mới. Chẳng hạn, khi các công ty ra đời thì đồng thời cũng xuất hiện các khả năng
phát sinh tranh chấp giữa các công ty với thành viên, giữa các thành viên với nhau
trong quá trình thành lập, hoạt động và giải thể; cùng với quá trình cổ phần hoá, sự
xuất hiện của thị trờng tài chính mà đặc trng nhất là thị trờng chứng khoán dẫn đến
các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu. Tơng tự nh vậy, chỉ
trong điều kiện có cạnh tranh thì những loại tranh chấp kinh tế về quảng cáo, phá
sản mới chính thức đợc đề cập đến. Tranh chấp kinh tế là điều khó tránh khỏi.
Thực tiễn những năm đầu của việc chuyển đổi nền kinh tế ở nớc ta cho thấy, số lợng
tranh chấp gia tăng và ngày càng phức tạp hơn các tranh chấp kinh tế trong thời kỳ
quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Khi có các tranh chấp kinh tế
xảy ra thì điều đó có nghĩa là lợi ích kinh tế của một bên nào đó bị vi phạm. Sự mâu
thuẫn về lợi ích này sẽ ảnh hởng ít nhiều về tiến trình sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp. Do vậy, khi các tranh chấp kinh tế đợc giải quyết nhanh chóng thì
không những quyền, lợi ích các bên bị vi phạm đợc bảo vệ, đợc phục hồi mà còn tạo
điều kiện cho bên bị vi phạm tiếp tục duy trì ổn định, phát triển hoạt động sản xuất
kinh doanh. Giải quyết tốt các tranh chấp kinh tế còn là động lực để thúc đẩy kinh
tế của đất nớc phát triển. Tranh chấp trong kinh doanh thờng có giá trị lớn, hiệu quả
của nó ảnh hởng mạnh mẽ tới quá trình kinh doanh của các nhà doanh nghiệp nói
riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Trên thực tế, nhiều tranh chấp có giá trị
lớn không đợc giải quyết kịp thời đã kéo theo những hậu quả xấu nh đình đốn sản
xuất, thậm chí doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản làm mất sự cân bằng và
ổn định của nền kinh tế. Do đó, việc đổi mới cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế
cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới vừa là một đòi hỏi bức xúc của quan hệ kinh tế
thị trờng vừa là một yêu cầu đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Với nội dung khái niệm tranh chấp kinh tế nh trên, có thể nhận thấy các tranh
chấp kinh tế hiện nay là rất đa dạng và phức tạp, các chủ thể của nền kinh tế đợc mở
rộng hơn trớc và phạm vi hoạt động cũng đa dạng hơn trớc. Vì vậy, pháp luật áp
dụng cho việc giải quyết các tranh chấp kinh tế phải linh hoạt và mềm dẻo hơn, các
cơ quan tài phán vừa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình, vừa phải thay đổi
phơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế mở nh hiện
nay của nớc ta.
5
2. Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án trong
nền kinh tế thị trờng
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định: Cơ chế vận
hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa là cơ
chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các
công cụ khác.
Chính sách đổi mới kinh tế của Đảng đã đợc khẳng định và thể chế hoá trong
các văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nớc ta. Cơ chế kinh tế thị trờng đã đợc
Hiến pháp 1992 của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận thành một
nguyên tắc Hiến định: Nhà nớc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ
nghĩa(Điều 15) và Nhà nớc thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp
luật (Điều 26).
Trên cơ sở các định hớng và nguyên tắc cơ bản đó, công cuộc đổi mới toàn
diện của đất nớc ta đã và đang tạo ra những chuyển biến hết sức quan trọng trong
đời sống kinh tế xã hội. Đất nớc đang bớc dần ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế- xã hội và đạt đợc những thành tựu quan trọng tạo tiền đề tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Về căn bản, nền kinh tế nớc ta đợc chuyển từ nền kinh tế sản xuất mang tính
chất xã hội trực tiếp với hai hình thức sở hữu chủ yếu là quốc doanh và tập thể sang
nền sản xuất hàng hoá với nhiều thành phần sở hữu, quan hệ thị trờng là cơ sở vận
động của nền kinh tế mới. Tính chất của nền sản xuất mới tất yếu dẫn đến sự phát
sinh các quan hệ của nền kinh tế thị trờng, mà từng phạm trù của nền kinh tế này
gắn liền với những quan hệ pháp lý, định chế pháp lý khác nhau (ví dụ nh hợp đồng,
tiền lơng, tín dụng ). Các quan hệ kinh tế sẽ đa dạng, sự mâu thuẫn về lợi ích liên
quan đến nhiều chủ thể và sự liên đới về các trái vụ phát sinh trong các hoạt động
kinh doanh càng phức tạp. Về mặt không gian, các quan hệ đó vợt ra ngoài ranh
giới quốc gia. Do đó, phải hội nhập với các định chế quốc tế trong lĩnh vực kinh
doanh thơng mại.
Cùng với sự phát triển kinh tế thì các thành phần kinh tế, các quan hệ kinh tế
cũng ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp hơn. Nhiều loại hình doanh nghiệp:
6
Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, các cá nhân tham gia vào các quan
hệ kinh tế tạo nên một đời sống kinh tế hết sức khẩn trơng và sôi động. Sự đa dạng
của các chủ thể kinh tế và các quan hệ kinh tế mới đã làm cho các tranh chấp kinh
tế trở nên phức tạp, quyết liệt hơn cả về nội dung và tính chất. Nếu nh các tranh
chấp kinh tế trớc đây chỉ đơn thuần là tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa xí nghiệp
quốc doanh, các đơn vị kinh tế của Nhà nớc nhằm thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh, kế
hoạch của Nhà nớc giao. Thì nay các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trờng
phát triển ngày một đa dạng hơn đã làm phát sinh nhiều tranh chấp kinh tế mới giữa
các chủ thể kinh doanh với nhau nh giữa các loại hình doanh nghiệp: Công ty, Hợp
tác xã, Doanh nghiệp t nhân và các cá nhân có đăng ký kinh doanh. Nội dung của
tranh chấp kinh tế không chỉ giới hạn ở hợp đồng kinh tế mà liên quan đến tranh
chấp giữa Công ty với thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau,
tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu, quảng cáo Vì vậy, các chủ
thể kinh doanh đòi hỏi Nhà nớc phải thông qua hệ thống pháp luật bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp khi họ kinh doanh đúng pháp luật. Do tính chất phức tạp của các
tranh chấp trong giai đoạn hiện nay thì việc phải có một cơ quan mang tính chất
quyền lực Nhà nớc để giải quyết các tranh chấp kinh tế là một yêu cầu bức thiết của
đời sống kinh tế-xã hội nớc ta.
Thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp, các tranh chấp kinh tế phát sinh đều đợc
giải quyết thông qua trọng tài kinh tế Nhà nớc - cơ quan trực thuộc Chính phủ.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng xuất hiện hàng loạt tranh chấp kinh tế mới: tranh
chấp giữa Công ty với các thành viên công ty, giữa các thành viên trong công ty,
tranh chấp về mua bán cổ phiếu, trái phiếu Nhng những tranh chấp kinh tế này lại
vợt quá khả năng, thẩm quyền giải quyết của trọng tài kinh tế Nhà nớc. Vì vậy, Toà
án kinh tế ra đời thay cho trọng tài kinh tế là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn khách
quan của đất nớc.
Nhằm hội nhập vào đời sống kinh tế của các nớc trong khu vực cũng nh trên
thế giới, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng xây dựng một nền kinh tế mở. Theo đó, các
quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng đợc và củng cố và mở rộng, đã thu hút đợc số l-
ợng lớn về vốn, công nghệ của các nhà đầu t nớc ngoài. Đồng thời thông qua đó,
7
chúng ta nắm bắt đợc các thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến và kinh nghiệm
quản lý, kinh doanh của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển.
Vấn đề đặt ra ở đây là khi mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta phải
xem xét và chấp nhận những tập quán thơng mại Quốc tế và các nguyên tắc cơ bản
của luật pháp quốc tế về các lĩnh vực kinh doanh và thơng mại.
Các mối quan hệ kinh tế quốc tế đợc mở rộng đã tác động tích cực vào nền
kinh tế nớc ta làm cho các hoạt động kinh doanh trở nên sôi động và đa dạng hơn.
Đơng nhiên không thể tránh khỏi các tranh chấp kinh tế phát sinh trong lĩnh vực
này. Việc giải quyết tranh chấp kinh tế trong kinh doanh có nhân tố nớc ngoài là
một việc khó và phức tạp. Các chủ đầu t nớc ngoài vào Việt Nam cũng nh các nhà
kinh doanh và đầu t trong nớc đều quan tâm đến sự bảo đảm về mặt pháp lý đối với
hoạt động kinh doanh của mình và pháp luật phải bảo vệ đợc quyền và lợi ích chính
đáng cho họ khi xảy ra tranh chấp kinh tế. Chính vì vậy, khi tiến hành đầu t vào
Việt Nam, ngoài các yếu tố đảm bảo về mặt pháp lý cho hoạt động và hiệu quả kinh
doanh thì các chủ đầu t cũng đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết tranh chấp phát
sinh trong hoạt động kinh doanh, giải quyết tranh chấp phải nhanh chóng, thuận lợi
và hiệu quả mới bảo vệ đợc quyền lợi chính đáng của họ. Chính vì các yêu cầu nêu
trên, việc thiết lập một hình thức tài phán mới, độc lập với các cơ quan Nhà nớc
khác có khả năng giải quyết nhanh chóng các tranh chấp kinh tế, cũng nh các phán
quyết của hình thức tài phán này có tính quyền uy và khả năng thực thi cao, thì
không thể có một cơ quan nào khác ngoài Toà án. Vì vậy, ngày 29/12/1993 Quốc
hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá 9 kỳ họp thứ 4) đã thông qua
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân. Luật này đợc
Chủ tịch nớc công bố ngày 10/01/1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/1994.
Trong đó có các điều liên quan đến việc thành lập Toà Kinh tế - Toà chuyên trách
thuộc hệ thống Toà án nhân dân, quy định thẩm quyền của Toà Kinh tế trong việc
giải quyết các vụ án kinh tế và giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Tham khảo
kinh nghiệm của một số nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển nh Pháp, Đức đều
có hình thức tài phán kinh tế bằng Toà án và qua sự tồn tại, hoạt động của hình thức
tài phán này cho thấy tính tích cực cũng nh tính hiệu quả của nó trên thực tiễn.
3. Chức năng và nhiệm vụ của Toà án kinh tế
8
3.1. Chức năng của Toà án kinh tế
Chức năng của Toà án kinh tế là một mặt hoạt động chủ yếu của Toà án kinh
tế đợc pháp luật ghi nhận, nó xác định bản chất của Toà án kinh tế là một trong
những cơ quan xét xử của Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Toà án kinh tế có những chức năng cơ bản sau:
Một là: Chức năng xét xử các vụ án kinh tế
Là một bộ phận của Toà án nhân dân, Toà án kinh tế có chức năng xét xử -
một chức năng cơ bản của Toà án nhân dân nói chung. Điều 127 Hiến pháp năm
1992 quy định: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phơng, các Toà
án quân sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nớc cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bằng quy định này, Hiến pháp năm 1992 khẳng định
rằng ở nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam việc thực hiện chức năng xét xử do
Toà án nhân dân đảm nhiệm. Ngoài Toà án nhân dân ra không một cơ quan quyền
lực nào có thể thực hiện chức năng xét xử. Toà án thực hiện chức năng xét xử nhân
danh nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy định tại Điều 127 Hiến pháp
năm 1992 về chức năng của Toà án đã đợc cụ thể hoá bằng luật tổ chức Toà án nhân
dân năm 1992 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân
dân, đợc Quốc hội thông qua ngày 28/12/1993. Toà án kinh tế thực hiện chức năng
xét xử các vụ án kinh tế. Khi thực hiện chức năng này, Toà án kinh tế phải căn cứ
vào các quy định của pháp luật, cả pháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng.
Toà án kinh tế thực hiện chức năng xét xử các vụ án kinh tế của mình bằng việc ra
Bản án, quyết định. Các bản án, quyết định của Toà án kinh tế đã có hiệu lực pháp
luật phải đợc các cơ quan nhà nớc, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và mọi công dân
tôn trọng.
Hai là: Chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Toà kinh tế ngoài chức năng xét xử nh các toà khác trong Toà án nhân dân,
Toà kinh tế còn có chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Theo Luật phá sản doanh nghiệp đợc Quốc hội thông qua ngày 30/12/1993,
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng, Toà án tối cao còn có chức
năng giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
9
Tuyên bố phá sản doanh nghiệp là một hoạt động thuần tuý t pháp, là một thủ
tục đòi nợ đặc biệt. Thực hiện chức năng này Tòa án kinh tế bảo vệ lợi ích của cả
chủ nợ lẫn lợi ích của doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản và lợi ích của
xã hội.
3.2. Nhiệm vụ của Toà án kinh tế
Trong phạm vi chức năng của mình, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo
vệ tài sản của Nhà nớc, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và
nhân phẩm của công dân (Điều 1, Luật tổ chức Toà án nhân dân).
Nh vậy có thể nói rằng, pháp luật đã quy định một cách cụ thể và rõ ràng
nhiệm vụ chính của Toà án nhân dân nói chung và Toà kinh tế nói riêng trong khi
thực hiện chức năng của mình.
Là một trong những cơ quan tố tụng, Toà án phải đảm bảo cho mọi hoạt động
tố tụng của mình đợc tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Các
cá nhân, tổ chức theo quy định của thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế có quyền
khởi kiện vụ án kinh tế để yêu cầu toà án kinh tế bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Và trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế, Toà án phải tiến hành
các biện pháp để các đơng sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhằm
thoả mãn đợc lợi ích của các bên có tranh chấp. Mặt khác, bằng hoạt động của
mình, Toà án góp phần giáo dục các doanh nghiệp chấp hành nghiêm chỉnh pháp
luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống các vi
phạm pháp luật.
4. Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp kinh
tế tại Toà án nhân dân
Xuất phát từ yêu cầu quản lý kinh tế bằng pháp luật và yêu cầu lợi ích kinh tế
của chính các nhà doanh nghiệp, việc giải quyết các tranh chấp kinh tế trong điều
kiện nền kinh tế chuyển đổi hiện nay đòi hỏi phải đáp ứng đợc các yêu cầu sau:
- Nhanh chóng và đúng đắn, hạn chế đến mức tối đa sự gián đoạn của quá
trình sản xuất, kinh doanh
10
- Đảm bảo dân chủ, công khai, quyền tự định đoạt của các bên trong quá
trình giải quyết tranh chấp.
- Đảm bảo yếu tố bí mật trong kinh doanh.
- Đảm bảo uy tín cho các bên trong thơng trờng.
- Đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp
pháp của các bên tham gia tranh chấp.
Để tạo điều kiện cho Toà án kinh tế tiến hành tố tụng một cách nhanh chóng
đồng thời đảm bảo cho các đơng sự có điều kiện thực hiện đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ, trên cơ sở đó ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, những biểu hiện
tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án thì hoạt động của Toà án kinh tế phải dựa
trên các nguyên tắc của tố tụng kinh tế.
Lý luận Mác - Lê nin về Nhà nớc và pháp luật đã chỉ ra rằng nguyên tắc của
pháp luật xã hội chủ nghĩa là những t tởng chỉ đạo bao trùm lên toàn bộ các quy
phạm pháp luật, các chế định pháp luật và hệ thống các ngành luật cụ thể. Theo đó
nguyên tắc của thủ tục tố tụng kinh tế là những t tởng pháp lý chỉ đạo chi phối toàn
bộ hệ thống chế định pháp luật trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,
làm kim chỉ nam định hớng xuyên suốt cho toàn bộ quá trình hoạt động giải quyết
tranh chấp của Toà án kinh tế.
Tất cả các hành vi đợc tiến hành trong quá trình tố tụng nh khởi kiện, ra
quyết định, bản án đều phải thực hiện trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc đã đề
ra. Bất cứ một hành vi nào vi phạm các nguyên tắc của thủ tục tố tụng kinh tế đều đ-
ợc coi là bất hợp pháp và phải bị loại bỏ.
Khi đi vào nghiên cứu các nguyên tắc có thể thấy rõ hoạt động của tố tụng
kinh tế cũng nh các hoạt động tố tụng khác. Trong quá trình giải quyết tranh chấp
kinh tế Toà kinh tế phải tuân theo các nguyên tắc chung về tố tụng đợc quy định
trong Hiến pháp và Luật tổ chức Toà án nhân dân nh: nguyên tắc khi xét xử Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Toà án xét xử công
khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số, Toà án đảm bảo cho đơng sự đợc dùng
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trớc toà Đây là các nguyên tắc chung về tố
tụng nhng trong tố tụng kinh tế cũng có các nguyên tắc đặc thù riêng. Vì vậy giới
11
hạn trong nội dung của phần này chúng tôi chỉ trình bày một số nguyên tắc cơ bản
của tố tụng kinh tế.
4.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đơng sự
Đây là nguyên tắc cơ bản của tố tụng kinh tế. Nguyên tắc này phát sinh từ
nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, Nhà nớc không can thiệp vào các hoạt
động kinh doanh đúng pháp luật. Khi xảy ra tranh chấp, Toà án chỉ tham gia giải
quyết nếu đơng sự có đơn yêu cầu. Việc yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp là
quyền của các chủ thể kinh doanh. Các cơ quan Nhà nớc, tổ chức xã hội không có
quyền khởi kiện, khởi tố các tranh chấp kinh tế.
Quyền tự định đoạt của đơng sự đợc thể hiện ở những nội dung sau:
- Quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện
- Quyền xác định phạm vi yêu cầu
- Quyền đợc thay đổi, bổ sung nội dung yêu cầu
- Quyền đề xuất bổ sung chứng cứ
- Quyền rút đơn kiện trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng.
Trong toàn bộ các quyền kể trên thì quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện là
quan trọng nhất. Bởi vì kinh doanh là một công việc có tính chất riêng t, các tranh
chấp phát sinh trong kinh doanh phải do chính các nhà doanh nghiệp tự quyết định.
Trong nền kinh tế thị trờng các bên tham gia vào quan hệ kinh tế với mục đích làm
sao kiếm đợc lợi nhuận cao nhất trên cơ sở phát huy mối quan hệ kinh doanh tốt đối
với các bạn hàng, mở rộng thị trờng và tạo uy tín lớn Do đó, khi tranh chấp kinh
doanh xảy ra việc đa ra Toà án giải quyết phải đợc các bên cân nhắc kỹ lỡng, đây là
biện pháp cuối cùng khi các bên tranh chấp không tìm đợc cách giải quyết nào tốt
hơn.
4.2. Nguyên tắc các đơng sự bình đẳng trớc pháp luật
Quyền bình đẳng trớc pháp luật là quyền cơ bản của công dân, của các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đợc ghi nhận trong Hiến pháp 1992 (Điều
22, Điều 52).
Quyền bình đẳng không chỉ thể hiện khi các bên tham gia vào quan hệ kinh
doanh mà cả khi họ tham gia vào quan hệ tố tụng. Toà án sẽ tiếp tục tiến hành xét
12
xử các tranh chấp kinh tế không phân biệt các loại hình doanh nghiệp: Doanh
nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp t nhân, công ty, hợp tác xã hay ngời kinh doanh
Mặt khác, khi tham gia vào qua hệ tố tụng các đơng sự đều đợc hởng các quyền
cũng nh phải thực hiện nghĩa vụ nh nhau theo quy định của pháp luật.
Theo nguyên tắc này không một cá nhân, một cơ sở sản xuất kinh doanh nào
có đặc quyền đặc lợi trớc Toà án. Họ đều ở vị trí bình đẳng về tố tụng và đều phải
tuân theo pháp luật. Nếu có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Nguyên tắc bình đẳng trong tố tụng kinh tế đảm bảo cho việc xét xử đợc
công bằng, đúng pháp luật. Nguyên tắc này khuyến khích các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh nói riêng và mọi thành phần kinh tế nói chung mạnh dạn đầu t
vào hoạt động sản xuất kinh doanh vì thế nó có ý nghĩa quan trọng trong việc phát
triển và hoàn thiện nền kinh tế thị trờng ở nớc ta.
4.3. Nguyên tắc Toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu
thập chứng cứ
Đây là nguyên tắc mang tính đặc thù của tố tụng kinh tế, theo nguyên tắc này
các đơng sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của
mình. Toà án không tự điều tra, thu thập chứng cứ nh trong việc giải quyết các vụ
án dân sự.
Trong tố tụng dân sự, nhiều trờng hợp đơng sự là ngời cha thành niên, ngời
có nhợc điểm về thể chất hoặc tâm thần tức là những ngời này bị hạn chế hoặc
không có năng lực hành vi. Nếu có phát sinh tranh chấp và đợc giải quyết bởi Toà
án thì trong nhiều trờng hợp các đơng sự này không thể tự chứng minh cho các yêu
cầu của mình nên Toà án phải tiến hành điều tra, thu thập thêm chứng cứ.
Còn trong kinh doanh, các nhà kinh doanh phải có đủ một số điều kiện mà
pháp luật quy định cho họ nh: phải từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi đầy đủ, có
trình độ chuyên môn phù hợp với ngành nghề kinh doanh Vì thế khi xảy ra tranh
chấp các nhà kinh doanh đều có đủ khả năng để tự thu thập tài liệu chứng cứ chứng
minh nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Mặt khác, trong vụ án kinh tế yêu cầu Toà
án giải quyết là hoàn toàn do đơng sự tự định đoạt một cách chủ động, không có tr-
ờng hợp nào Viện kiểm sát hoặc tổ chức xã hội can thiệp vào việc đa ra yêu cầu
đồng thời làm thay đổi việc cung cấp chứng cứ chứng minh.
13
Việc nâng cao trách nhiệm tự chứng minh của các đơng sự là đảm bảo cho
việc giải quyết các vụ án kinh tế đợc nhanh chóng, chính xác và khách quan. Toà án
chỉ giải quyết trên cơ sở chứng cứ mà đơng sự cung cấp. Toà án không tiến hành xét
hỏi mà nghe các bên trình bày và xác minh chứng cứ. Các bên có quyền và nghĩa vụ
trình bày những gì mà họ cho là cần thiết để chứng minh và bảo vệ quyền lợi của
mình. Trong trờng hợp đơng sự cung cấp chứng cứ cha đầy đủ hoặc chứng cứ đó cha
chính xác thì Toà án sẽ yêu cầu đơng sự cung cấp thêm chứng cứ hoặc xác minh sự
chính xác của chứng cứ.
4.4. Nguyên tắc Toà án chỉ thụ lý đơn kiện khi các bên đã tiến hành th-
ơng lợng hoà giải
Nguyên tắc hoà giải phải gắn liền với nguyên tắc tự định đoạt của đơng sự.
Các chủ thể kinh doanh khi tham gia vào các quan hệ kinh tế là dựa trên cơ sở bình
đẳng, tự nguyện. Do đó khi phát sinh tranh chấp các bên phải chủ động tiến hành
thơng lợng, hoà giải với nhau để cùng một biện pháp giải quyết. Chỉ khi nào có văn
bản chứng tỏ việc thơng lợng, hoà giải không thành hoặc không thể tiến hành vì sự
thiếu thiện chí của một bên lúc đó Toà án mới thụ lý hồ sơ và giải quyết.
Hoà giải là việc các bên tự thơng lợng giải quyết tranh chấp với nhau mà
không cần có phán quyết của Toà án. nguyên tắc này xuyên suốt quá trình giải
quyết vụ án kinh tế. Khi các đơng sự đã yêu cầu Toà án can thiệp hoặc trong quá
trình xét xử Toà án cũng luôn tìm các biện pháp để các bên có thể hoà giải với nhau
nhằm giải quyết nhanh chóng, dứt điểm vụ án, làm giảm đi những mâu thuẫn căng
thẳng, giảm phí tổn, thời gian trong quá trình tranh tụng, tiết kiệm tiền của cho các
bên tranh chấp.
4.5. Nguyên tắc Toà án giải quyết vụ án kinh tế nhanh chóng, kịp thời
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng rất năng động, linh hoạt
thời gian đối với các nhà kinh doanh có ý nghĩa sống còn. Do đó, khi có tranh chấp
phát sinh từ hoạt động kinh doanh, các nhà kinh doanh cần ở các cơ quan giải quyết
tranh chấp không những giải quyết đúng pháp luật, thấu tình đạt lý mà còn phải
nhanh chóng kịp thời và dứt điểm tránh dây da kéo dài gây lãng phí thời gian và tiền
của. Bởi vậy, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đợc quy định đơn giản
hơn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cũng chính là nhằm mục đích giải
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét