Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Đường lối cách mạng của đảng công sản việt nam


Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 9 10 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



nhân dân; 2- xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho
nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế
quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
b) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra
mạnh mẽ và mang một số đặc điểm như sau: Các phong trào đấu
tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi, và đạt được kết quả ở những mức
độ khác nhau; Mục tiêu của các cuộc đấu tranh ở thời kỳ này đều
hướng tới giành độc lập cho dân tộc, nhưng trên các lập trường giai
cấp khác nhau; Phương thức và biện pháp tiến hành khác nhau
nhưng cuối cùng các cuộc đấu tranh đều thất bại; Một số tổ chức
theo lập trường quốc gia tư sản ra đời đã thể hiện vai trò của mình
trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Sự thất bại
của các phong trào yêu nước theo lập trường quốc gia tư sản ở Việt
Nam đầu thế kỷ XX đã phản ánh địa vị kinh tế và chính trị yếu kém
của giai cấp này trong tiến trình cách mạng dân tộc, phản ánh sự bất
lực của họ trước những nhiệm vụ do lịch sử dân tộc Việt Nam đặt
ra.
- Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã khiến cách mạng Việt Nam lâm
vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh
đạo. Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đường cách mạng
mới, một giai cấp đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc,
của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng
dân tộc, dân chủ đi đến thành công.
- Sự phát triển của phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX là cơ sở xã hội thuận lợi cho sự tiếp biến con đường cách
mạng vô sản ở Việt Nam và là một trong những nhân tố đưa tới sự
ra đời của Đảng Cộng sản.
c) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
- Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và
tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam bằng nhiều
biện pháp, con đường. Những quan điểm cách mạng này đã tác
động thức tỉnh và giác ngộ quần chúng, thúc đẩy phong trào đấu
tranh yêu nước của nhân dân phát triển theo con đường cách mạng
vô sản.
- Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản:
phong trào công nhân có sức lôi cuốn phong trào dân tộc theo con
đường cách mạng vô sản; phong trào yêu nước của nông dân phát
triển mạnh mẽ, diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước. Điều đặc biệt
trong phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự đấu tranh của
quần chúng công nhân, nông dân có tính chất độc lập rõ rệt chứ
không phải chịu ảnh hưởng quốc gia chủ nghĩa như lúc trước nữa.
- Trong năm 1929, Việt Nam xuất hiện ba tổ chức cộng sản: Đông
Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương
Cộng sản liên đoàn. Ba tổ chức cộng sản đều giương cao ngọn cờ
chống đế quốc, phong kiến, xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt
Nam, nhưng lại hoạt động phân tán, chia rẽ đã ảnh hướng xấu đến
phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc này. Vì vậy, việc khắc phục
sự chia rẽ, phân tán giữa các tổ chức cộng sản là yêu cầu khẩn khiết
của cách mạng nước ta, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tất cả
những người cộng sản Việt Nam.
II. Hội nghị thành lập Đảng và Cƣơng lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng
1. Hội nghị thành lập Đảng

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 11 12 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



- Hội nghị họp từ ngày 6-1-1930 và các đại biểu trở về An Nam
ngày 8-2-1930. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
của Đảng Lao động Việt Nam (10-9-1960) đã quyết nghị lấy ngày
3-2 dương lịch hàng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
- Thành phần hội nghị gồm 7 đại biểu. Hội nghị tập trung vào
những nội dung sau: Hội nghị thảo luận và nhất trí với 5 điểm lớn
trong đề nghị của Nguyễn Ái Quốc; Hội nghị thảo luận và thông
qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương
trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam; Hội
nghị quyết định phương châm, kế hoạch thống nhất các tổ chức
cộng sản trong nước, quyết định ra báo, tạp chí của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
- Ngày 24-2-1930, theo đề nghị của Đông Dương Cộng sản Liên
đoàn, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời họp và ra Nghị quyết
chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng
sản Việt Nam. Việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản đã được hoàn tất.
- Hội nghị hợp nhất thành công và sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam thể hiện bước phát triển biện chứng quá trình vận động
của cách mạng Việt Nam – sự phát triển về chất từ Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên đến ba tổ chức cộng sản, đến Đảng Cộng sản
Việt Nam trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và quan điểm cách
mạng Nguyễn Ái Quốc.
2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
- Các văn kiện được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt
của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng hợp thành Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xác
định các vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam:
+ Phương hướng chiến lược của Cách mạng Việt Nam là: cách
mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội
cộng sản.
+ Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng
đất:
> Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và phong kiến, làm
cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông
binh, tổ chức quân đội công nông.
> Về kinh tế: thủ tiêu các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp
lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng v.v.) của tư bản đế quốc
chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý; tịch
thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia
cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công
nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ.
> Về văn hóa – xã hội: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình
quyền v.v.; phổ thông giáo dục theo hướng công nông hóa.

+ Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục được đại bộ phận
dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách
mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến, phải làm cho các
đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới
quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; phải hết sức liên
lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, .v.v
để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Đối với phú nông, trung, tiểu

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 13 14 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



địa chủ và tư bản An Nam mà chưa lộ rõ mặt phản cách mạng thì
phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã
ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ.
+ Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo
cách mạng Việt Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản,
phải thu phục được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai
cấp mình lãnh đạo dân chúng; trong khi liên minh với các giai cấp,
phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của
công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp.
+ Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng
thế giới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế
giới, phải thực hành liên minh với các dân tộc bị áp bức và giai cấp
vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Thực tiễn quá trình vận động của cách mạng Việt Nam trong gần
80 năm qua đã chứng minh rõ tính khoa học và tính cách mạng,
tính đúng đắn và tiến bộ của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Cộng sản Việt Nam.


3.Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu
tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh
đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin
đối với cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là sản
phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam.
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã tạo nên sự thống nhất về tư
tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước,
hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một bước ngoặt vô
cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chứng tỏ giai
cấp vô sản đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.
- Cương lĩnh chính trị đúng đắn là cơ sở để Đảng lãnh đạo phong
trào cách mạng Việt Nam, giải quyết được tình trạng khủng hoảng
về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX,
tập hợp được sức mạnh toàn dân tộc, kết hợp được sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, mở ra con đường và phương hướng phát
triển mới phù hợp với đất nước Việt Nam, phù hợp với sự nghiệp
đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội.





Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 15 16 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



Chƣơng II
Đƣờng lối đấu tranh giành chính quyền (1930-1945)
Thời kỳ 1930-1945, Đảng vận động, giáo dục, tổ chức quần chúng,
chuẩn bị lực lượng, nắm bắt thời cơ, phát động toàn dân tổng khởi
nghĩa, giành lại độc lập, tự do sau hơn 80 năm mất nước.
I. Chủ trƣơng đấu tranh từ năm 1930 đến năm 1939
1. Trong những năm 1930-1935
a) Luận cương chính trị tháng 10-1930
- Từ ngày 14 đến ngày 30-10-1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương họp lần thứ nhất tại Hương cảng (Trung Quốc) do Trần Phú
chủ trì. Hội nghị đã thông qua nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ
cần kíp của Đảng; thảo luận Luận cương chính trị của Đảng, Điều
lệ Đảng và điều lệ các tổ chức quần chúng. Thực hiện chỉ thị của
Quốc tế Cộng sản, Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt
Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị cử ra Ban Chấp
hành Trung ương chính thức và cử Trần Phú làm Tổng Bí thư.
- Nội dung Luận cương chính trị 10-1930:
+ Luận cương chính trị đã phân tích đặc điểm, tình hình xã hội
thuộc địa nửa phong kiến và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách
mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh
đạo.
> Mâu thuẫn giai cấp đang diễn ra gay gắt ở Đông Dương giữa một
bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là
địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.
> Phương hướng chiến lược của cách mạng là làm cách mạng tư
sản dân quyền trong giai đoạn đầu có tính chất thổ địa và phản đế,
lấy đây làm thời kỳ dự bị để làm cách mạng xã hội, sau khi cách
mạng tư sản dần quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển bỏ qua thời
kỳ tư bản mà đấu tranh thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.
> Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ phong
kiến, tiến hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc
chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai
nhiệm vụ chiến lược ấy có mỗi quan hệ khăng khít với nhau. Vấn
đề ruộng đất là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày và
cũng là cốt lõi của cách mạng tư sản dân quyền.
> Về lực lượng cách mạng: giai cấp vô sản vừa là động lực chính
của cách mạng tư sản dân quyền vừa là giai cấp lãnh đạo cách
mạng. Dân cày là lực lượng đông đảo nhất và là động lực mạnh của
cách mạng. Tư sản thương nghiệp đứng về phe đế quốc và địa chủ
chống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc
gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế
quốc. Trong giai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp có thái
độ do dự; tiểu tư sản thương gia thì không tán thành cách mạng,
tiểu tư sản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thể
hăng hái tham gia chống đế quốc trong thời kỳ đầu. Chỉ có các
phần tử lao khổ ở đô thị như những người bán hàng rong, thợ thủ
công nhỏ và tri thức thất nghiệp mới đi theo cách mạng mà thôi.

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 17 18 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



> Về phương pháp cách mạng: ra sức chuẩn bị cho quần chúng về
con đường vũ trang bạo động theo nghệ thuật quân sự.
> Về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới:
cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế
giới, vì thế giai cấp vô sản ở Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với
giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp và phải
mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và
nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu
tranh cách mạng ở Đông Dương.
> Về vai trò lãnh đạo của Đảng: sự lãnh đạo của đảng cộng sản là
điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng. Đảng phải có đường
lối chính trị đúng đắn, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với
quần chúng. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản lấy chủ
nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, đại biểu chung cho quyền
lợi của giai cấp vô sản Đông Dương, đấu tranh để đạt mục đích
cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
- Một vài nhận xét:
+ Luận cương 10-1930 đã đưa ra cách giải quyết nhiều vấn đề căn
bản thuộc về chiến lược cách mạng, có một số điểm khác với
Cương lĩnh chính trị đầu tiên 2-1930.
> Luận cương chính trị không nếu được mâu thuẫn chủ yếu là mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp, từ đó không đặt
nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu.
> Luận cương đánh giá không chính xác vai trò cách mạng của tầng
lớp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của tư sản dân tộc và chưa
thấy được khả năng phân hóa, lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và
nhỏ trong cách mạng giải phóng dân tộc, từ đó Luận cương không
đề ra được chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong
cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai.
+ Sở dĩ có những điểm khác nhau nói trên là do Hội nghị 10-1930
chưa nhận thức đúng đặc điểm của xã hội thuộc địa, nửa phong
kiến Việt Nam, đồng thời, do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn
đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng ở thuộc địa và lại chịu ảnh
hưởng khuynh hướng “tả” của Quốc tế Cộng sản và một số đảng
cộng sản trong thời gian đó. Do vậy, Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương tháng 10-1930 đã không chấp nhận những quan điểm
mới, sáng tạo, độc lập tự chủ của Hội nghị hợp nhất các tổ chức
cộng sản thể hiện trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên.
b) Chủ trương khôi phục tổ chức đảng và phong trào cách mạng
- Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động một
phong trào đấu tranh cách mạng rộng lớn với đỉnh cao là Xô viết
Nghệ Tĩnh. Phong trào đã đem lại cho quần chúng lòng tự tin vào
sức mạnh cách mạng của bản thân mình.
- Hòng dập tắt phong trào và tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương,
thực dân Pháp và tay sai đã thẳng tay đàn áp, khủng bố. Các cơ
quan lãnh đạo của Đảng ở trung ương và địa phương lần lượt bị phá
vỡ, quần chúng yêu nước bị giết hại, tù đầy. Đầu năm 1932, các ủy

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 19 20 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và hầu hết Ủy viên xứ ủy ở
ba kỳ đều bị địch bắt và nhiều người đã hy sinh.
- Sự khủng bố của kẻ thù không làm những chiến sĩ cách mạng và
quần chúng yêu nước từ bỏ con đường cách mạng.
+ Đầu năm 1932, trước chuyển biến của tình hình trong nước, theo
chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong cùng một số đồng
chí chủ chốt ở trong và ngoài nước đã tổ chức ra Ban lãnh đạo
Trung ương Đảng và đến tháng 6-1932 công bố Chương trình hành
động của Đảng cộng sản Đông Dương. Những yêu cầu chính trị
trước mắt cùng với những biện pháp tổ chức và đấu tranh do Đảng
vạch ra trong Chương trình hành động năm 1932 phù hợp với điều
kiện lịch sử lúc bấy giờ. Nhờ vậy, phong trào cách mạng của quần
chúng và hệ thống tổ chức Đảng đã nhanh chóng được khôi phục.
+ Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản
Đông Dương đã được tổ chức tại Ma Cao – Trung Quốc. Đại hội
khẳng định thắng lợi cuộc đấu tranh khôi phục phong trào cách
mạng và hệ thống tổ chức Đảng. Đại hội đề ra ba nhiệm vụ trước
mắt là: củng cố và phát triển Đảng; đẩy mạnh công cuộc vận động
và thu phục quần chúng; mở rộng tuyên truyền chống đế quốc,
chống chiến tranh, ủng hộ Liên Xô, ủng hộ cách mạng Trung
Quốc…
2. Trong những năm 1936-1939
a) Hoàn cảnh lịch sử
- Tình hình thế giới: Cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm
1929-1933 đã làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản ngày
càng gay gắt và phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao;
Chủ nghĩa phát xít đã xuất hiện và thắng thế ở một số nơi. Nguy cơ
của chủ nghĩa Phát xít và chiến tranh thế giới đe dọa nghiêm trọng
nền hòa bình và an ninh quốc tế; Đại hội lần thứ VII của Quốc tế
Cộng sản họp tại Mát-cơ-va tháng 7-1935.
- Tình hình trong: các tầng lớp tuy có quyền lợi khác nhau nhưng
đều căm thù thực dân, tư bản độc quyền Pháp và đều có nguyện
vọng chung là đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do, dân chủ, cơm
áo và hòa bình; Hệ thống đảng và các cơ sở cách mạng của quần
chúng đã được khôi phục. Đây là yếu tố quyết định bước phát triển
mới của phong trào cách mạng nước ta.
b) Chủ trương và nhận thức mới của Đảng
- Trước những chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế,
đặc biệt là chủ trương của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản,
trong những năm 1936-1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Đông Dương đã Họp hội nghị lần thứ hai (tháng 7-1936),
lần thứ ba (tháng 3-1937), lần thứ tư (tháng 9-1937) và lần thứ năm
(tháng 3-1938)… để đề ra những chủ trương mới về chính trị, tổ
chức và hình thức đấu tranh mới phù hợp với tình hình cách mạng
nước ta.
- Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh
- Nhận thức mới của Đảng về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân
tộc và dân chủ. Cùng với đề ra chủ trương mới để lãnh đạo nhân

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 21 22 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



dân ta đấu tranh nhằm thực hiện các quyền dân chủ, dân sinh, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng đã đặt vấn đề nhận thức lại mối quan
hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, phản đế và điền địa trong
cách mạng Đông Dương. Nhận thức mới của Ban Chấp hành Trung
ương phù hợp với tinh thần trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng và bước đầu khắc phục những hạn chế của Luận cương chính
trị tháng 10-1930.
- Tháng 3-1939, ra Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương
đối với thời cuộc. Tháng 7-1939, Đảng Cộng sản Đông Dương xuất
bản cuốn Tự chỉ trích của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ.
* Tóm lại, trong những năm 1936-1939, chủ trương mới của Đảng
đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và
mục tiêu cụ thể trước mắt của cách mạng, mối quan hệ giữa liên
minh công – nông và mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, giữa vấn
đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa phong trào cách mạng ở Đông
Dương với phong trào cách mạng Pháp và trên thế giới; đề ra được
các hình thức tổ chức và đấu tranh linh hoạt, thích hợp nhằm hướng
dẫn quần chúng đấu tranh giành quyền lợi hàng ngày, chuẩn bị cho
những cuộc đấu tranh cao hơn vì độc lập và tự do.
- Các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương trong thời kỳ này
đánh dấu bước trưởng thành của Đảng về chính trị và tư tưởng, thể
hiện bản lĩnh và tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng, mở ra
một phong trào đấu tranh sôi động trong cả nước: phong trào dân
chủ dân sinh 1936-1939.
II. Chủ trƣơng đấu tranh từ năm 1939 đến năm 1945
1. Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ dạo chiến lược của
Đảng
a) Tình hình thế giới và trong nước
- Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực
tiếp đến Đông Dương
- Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất tàn bạo. Chúng
phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách
mạng của nhân dân, tập trung lực lượng tiêu diệt Đảng Cộng sản
Đông Dương.
- Lợi dụng Pháp đầu hàng Đức, ngày 22-9-1940 phát xít Nhật tấn
công Lạng Sơn rồi đổ bộ vào Hải Phòng. Ngày 23-9-1940, Pháp ký
hiệp định đầu hàng Nhật. Nhật tiếp tục sử dụng bộ máy của Pháp ở
Đông Dương. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp
– Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
b) Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp hội nghị lần thứ sáu (11-
1939), lần thứ bẩy (11-1940), lần thứ tám (5-1941) quyết định
chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng. Sau Hội nghị lần thứ
tám Ban Chấp hành Trung ương (5-1941), Nguyễn Ái Quốc gửi thư
kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp-
Nhật, nhấn mạnh: “Trong lúc này, quyền lợi dân tộc giải phóng cao
hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và
Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”.

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 23 24 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



- Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược có những nội dung chính
sau: Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; Thành lập Việt
Nam Độc lập đồng minh (còn gọi là Việt Minh); Xác định xúc tiến
chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và
nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại; Xác định phương châm và
hình thái khởi nghĩa ở nước ta; Chú trọng công tác xây dựng Đảng
nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời
chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ cho cách mạng và đẩy mạnh
công tác vận động quần chúng.
- Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhận thức
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên cao hơn hết thảy, tập hợp rộng rãi
mọi người Việt Nam yêu nước trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng
lực lượng chính trị của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, xây
dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, nâng cao hơn
nữa năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng là tinh thần chung của
quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược.
c) Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
- Quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được hoàn chỉnh góp
phần giải quyết mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam là độc
lập dân tộc, đưa đến những chủ trương, sự chỉ đạo đúng đắn để thực
hiện mục tiêu đó.
- Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược giúp cho nhân dân ta có
đường hướng đúng để tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh
Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân.
- Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng giúp công tác
chuẩn bị giành độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi ở khắp các địa
phương trong cả nước, cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách
mạng của quần chúng vùng lên đấu tranh giành chính quyền.
+ Lực lượng cách mạng đã tích cực xây dựng các tổ chức cứu quốc
của quần chúng, đẩy nhanh việc phát triển lực lượng chính trị và
phong trào đấu tranh của quần chúng. Lực lượng chính trị của quần
chúng ngày càng đông đảo và được rèn luyện trong đấu tranh chống
Pháp-Nhật do Việt Minh phát động.
- Đảng đã chỉ đạo việc vũ trang cho quần chúng cách mạng, từng
bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm cơ sở đưa tới sự ra
đời của Việt Nam Giải phóng quân sau này.
- Đảng Cộng sản Đông Dương cũng chỉ đạo việc lập các chiến khu
và căn cứ địa cách mạng, tiêu biểu là căn cứ Bắc Sơn – Vũ Nhai và
căn cứ Cao Bằng.
2. Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
a) Phát động Cao trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi
nghĩa từng phần
* Phát động Cao trào kháng Nhật, cứu nước: Đêm 9-3-1945, Nhật
đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương. Quân Pháp đã đầu hàng
quân Nhật. Ban Thường vụ Trung ương Đảng lập tức họp hội nghị
mở rộng ở làng Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh) và ngày 12-3-
1945, ra bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của
chúng ta”.

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 25 26 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



* Đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận:
- Từ tháng 3-1945, cao trào kháng Nhật cứu nước đã diễn ra rất sôi
nổi, mạnh mẽ và phong phú về nội dung và hình thức.
+ Phong trào đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra
trong nhiều nơi ở vùng thượng du và trung du Bắc Kỳ.
+ Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự
cách mạng Bắc Kỳ tại Hiệp Hòa – Bắc Giang ngày 15-4-1945 đã
nhận định tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các
nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này.
+ Trong tháng 5 và tháng 6, các cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp
diễn ra và nhiều chiến khu được thành lập ở cả ba miền. Ở khu giải
phóng và một số địa phương, chính quyền nhân dân đã hình thành,
tôn tại song song với chính quyền tay sai của phát xít Nhật.
+ Ngày 4-5-1946, Khu giải phóng được chính thức thành lập gồm
các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạn Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên,
Hà Giang và một số vùng lân cận thuộc tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ,
Yên Bái, Vĩnh Yên.
+ Cùng khoảng thời gian này, nạn đói diễn ra nghiêm trọng ở các
tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ do Nhật, Pháp đã vơ vét hàng triệu
tấn lúa gạo của nhân dân. Hơn hai triệu đồng bào ta chết đói.
+ Xuất phát từ lợi ích sống còn trước mắt của quần chúng, Đảng
Cộng sản Đông Dương đưa ra khẩu hiệu đấu tranh “Phá kho thóc,
giải quyết nạn đói”. Chủ trương đó đã đáp ứng đúng nguyện vọng
cấp bách của nhân dân ta, vì vậy trong một thời gian ngắn, Đảng
Cộng sản Đông Dương đã động viên được hàng triệu quần chúng
tiến lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người.
b) Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa
- Ngày 2-5-1945, Hồng quân Liên Xô chiếm Béc-lin. Ngày 9-5-
1945, phát xít Đức đầu hàng không điều kiện. Ở châu Á, phát xít
Nhật đang đi đến chỗ thất bại hoàn toàn.
- Trước diễn biến mau lẹ của tình hình, Hội nghị toàn quốc do
Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập đã họp tại Tân Trào – Tuyên
Quang từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945.
- Đêm ngày 13-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh Tổng
khởi nghĩa.
- Ngày 16-8-1945, cũng tại Tân Trào, Đại hội Quốc dân họp. Sau
Đại hội Quốc dân Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới
đồng bào và chiến sỹ cả nước. Người nhấn mạnh thời điểm quyết
định cho vận mệnh dân tộc đã đến và kêu gọi dân tộc Việt Nam tự
đứng dậy giải phóng cho dân tộc Việt Nam.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, hơn 20 triệu
nhân dân ta đã nhất tề vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ
trong vòng 15 ngày (từ 14 đến 28 tháng 8 năm 1945) cuộc khởi
nghĩa đã thành công trên cả nước, chính quyền về tay nhân dân.
- Ngày 2-9-2945, tại cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Ba Đình –
Hà Nội, đại diện Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh
trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào
và với toàn thể thế giới: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 27 28 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam



độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
c) Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và kinh nghiệm lịch sử
của Cách mạng tháng Tám 1945
* Kết quả và ý nghĩa:
- Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã đập tan xiềng xích nô lệ
của thực dân Pháp trong gần 1 thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ
mấy nghìn năm và ách thống trị của phát xít Nhật, lập nên nước
Việt Nam Dân củ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên
ở Đông Nam Á. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành
người dân của nước tự do, độc lập, làm chủ vận mệnh của mình.
- Thắng lợi cách mạng tháng Tám đánh đấu bước phát triển nhảy
vọt của lịch sử dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc ta bước vào một kỷ
nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
- Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Đảng và nhân dân ta đã
góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, cung cấp thêm nhiều kinh nghiệm quý báu cho phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc và giành quyền dân chủ.
- Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân các
nước thuộc địa và nửa thuộc địa đấu tranh chống chủ nghĩa đế
quốc, thực dân giành độc lập tự do.
* Nguyên nhân thắng lợi:
- Cách mạng tháng Tám nổ ra trong bối cảnh quốc tế rất thuận lợi
và là kết quả tổng hợp của 15 năm đấu tranh gian khổ của toàn dân
ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Cách mạng tháng Tám thành công là do Đảng ta đã chuẩn bị được
lực lượng vĩ đại của toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh,
dựa trên cơ sở liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Đảng Cộng sản Đông Dương đã tổ chức và lãnh đạo cuộc Cách
mạng tháng Tám 1945. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố chủ yếu,
quyết định thắng lợi của cách mạng tháng Tám.
* Kinh nghiệm lịch sử:
- Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm
vụ chống đế quốc và chống phong kiến.
- Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công – nông.
- Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù.
- Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách
mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ
máy nhà nước của nhân dân.
- Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ.
- Xây dựng một Đảng Mác-Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa
giành chính quyền.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét