mỗi tấn than
dùng nhiệt lượng thấp, không qua sàn tuyển cũng có giá trên triệu đồng. Vì lợi
nhuận nên các chủ lò bất chấp tất cả miễn sao đào được than đem bán. Mỗi lò
than kiểu này cũng khai thác vài chục tấn/ngày, tức là vài chục triệu triệu/
ngày. Trong khi đó, số lò than loại này mọc khắp nơi trong tỉnh Quảng Ninh,
khó thống kê chính xác, nhưng chắc chắn có hàng trăm lò tồn tại. Chỉ tính hai
tháng đầu năm 2008 các địa phương trên địa bàn đã tiến hành san lấp 56 lượt
điểm đào bới, khai thác than trái phép. Nhiều nơi do trữ lượng than ít, một số
hộ dân nhập nhằng tận thu than, cải tạo vườn, trồng rừng để khai thác, tìm
4
cách móc ngoặc để hợp thức hoá nguồn than trái phép. Không ít đối tượng đầu
tư hàng tỷ đồng để mua lại vườn sau đó mua sắm phương tiện thiết bị san gạt,
thăm dò than, kinh doanh than nhưng không có phương án hoặc các thiết kế
kỹ thuật, thiết kế thi công, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về khai thác
mỏ. Trong năm 2004 và bốn tháng đầu năm 2005 Công ty chế biếm than Cẩm
Phả dã thu gom trong dân được 138199 tấn, Xí nghiệp chế biến tiêu thụ than
của Công ty than Hòn Gai thu gom gần 15 nghìn tấn trong các hộ dân phường
Hà Khánh; Xí nghiệp dịch vụ kinh doanh than thuộc Công ty than Hạ Long
thu gom được hơn 41 nghìn tấn tại hai phường Mông Dương và Hà Trung.
Tình trạng người dân tự tổ chức tiêu thụ, chuyển than tới các kho cảng, bến,
bãi ngoài quy hoạch của TKV; hoặc đến các bến bãi thuê ngoài tỉnh như Hải
Phòng, Hải Dương, Thanh Hoá… sau đó tìm cách đưa đi tiêu thụ, đã làm nỷ
sinh bất ổn về an ninh trật tự. Việc nguỵ trang của quân đội khai thác than trái
phép ngày càng tinh vi hơn, quá trình khai thác, vận chuyển hầu như chỉ diễn
ra vào ban đêm. Lượng than tồn ở các cảng, bãi trong dân hiện còn một lượng
khá lớn, khoảng 500 nghìn tấn. Năm 2006, TKV đã sản xuất và tiêu thụ đã sản
xuất và tiêu thụ xấp xỉ 37 triệu tấn than, vượt gần 7 triệu tấn so với quy hoạch
phát triển ngành than mà chính phủ phê duyệt đến năm 2020. Năm 2007 do
nhu cầu của thị trường nên ngành than lại tăng tốc sản xuất than với cấp độ
lớn. Để đảm bảo mức độ tương ứng tăng sản lượng than, ngành than đã tập
trung đẩy mạnh đổi mới công nghệ và đầu tư cho sản xuất với tổng vốn đến
gần 20 nghìn tỷ đồng. Hầu hết các công ty than hầm lò đều mua sắm máy đào
lò khoan Tamroc, máy xúc đá trong lò, cột thuỷ lực đơn… đưa vào lò cho khai
thác than thay thế gỗ trục mỏ. Các Công ty than lộ thiên đã mua các loại xe,
máy có công suất lớn như KOMASU (Nhật Bản), CAT (Mỹ) trọng tải 55 - 96
tấn.
Trong năm 2006 tại các doanh nghiệp ngành Than đã xảy ra 33 vụ tai nạn
giao thông làm chết 50 người trong đó có nhiều vụ được xác định là do không
đảm bảo an toàn kỹ thuật hoặc do hậu quả để lại từ việc khai thác bừa bãi.
5
Kể từ năm 2007 Thông tư 04, 05 của Bộ Công Thương ra đời quy định
than không phải là mặt hàng cấm mà là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, việc
xuất khẩu than theo đường tiểu ngạch không cần quota trước đây mà chỉ cần có
hoá đơn chứng minh nguồn gốc than. Vì thế thực tế có rất nhiều bất cập. Chỉ
riêng năm 2007, đã có 10 triệu tấn than lậu sang Trung Quốc bằng con đường
tiểu ngạch, gây thiệt hại cho nhà nước khoảng 4500 tỷ đồng và để lại hậu quả
nghiêm trọng về môi trường sinh thái.
2. Tiếp cận phương pháp đánh giá thiệt hại môi trường do khai thác
than Quảng Ninh gây ra
2.1 Tác động tới môi trường từ khai thác than
Do tốc độ khai thác than tăng nhanh nhưng không được các doanh
nghiệp than thuộc Tập đoàn than - Khoang sản Việt Nam đầu tư trang thiét bị
sản xuất tương xứng và hoàn nguyên môi trường sau khai thác. Điều đó đã
làm cho môi trường Quảng Ninh bị huỷ hoại nặng nề, và ngưòi đan nơi đây
đang từng ngày phải đương đầu, gánh chịu hậu quả. Đây là một thực trạng
đáng báo động. Cán bộ công nhân viên và nhân dân trên địa bàn vùng than từ
Đông Triều, Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh đến Hạ Long, Cẩm Phả, Cọc
Sáu, Cửa Ông - Mông Dương. Nhiều năm nay phải sông chung với bụi than
đặc biệt trên các tuyến đường " Bão táp " Mạo Khê - Bến Cân, Vàng Danh,
Gia Cảng, Điền Công… bụi than đã quá mức báo động. Nguyên nhân ô nhiễm
môi trường là do sản xuất than tăng lên rất nhanh nhưng cơ sở hạ tầng chư
theo kịp. Các cơ sở sản xuất và tiêu thụ than trên địa bàn thị xã Uông Bí chỉ
đáp ứng sản lượng trên 2 triệu tấn than một năm, nhưng hiện nay đang sản
xuất 4 -5 triệu tấn, gấp đôi, gấp ba so với trước. Do đó gây ô nhiễm nặng về
bụi, tiếng ồn, nguồn nước… Bên cạnh đó việc nổ mìn khai thác ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường xã hội như nứt nhà, sập nhà dân, ảnh hưởng tới
đời sồng tình thần cũng như vật chất hàng ngày hàng giờ. Theo tính toán để
khai thác 1 tấn than phải bóc từ 6 - 8 m
3
đất đá và thải ra 1 - 3 m
3
nước thải.
Do vậy, hàng năm sẽ thải vào môi trương khoảng 160 triệu m3 đất đá và
6
khoảng 60 triệu m3 nước gây tích tụ, bối lắng, rửa trôi đất đá làm ảnh hưởng
đến các khu dân cư, đô thị và các cửa sông ven biển làm suy thoái nghiêm
trọng tài nguyên đấ đai, rừng biển… Có thể nói, hoạt động khai thác than với
tốc độ cao và vấn đề môi trường chưa được đầu tư tương xứng là nguyên nhân
chính gây ô nhiễm môi trường về đất, nước, không khí và sức khoẻ cộng đồng
dân cư. Vừa qu, cụa bảo vệ môi trường phối hợp với Sở tài nguyên và môi
trường tỉnh Quảng Ninh kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của một số
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cho thấy chất thải ra môi trường đều vượt quá
tiêu chuẩn. Tại KCN Cái Lân, hầu hết dự án đầu tư đêu không lập báo cáo
ĐTM. Mặc dù chủ đầu tư là công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng
Ninh đã và đang xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng thực tế
chưa thu gom được nước thải xử lý nên tại thời điểm kiểm tra nước thải có
màu đen vượt quá tiêu chuẩn cho phép thải ra ngoài môi trường.
Ví dụ: Công ty dầu thực vật Cái Lân chưa tổ chức thu gom, phân
loại, vận chuyển đi xử lý các chất thải nguy hại, chưa thực hiện quan trắc khí
lò hơi làm cho không khí xung quanh có mùi khó chịu.
Ở khu vực than Cửa Ông, kết quả quan trắc cho thấy hàm lượng bụi và
tiếng ồn trong khu vực sàng tuyển than đều vượt tiêu chuẩn cho phép : nước
thải tại cống chảy qua khu vực hồ xử lý nước có hàm lượng Amoniac vượt
4.2 lần quy định cũng như hàm lượng các chất hữu cơ và vi khuẩn đều ở cấp
cao.
Kết quả nghiên cứu mới đây của cục bảo vệ môi trường cho
thấy, môi trường tại Quảng Ninh bị ảnh hưởng nghiêm trọng do khai thác
than. Đặc biệt nước ở một số vùng khai thác than bị ô nhiễm bẩn Nitơ, hoá
chất cực độc đối với sức khoẻ con người. Nước mặt vùng Hòn Gai - Cẩm Phả
cho thấy đặc điểm thuỷ hoá của nước ở đây đã thay đổi cơ bản: giàu Ion
Sunphat, giảm Ion Bicacbonat, mang tính acid.
Đặc điểm hoạt động sản xuất than ở khu vực Đông Triều - Uông Bí
là khai thác hầm lò. Khối lượng đào dốc, vận chuyển đất đá tại mỏ tuy không
nhiều nhưng thiếu tính kế hoạch. Chính vì thế nguồn nước bị nhiễm khuẩn
7
Coliform với hàm lưọng khá cao, đăch biệt là ở hồ Nội Hoàng Tràng Bạch. Ở
các mỏ lộ thiên hàng năm người ta bóc từ 25- 40 triệu m3 đất đá, sử dụng
hàng chục nghìn tấn thuốc nổ. Đó là những nguồn gây ô nhiêm không khí, là
nguyên nhân tàn phá môi trường, đa dạng sinh học, tàn phá rừng, là nguồn
phát thải bụi, làm bồi lấp sông hồ. Khí thải từ hệ thống thông gió của hầm lò
thoát ra là nguồn phát khí Co
2
, Co, CH
4
. Nước thải từ lò và các mỏ lộ thiên
chảy ra là nguồn ô nhiễm nước mặt. Theo thống kê gần một nửa số người mắc
các bệnh về phổi tren toàn quốc tập trung ở tỉnh Quảng Ninh.
Ở Quảng Ninh các bãi thải đất đá đã chiếm diện tích và phá hoại các
điều kiên tự nhiên (thực vật, động vật, thổ nhưỡng, nguồn nứơc) trên hàng
ngàn hecta. Ngoài ra, dưói tác động của mưa lũ cuốn trôi đất đá, bào xói làm
bồi lấp đất canh tác, làng xóm, đường giao thông…
Huỷ hoại môi trường không thương tiếc phải kể đến công ty cổ phần đầu
tư TM và DV, đơn vị này ồ ạt đưa phwong tiện đến khai thác than, vận
chuyển đất đá. Một trong những địa phưong chịu hậu quả nặng nề nhất đó là
huyện Đông Triều, vùng trọng điểm lúa của tỉnh. Những hậu quả để lại là làm
suy thoái nhanh tài nguyên rừng, tài nguyên nước, gây cạn kiệt dòng thuỷ
sinh, gây ngập úng và hạn hán cục bộ, làm bồi lắng lòng hồ, gây ảnh hưỏng
không nhỏ tới đời sống dân sinh các khu vực lân cận.
VD: Trong 25 hồ chứa nước ở huyện Đông Triều đã có gần
một nửa bị bồi lấp, nguồn nước bị chua hoá từ quá trình sản xuất than gây ra,
trong nhiều hồ bị chua hoá nặng như Cầu Cuống, Nội Hoàng, Khe ươn1, Khe
Ươn 2… độ PH < 3.5 ( PH tiêu chuẩn từ 5 - 5.5).
Qua báo cáo của cơ quan chức năng khi tiến hành kiểm tra tại 68
khu vực mỏ đang hoạt động thì có 38 khu vực chưa co ĐTM. Hoạt động khai
thác than và đổ thải tạo nên các bãi thải lớn như: Đèo Nai - cao 200m; Đông
Bắc Bàng Nâu- cao 150m với độ dốc lớn nên đã xảy ra tình trạng đất đá trôi
xuống vùi lấp những khai trường phía dưới và tràn vào các khu dân cư ở khu
vực Mông Dưong; Hà Trung; Hồng Hà(Hạ Long); Vàng Danh,Khe Ngát
(Uông Bí) đều vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Nứơc thải mỏ của công ty
8
than Hà Lầm có hàm lượng BOD ( nhu cầu oxi sinh hoá), COD( nhu cầu oxi
hoá học), TSS(hàm lượng căn lơ lửng) vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3.9 đến
5.7 lần, hàm lượng Sunfat, TSS của công ty than Mông Dương cao gấp đôi
mức cho phép. Hoạt động khai thác than tại khu vực Đông Triều đã làm ô
nhiễm và suy thoái nghiêm trọng dung tích chứa và chât lượng nước đang âm
thầm huỷ hoại năng suất cây trồng vật nuôi và nguy cơ bị cắt đứt toàn bộ
nguồn thuỷ sinh trong tương lai gần.
VD: Những con cá vớt lên sau một thời gian nuôi thả chỉ
còn da bọc xương, nhiều con mắt nồi ra và chết nổi trên mặt
nước, không sử dụng được. Hàng chục con bò nuôi lớn rồi tự nhiên
đồng loạt bị xuất huyêt chết không rõ lý do. Năng suất luá trước kia đạt 45
tạ/ha còn vừa qua giảm chỉ còn khoảng 30 tạ/ha, thậm chí có gia đình mất
trắng.
2.2 Tiếp cận phương pháp đánh giá thiệt hại môi trường do
khai thác than Quảng Ninh gây ra.
Giả sử chúng ta cùng nhau đặt ra một câu hỏi: "Tại sao chúng
ta phải đánh giá giá trị môi trường?"
Trước tiên để trả lời cho câu hỏi này chúng ta hãy nhìn vào mô hình sau:
9
Người sản xuất
Người tiêu thụ
Tái chế (R
p
r
)
Nguyên liệu
thô
Thải bỏ
(R
d
p
)
Chất thải
(R
c
)
Thải bỏ
(R
d
c
)
Tái chế (R
c
r
)
(M)
Chất thải (R
p
)
Hàng
hoá
MT tự nhiên
MT tự nhiên
Hình 2.2a: Vòng tuần hoàn liên hệ giữa môi trường và kinh tế
Chú thích: Môi trường tự nhiên cung cấp nguyên liệu thô cho hệ thống
kinh tế. Sản xuất và tiêu dùng tạo ra các chất thải, các chất này có thể được tái
chế, nhưng cuối cùng vẫn quay trở lại môi trường tự nhiên.
Sản xuất và tiêu dùng tạo ra các dạng chất thải, có thể được xả vào
không khí, nước hoặc có thể vứt ngay trên mặt đất. Danh sách những chất thải
này dài đến khó tin như: Sunfua dioxit, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, các
dạng dung môi độc, chất thải động vật, thuốc bảo vệ thực vật, bụi đủ loại, kim
loại nặng…Người tieu dùng cũng có phầnlớn trách nhiệm đối với phần lớn
lượng chất thải từ phương tiện giao thông…Đây chính là nguồn của phần lớn
chất thải rắn cũng như các chất thải nguy hại có tác động tiêu cực tới môi
trường. Chính vì thế việc đánh giá giá trị môi trường dựa trên giá thị trường là
một cách khác với cách đo đạc các mẫu trực tiếp để xem xét mức ô nhiễm đang
ở mức độ nào thôn qua giá hàng hoá thị trường. Các nhà kinh tế đã xác định giá
trị môi trường thông qua 3 loại giá trị sau:
Giá trị sử dụng: Đề cập đến sự hữu dụng hay lợi ích nhận được từ
việc sử dụng hoặc tiếp cận một hàng hoá môi trường.
Giá trị lựa chon: Là giá trị môi trường như là lợi ích tiềm tàng trong
tương lai khi nó trở thành giá trị thực sự sử dụng trong hiện tại. Mỗi
cá nhân có thể thể hiện sự sẵn lòng chi trả cho việc bảo vệ môi
trường để chống lạ những khả năng sử dụng của một người nào đó
trong tương lai.
Giá trị lựa chọn = GTSD
cá nhân
+ GTSD
người khác
+GTSD
các thế hệ tương lai
ΣGTSD thu được =GT thực sử dụng +GT lựa chọn
10
Giá trị tồn tại : là sự thoả dụng hay lợi ích nhận được từ một
hàng hoá môi trường đơn giản qua sự tồn tại của nó như một
hàng hoá hay dịch vụ.
Tổng giá trị của các TNMT = GTSD +GT lựa chọn + GT tồn tại
Suy thoái môi trường gây ra thiệt hại. Do đó, ta có thể thấy một cách trực
tiếp là dể đánh giá được chính xác " những thiệt hại" hay " những lợi ích" chúng
ta phải tính được những giá trị thị trường khó hơn là đánh giá những lợi ích phi
thị trường. Để đo lường mọt hàm số thiệt hại, chúng ta thực hiện các bước sau:
1. Đo lượng phát thải
2. Xác định chất lượng môi trường xun quanh lượng phát thải đó.
3.Ước lượng ảnh hưởng đến con người
4.Đo lường ảnh hưởng( sức khoẻ, mỹ quan, giải trí…)
5.Ước lượng giá trị của các ảnh hưởng.
Những phương pháp xác định giá trị tiền tệ của môi trường: Xem phụ lục phần
2.2 b .
Với việc đánh giá thiệt hại môi trường do quá trình khai thác than ở Quảng
Ninh gây ra em xin được trình bày phương pháp đanh giá là : “Phương pháp
hành vi xoa dịu”.
Phương pháp hành vi xoa dịu là chi phí cho bất cứ một dự án nào được
phác thảo để phục hồi môi trường sẽ là tối thiểu thiệt hại do môi trường gây ra.
Theo dòng nhận định đó chúng ta có thể hạch toán chi phí phòng chống các hậu
quả môi trường theo 2 nhóm vấn đề sau:
• Chi phí nhằm ngăn ngừa hoặc trung hoà sự suy giảm chất lượng môi
trường.
• Chi phí bồi thường và sửa chữa các sự cố môi trừơng.
2.2.1 Chi phí ngăn ngừa, phục hồi, khắc phục các sự cố môi trường
Quá trình khai thác than đã phá huỷ 750 hecta rừng, làm suy giảm quần thể
các hệ động vật, thực vật tới mức suy kiệt đồng thời làm biến đổi các hệ thống
thuỷ văn và ngư nghiệp. Các kết quả tnhs toán cho thấy hàng năm ngành Than
11
phải chi khoảng 1.7% doanh thu cho các biẹn pháp BVMT và kiểm soát ô
nhiễm.
Đầu tháng 8-2006, tỉnh Quảng Ninh đã làm việc với tập đoàn Than
khoáng sản Việt Nam để tìm các giải pháp cơ bản lâu dài phấn đấu cho môi
trường sống ở vùng than trong sạch, an toàn.Ngành Tha đã đưa ra 21 công
trình BVMT với số tiền đầu tư là 50 tỉ đồng
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề môi trường UBND tỉnh đã đề
xuất và được Chính phủ phê duyệt cho phép đưa 1% chi phí giá thành sản
xuất than để góp phần thực hiện nhiệm vụ khắc phục BVMT. Hàng năm đầu
tư 20 - 25 tỉ đồng làm đường, cải tạo tu bổ, nâng cấp, nạo vết các tuyến
mương, xây dựng hệ thống tường kè. Bên cạnh đó, tỉnh cũng lập nên những
đoàn kiểm tra, ví dụ như đoàn kiểm tra của UBND thị trấn Mạo Khê đã chi
24 triệu đồng để tiến hành tổ chức kiểm tra các mỏ than trên địa bàn nhằm
lập lại ổn định và phát hiện những sai phạm về BVMT cũng như sức khoẻ
cộng đồng.
VD: Theo tính toán của các nhà khoa học thực hiện dự án nghiên
cứu ô nhiễm môi trường vịnh Hạ Long thì mỗi hecta rừng ngập mặn qua so
sánh chi phí cho một trạm xử lý nước thải có giá trị lợi ích tương đương 5820
USD.
2.2.2 Chi phí cho chăm sóc sức khoẻ.
Người ta dùng một phương páp tính được giá trị thiệt hại sức khoẻ là
tính chi phí y tế. Vì ô nhiễm tăng gây thiệt hại sức khoẻ chúng ta có thể ước
lượng chi phí y tế tăng cho bệnh viện, bác sĩ, và quá trình hồi phục. Giảm ô
nhiễm do đó là giảm chi phí y tế, nghĩa là lợi ích thay đổi chất lượng môi
trường.
Trong những năm, thủ tục chuẩn để đánh giá thiệt hại sức khoé như sau:
Xem xét năng suất lao động của công nhân giảm cùng với sức khoẻ giảm
và cuộc sống bị rút ngắn làm giảm vốn nhân lực
Chi tiêu chăm sóc sức khoẻ tăng
12
Về tình hình sức khoẻ cộng đồng, theo kết quả nghiên cứu diễn biến sức
khoẻ công nhân ngành Than trong những năm gần đây tạ một số bệnh viện
ta có bảng sau:
Loại bệnh Kết quả nghiên cứu
Loại A Giảm từ 41% xuống 28%
Loại B Tăng từ 17.8% đến 53.5%
Loại C Tăng từ 10.7% đến 16.9%
Chi phí y tế có thể được tính như sau:
Công thức tính:
CnC
i
tb
i
i
.
10
0
11
∑
=
=
Trong đ ó :
n
i
: số ca bệnh loại i
C
i
tb
: là chi phí trung bình cho một ca bệnh loại i
C
11
: là chi phí khám chữa bệnh.
Theo thống kê của sở y tế tỉnh Quảng Ninh thì mỗi người dân phải chi
295.000 đồng để khám chữa bệnh có nguyên nhân trực tiếp từ ô nhiễm không
khí. Giả sử nếu dân số của các huyện như Đông Triều, Cẩm Phả, Uông Bí, Vân
Đồn bị ảnh hưỏng trực tiếp và gián tiếp từ ô nhiễm bụi than thì ta có bảng tổng
chi phí y tế như sau:
Tên huyện Dân số Tổng chi phí
Đông Triều 148.956 43942020000
Cẩm Phả 153.955 45416725000
Uông Bí 93.302 27524090000
Vân Đồn 4000 1180000000
3. K t lu n ế ậ
3.1 Kết luận chung
Nhìn chung do nhu cầu than tăng nhanh trong th ời gian qua t ạo n ên
một động lực khai thác mạnh mẽ trong ngành Than.
Điều đó đồng nghĩa với việc làm tăng nguồn thu đáng kể đóng góp vào
GDP của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung. Nhưng đằng sau
đó không ai có thể ngờ tới những nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm môi trường
đang từng ngày đe doạ đến đời sống của người dân cũng như hệ sinh thái.
13
Việc sử dụng phương pháp xoa dịu đã cho ta biết đôi điều về mức độ thiệt
hại môi trường thông qua các khoản chi phí thực tế nhằm phục hồi, ngăn chặn
các sự cố môi trường .
• Ưu đi ểm: Về mặt nhận thức nó dễ được chấp nhận bởi vì
nững chi phí để khắc phục MT hay bảo vệ trước sự ô
nhiễm của MT người ta có thể nhận thức được rõ ràng
không kể có chuyên môn hay không.
Khi đã xác lập được chi phí thì hoàn toàn dùng giá thị trường
để đánh giá: giá nguyên vật li ệu, giá nhân công…
• Nhược điểm: nếu không hiểu về mặt bản chất về việc bóc
tách đâu là chi phí môi trường, đâu không phải là chi phí
môi trường không phải là điều dễ dàng.
3.2. Ý kiến cá nhân
Ngành Than nên cần có những nghiên cứu thiết lập căn cứ để phân định
hoạt động bảo vệ môi trường cũng như quy chế quản lý và hạch toán các
chi phí này.
Cần có một cách quản lý nguồn than tốt hơn hiện tại như: đặt các mức phí
cao đối với những hành động khai thác vận chuyển than trái phép, tăng
cường điều tra giám sát các mỏ, mua than với giá cao để tránh tình trạng
buôn bán than lậu, than nổi trong dân.
Tại các trung tâm chi phí, cần nghiên cức thiết lập bổ xungkhoản mục chi
tiết chi cho môi trường nhằm tạo cơ sở cho việc lập kế hoạch, tổng hợp,
báo cáo và phân tích hiệu quả của việc sử dụng các khoản chi cho môi
trường, đồng thời làm căn cứ tổng hợp thông tin về chi phí bảo vệ môi
trường cho toàn ngành, toàn quốc.
VD: Bảng phụ lục 3.2 – trang16
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét