Nguồn năng lượng chính sử dụng trong nhóm thứ nhất là bức xạ mặt trời.
Mặt trời cung cấp một bức xạ có bước sóng ưu thế 500nm. Tư liệu viễn thám trong
dải sóng nhìn thấy phụ thuộc vào phản xạ từ bề mặt vật thể và bề mặt trái đất. Vì
vậy, các thông tin về vật thể có thể được xác định từ các phổ phản xạ. Tuy nhiên,
radar sử dụng tia laser là trường hợp ngoại lệ không sử dụng năng lượng mặt trời.
Nguồn năng lượng sử dụng trong nhóm thứ hai là bức xạ nhiệt do chính vật thể sản
sinh ra. Mỗi vật thể trong nhiệt độ bình thường đều phát ra một bức xạ có đỉnh tại
bước sóng 10.000nm.
Trong viễn thám siêu cao tần người ta sử dụng hai loại kỹ thuật chủ động và
bị động. Viễn thám siêu cao tần bị động thì bức xạ siêu cao tần do chính vật thể
phát ra được ghi lại, còn trong viễn thám siêu cao tần chủ động lại thu những bức xạ
tán xạ hoặc phản xạ từ vật thể.
Đặc điểm chung của ảnh viễn thám được xác định dựa vào đặc điểm chuyển
động của vệ tinh như độ cao, quỹ đạo và tốc độ chuyển động…, bên cạnh đó là kỹ
thuật, vật liệu, thiết bị thu chụp và xử lý ảnh vệ tinh.
- Ảnh viễn thám cung cấp thông tin trên phạm vi rộng được chụp trong cùng
thời điểm và cùng điều kiện vật lý cho phép nhanh chóng rút ngắn thời gian thu
thập và xử lý thông tin cho quá trình thành lập và hiện chỉnh bản đồ.
- Ảnh viễn thám được chụp ở tỷ lệ nhỏ với những giải phổ khác nhau nên
tính chất tổng quát hóa tự nhiên về mặt hình học và quang học khách quan và chính
xác, phản ánh tính quy luật của các hiện tượng tự nhiên.
- Độ cao thu chụp của các vệ tinh lớn so với độ cao địa hình, do vậy vị trí
điểm bị xê dịch trên ảnh không đáng kể, chỉ quan tâm ở vùng núi khi vượt quá hạn
sai cho phép. Ngược lại, ảnh phủ một diện tích rộng nên sai số do độ cong quả đất
lớn, vì vậy phải có phương pháp xử lý thích hợp.
- Kỹ thuật viễn thám cho phép thu chụp ảnh vệ tinh với độ phân giải cao 5 –
30m, thậm chí 0,8 – 5m đảm bảo cho thành lập bản đồ tỷ lệ 1:10000, 1:50000,
1:100000,…
- Viễn thám có khả năng chụp lặp lại theo một chương trình với chu kỳ nhất
định là nguồn thông tin đảm bảo tính tức thời, phản ánh cả những hiện tượng, đối
tượng biến đổi nhanh.
- Thiết bị thu nhận và xử lý ảnh hiện đại cho phép nhận được ảnh vũ trụ với
lượng thông tin phong phú và tổng hợp về mặt đất. Phản ánh tất cả các thành phần
cảnh quan, ảnh vệ tinh là nguồn thông tin có ý nghĩa liên ngành, với các phương
pháp xử lý khác nhau sẽ cho ra các nguồn thông tin hữu ích cho các chuyên ngành
khác nhau.
- Ảnh vệ tinh cũng có khả năng cung cấp thông tin ở các vùng con người khó
tiếp và cách xa (rừng núi, hải đảo,…) một cách dễ dàng, đây là một trở ngại mà
phương pháp truyền thống phải mất rất nhiều công sức và tiền của để khắc phục.
- Các sai số hệ thống trên ảnh vệ tinh có độ ổn định cao giúp cho công tác
nắn chỉnh hình học được tiến hành với độ chính xác cao phục vụ cho thành lập bản
đồ địa hình.
Tất cả các đặc điểm trên xác định được khả năng ứng dụng ảnh vệ tinh vào
công tác bản đồ với hiệu quả cao về khoa học công nghệ, phương pháp luận cũng
như hiệu quả kinh tế.
Khả năng lý thuyết để thành lập bản đồ của ảnh vệ tinh bao gồm:
- Độ phân giải không gian của ảnh
- Độ lớn pixel thực địa và độ phân giải của ảnh vệ tinh
Dung lượng thông tin (hay nội dung) bản đồ phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ cần
thành lập. Mức độ khái quát càng lớn khi tỷ lệ bản đồ càng nhỏ, dung lượng thông
tin trên bản đồ càng giảm. Trái lại bản đồ ở tỷ lệ càng lớn thì dung lượng thông tin
càng tăng.
Giữa dung lượng thông tin trên bản đồ và trên ảnh có mối liên hệ chặt
chẽ. Đối với ảnh photo mối liên hệ đó thể hiện thông qua tỷ lệ ảnh và tỷ lệ bản đồ.
Song, đối với ảnh số, mối liên hệ ấy thể hiện thông qua độ lớn pixel thực địa GSD
của ảnh và tỷ lệ bản đồ 1:M
b
. GSD càng nhỏ thì dung lượng thông tin trên ảnh
càng lớn; cho nên, dung lượng thông tin trên bản đồ càng phong phú.
Bình đồ ảnh là hình ảnh của miền thực địa được thực hiện bằng cách ghép và
cắt dán các tấm ảnh đơn và nắn theo mảnh bản đồ. Những tấm ảnh nắn được khử sai
số do góc nghiêng của ảnh gây ra, còn sai số của điểm ảnh do địa hình được hạn chế
tới mức tối thiểu phù hợp với độ chính xác của bản đồ. Cơ sở nắn ảnh, ghép ảnh là
các điểm khống chế được ghi trên bản gốc. Bình đồ ảnh mang các thông tin tối đa
bề mặt thực địa, là sản phẩm trung gian để thành lập hay hiện chỉnh bản đồ. Trong
trường hợp này, hình ảnh trên bình đồ ảnh được giải đoán và các yếu tố địa hình
được đo vẽ trực tiếp trên đó bằng các phương pháp trắc địa hoặc phương pháp đo vẽ
lập thể.
Bình đồ ảnh có hai khái niệm là bình đồ ảnh được thành lập thông qua công
tác nắn ảnh theo nguyên lý nắn ảnh vùng bằng phẳng và bình đồ ảnh trực giao được
thành lập theo nguyên lý ảnh trực giao. Ngày nay, bình đồ ảnh trực giao được thành
lập theo dây chuyền công nghệ đo ảnh số.
Bình đồ ảnh thường được sử dụng khi thành lập và hiện chỉnh bản đồ địa
hình, bản đồ chuyên đề, đôi khi có thể thay thế bản đồ trong công tác khảo sát thăm
dò. Trong chiến đấu, là tài liệu quan trọng giúp người chỉ huy trận đánh cũng như
bảo vệ mục tiêu quan trọng. Trong huấn luyện, bình đồ ảnh là tài liệu học tập.
Có thể nói thành lập bình đồ ảnh vệ tinh là quá trình xử lý, hiệu chỉnh hình
học ảnh vệ tinh ở cấp độ cao nhất, nhằm hiệu chỉnh hoặc khử ảnh hưởng của các
nguồn sai số đối với dữ liệu ảnh và hiệu chỉnh ảnh hưởng của chênh cao địa hình để
nhận được một tấm ảnh kết quả đảm bảo độ chính xác về mặt phẳng theo yêu cầu
kỹ thuật tương ứng với một tỷ lệ bản đồ đã xác định.
Thành lập bình đồ ảnh vệ tinh hiện nay được thực hiện bằng phương pháp số.
Quy trình này gồm các bước:
- Nhập ảnh số, và các thông tin bổ trợ
- Chọn phương pháp nắn, mô hình nắn và điểm khống chế nắn ảnh
- Nắn ảnh, ghép ảnh và cắt mảnh bình đồ ảnh
- Xử lý phổ và trình bày khung bình đồ ảnh
- Xuất in bình đồ ảnh
Bình đồ ảnh vệ tinh hiện được sản xuất và sử dụng trong quy trình hiện chỉnh
bản đồ địa hình phục vụ cho việc điều vẽ các yếu tố địa vật. Để sản xuất được các
bản đồ ảnh vệ tinh đạt độ chính xác, người ta ứng dụng nguyên lý nắn chỉnh hình
học và dựa trên cơ sở các mô hình toán học để nắn chỉnh ảnh vệ tinh, sử dụng mô
hình toán học thích hợp tùy theo yêu cầu cụ thể để nắn chính hình học ảnh.
Theo quy trình thành lập bình đồ ảnh vệ tinh có thể thấy các yếu tố ảnh
hưởng tới kết quả nắn ảnh vệ tinh đó là: độ phân giải của ảnh vệ tinh; phương pháp
nắn, các mô hình toán học sử dụng để thực hiện phép nắn; số lượng điểm khống chế
ngoại nghiệp và đồ hình bố trí chúng, độ chính xác đo đạc điểm khống chế ảnh; mô
hình số độ cao sử dụng nắn ảnh và mô hình hình học dùng nắn ảnh.
8. Chương 2: Nghiên cứu xử lý ảnh vệ tinh trong hiện chỉnh bản đồ
Trong quá trình hiện chỉnh bản đồ có thể sử dụng một trong các phương pháp
sau:
- Hiện chỉnh bản đồ theo ảnh hàng không, ảnh vệ tinh.
- Hiện chỉnh bản đồ từ tài liệu bản đồ có tỷ lệ lớn hơn.
- Hiện chỉnh trực tiếp ngoài thực địa.
Mỗi phương pháp nêu trên đều có ý nghĩa về kinh tế kỹ thuật độc lập. Song
để đạt được hiệu quả cao trong phạm vi một khu vực hiện chỉnh hoặc trên cùng một
mảnh bản đồ cho phép ta áp dụng kết hợp các phương pháp trên.
Trường hợp cùng một lúc ta tiến hành hiện chỉnh cả dãy tỷ lệ thì bản đồ có tỷ
lệ lớn hơn cả sẽ được trực tiếp hiện chỉnh, những bản đồ tỷ lệ nhỏ tiếp theo sẽ được
hiện chỉnh bằng phương pháp biên vẽ hoặc chỉnh sửa theo bản đồ mới hiện chỉnh.
Phương pháp xử lý ảnh vệ tinh SPOT trong hiện chỉnh bản đồ
Nắn chỉnh hình học ảnh vệ tinh SPOT
* Các mức xử lý ảnh SPOT
Ảnh SPOT thu nhận được là ảnh thô có rất nhiều biến dạng trên ảnh. Mỗi
mức nắn nhằm loại trừ các biến dạng để đạt được độ chính xác nhất định. Các mức
nắn chỉnh ảnh được quy ước như sau:
- Mức 1A: ảnh hình vuông, về khuôn dạng là ảnh gốc đặc biệt do hãng SPOT
cung cấp, nó chỉ nhập được bằng một số phần mềm nhất định. Về hình học chưa xử
lý.
- Mức 1B: Nắn chỉnh hình học với sự hiệu chỉnh độ quay trái đất , độ cong
trái đất và sự thay đổi độ cao quỹ đạo vệ tinh. Độ chính xác vị trí tuyệt đối đạt được
khoảng 1.500m đối với ảnh chụp thẳng đứng.
- Mức 2A: Nắn chỉnh hình học tiến hành theo phương pháp mô hình hoá vật
lý không sử dụng điểm khống chế từ ảnh mức 1B. Do không cải chính sai số dịch vị
điểm ảnh do chênh cao địa hình nên cần chọn mặt phẳng nắn trung bình của vùng
ảnh phủ. Độ chính xác của các tham số chụp ảnh. Ảnh được nắn về một lưới chiếu
bản đồ nào đó.
- Mức 2B: Nắn chỉnh hình học theo phương pháp mô hình hoá vật lý không
sử dụng điểm khống chế từ ảnh mức 1B có sử dụng điểm khống chế để chính xác
hoá mô hình. Dùng mô hình sau hiệu chỉnh để nắn ảnh cho độ chính xác cao hơn.
Độ chính xác mức nắn phụ thuộc vào độ chính xác điểm khống chế. Trong các điều
kiện tiêu chuẩn, khả năng đạt được độ chính xác định vị tuyệt đối đến 20m.
- Mức 3: Mức nắn này bao gồm các bước như mức nắn 2B nhưng có sử dụng
mô hình số độ cao (DEM) để loại trừ sai số dịch vị điểm ảnh do chênh cao địa hình.
Đây là mức nắn sử dụng khi nắn ảnh vùng núi và núi cao, yêu cầu bản đồ có độ
chính xác cao.
Độ chính xác của mức nắn 3 phụ thuộc vào độ chính xác điểm khống chế và chất
lượng DEM sử dụng, cao nhất đạt được độ chính xác tới 0.5 pixel. ảnh nắn mức 3 là
trực ảnh (orthoimage).
* Hiệu chỉnh hình học (nắn ảnh mức 1B)
Ảnh SPOT ở mức 1B thu được thông qua hiệu chỉnh hình học từ ảnh ở mức
1A. Hiệu chỉnh hình học bao gồm việc hiệu chỉnh ảnh hưởng của độ quay quả đất,
độ cong quả đất và sự thay đổi của các nguyên tố định hướng ngoài của hệ thống
Sensor.
* Nắn chỉnh ảnh SPOT ở mức 2 và mức 3
Để thu được các sản phẩm của ảnh SPOT ở mức 2 và mức 3, ta thực hiện
việc nắn chỉnh ảnh số. Nắn chỉnh hình học ảnh số phải tiến hành 2 công đoạn chính
là xác định mô hình toán học dùng để nắn ảnh số (mô hình hóa ảnh) và nắn ảnh số
theo mô hình được xác định.
Tăng cường chất lượng ảnh
Tăng cường chất lượng ảnh bao gồm những kỹ thuật xử lý khác nhau nhằm
thay đổi các giá trị Digital Number (DN) của ảnh ban đầu nhằm đưa ra ảnh mới với
các giá trị số mới. Kỹ thuật tăng cường chất lượng ảnh có thể áp dụng cho từng
kênh ảnh riêng biệt.
* Các kỹ thuật làm tăng cường độ tương phản (Contrast manipulation)
- Kỹ thuật phân ngưỡng độ xám (Gray-level thresholding)
- Kỹ thuật lọc theo mức (Level slicing)
- Kỹ thuật kéo dãn độ tương phản (Contrast stretching)
* Các kỹ thuật thao tác với đối tượng không gian (Spatial feature manipulation)
- Kỹ thuật lọc không gian (Spatial filtering)
- Kỹ thuật lọc tăng cường đường biên (Edge enhancement)
- Kỹ thuật phân tích Fourier (Fourier Analysis)
* Các kỹ thuật thao tác đa ảnh (Multi-Image Manipulation)
- Tạo ảnh tỷ số phổ (Spectral rationing)
- Tạo ảnh thành phần chính (Principal and Canonical Components)
- Tạo ảnh thành phần thực vật (Vegetation Components)
Phân loại ảnh (Image classification)
Theo định nghĩa, phân loại ảnh số là quá trình phân loại các pixel thành các
lớp hoặc các nhóm lớp theo các chuyên đề khác nhau. Trong quá trình phân loại,
giá trị DN của từng pixel là thông số duy nhất được sử dụng. Thông thường có hai
phương pháp phân loại: phân loại có kiểm định (supervised) hoặc không có kiểm
định (unsupervised).
Trong cách phân loại không có kiểm định, ta chia mức độ xám của ảnh ra các
cấp khác nhau rồi phân loại lại ảnh theo các mức xám đó.
Với phân loại có kiểm định, đầu tiên ta phải định nghĩa rõ ràng các lớp phân
loại và lựa chọn có tính đến đặc thù của tư liệu ảnh. Sau đó ta chọn đặc tính phổ
hoặc cấu trúc cho phép phân biệt các lớp cần được tập hợp. Tiếp đến, ta chọn vùng
mẫu dựa vào kết quả của hai bước trên. Cuối cùng ta chọn lựa các phương pháp
phân loại. Có thể áp dụng nhiều cách phân loại khác nhau trong khuôn khổ tệp mẫu
và so sánh kết quả đạt được để lựa chọn cách phân loại tối ưu nhất. Thông thường,
người ta chọn phương pháp phân loại theo xác suất cực đại (Maximum likelihood)
để nhóm các pixel vào lớp mà xác suất của chúng thuộc vào lớp đó là lớn nhất.
9. Chương 3: Các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao độ chính xác bình đồ ảnh
vệ tinh
Các nguồn sai số ảnh hưởng đến độ chính xác bình đồ ảnh
Sai số trong quá trình thu nhận ảnh vệ tinh
Trong quá trình thu nhận, hình ảnh được tạo ra một cách liên tục theo sự
chuyển động của vệ tinh. Do sự chuyển động không ổn định của vệ tinh nên hình
ảnh thu được dễ bị méo. Hơn nữa, do các thay đổi của các góc định hướng hoặc do
quỹ đạo bay bị sai lệch nên hình ảnh méo hình. Ảnh hưởng này gây nên méo hình
đáng kể khi các hình ảnh có kích thước lớn hơn rất nhiều lần kích thước một pixel.
Các nguồn sai số gây méo hình này có thể gộp lại thành 2 nhóm: sai số nội tại của
bộ cảm biến thu chụp và sai số do tác động bên ngoài.
Sai số trong quá trình xử lý ảnh vệ tinh
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác của ảnh nắn trong quá trình xử
lý. Đó là các yếu tố xuất phát từ bản chất của thiết bị thu chụp như độ phân giải của
ảnh vệ tinh, mô hình sử dụng để nắn ảnh hay các yếu tố tham gia vào quá trình nắn
chỉnh hình học từ khâu ngoại nghiệp tới khâu nội nghiệp như độ chính xác tăng dày
khống chế ảnh (độ chính xác điểm khống chế ảnh và số lượng điểm, đồ hình bố trí
khống chế ảnh), độ chính xác mô hình số độ cao.
Thực nghiệm và các kết quả
Mục đích và nội dung thực nghiệm
* Mục đích
Thực nghiệm nắn ảnh vệ tinh SPOT5 Panchromatic độ phân giải 2,5m và
QUICKBIRD đen trắng độ phân giải 0,6m sử dụng các mô hình vật lý và mô hình
hàm hữu tỷ trên các phần mềm hiện có tại Việt Nam là: SPACEMAT (Pháp), PCI
(Canada) và ERDAS Imagine.
Từ các kết quả thu được qua thực nghiệm, đánh giá sử dụng phương pháp
mô hình hóa thích hợp cho một số loại ảnh vệ tinh thu nhận từ các đầu thu chụp
khác nhau.
* Nội dung tiến hành
Phần thực nghiệm thứ nhất là nắn ảnh vệ tinh sử dụng mô hình vật lý với ảnh
vệ tinh SPOT5 do loại ảnh này được cung cấp tại Việt nam thường là ảnh SPOT5
mức 1A hay 1B luôn kèm theo các thông số chụp ảnh trong dữ liệu đi kèm. Thực
nghiệm này tiến hành đối với các trường hợp: nắn ảnh vệ tinh đơn và nắn theo khối
ảnh với các trường hợp lựa chọn số lượng điểm KCA và đồ hình KC khác nhau, nắn
ảnh vệ tinh với DEM thành lập từ bản đồ địa hình có tỷ lệ khác nhau.
Phần thực nghiệm thứ hai là nắn ảnh vệ tinh sử dụng mô hình hàm hữu tỷ với
ảnh vệ tinh QUICKBIRD bậc tiêu chuẩn do loại ảnh này được cung cấp phần lớn tại
Việt nam và thường sử dụng trong thực tế sản xuất. Do trong dự án sản xuất thử
nghiệm “Thành lập trực ảnh tỷ lệ 1:5 000 bằng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải siêu
cao ” - Trung tâm Viễn thám (8/ 2007) nhóm tác giả đã thử nghiệm nắn ảnh vệ tinh
sử dụng mô hình hàm hữu tỷ với ảnh vệ tinh QUICKBIRD bậc tiêu chuẩn với vùng
địa hình bằng phẳng nên trong đề tài này chỉ tiến hành đối với trường hợp nắn ảnh
vệ tinh QUICKBIRD bậc tiêu chuẩn trong điều kiện có chênh cao địa hình lớn .
Thực nghiệm nắn ảnh vệ tinh sử dụng mô hình vật lý với ảnh vệ tinh SPOT5
Thực nghiệm nắn ảnh SPOT5 Pan với số điểm KC khác nhau
. Vị trí địa lý:
Khu vực thực nghiệm có phạm vi từ 21
0
20’ đến 20
0
40’ vĩ độ Bắc, từ 105
0
30’đến 106
0
15’ kinh độ Đông.
Đánh giá tư liệu:
- Điểm khống chế: Số lượng điểm KC trong thực nghiệm là 32 điểm. Các
điểm KC đo bằng phương pháp GPS. Tọa độ và độ cao được tính toán trong hệ tọa
độ VN2000. Độ chính xác đo KC về mặt phẳng
0,2m và về độ cao
0,4m.
- Mô hình số địa hình (DEM): Trong thực nghiệm sử dụng DEM thành lập từ
kết quả số hoá các yếu tố của bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000 có sẵn ở khu vực này.
Độ cao địa hình vùng núi khoảng 70m còn ở vùng đồng bằng khoảng 2-5m.
- Tư liệu ảnh vệ tinh: Thực nghiệm tiến hành với ảnh vệ tinh SPOT5 Pan độ
phân giải 2.5m có số hiệu 270308 (10/11/2002), góc nghiêng chụp ảnh +13,8.
Kết quả thực nghiệm:
- Phương án 8 điểm khống chế: Sai số TPTB vị trí điểm M
xy
=
2.17m.
- Phương án 9 điểm khống chế: Sai số TPTB vị trí điểm M
xy
=
1.62m.
- Phương án 12 điểm khống chế: Sai số TPTB vị trí điểm M
xy
=
1.67m.
- Phương án 14 điểm khống chế: Sai số TPTB vị trí điểm M
xy
=
1.25m.
Nhận xét:
Sau khi nắn ảnh SPOT Pan có độ phân giải 2.5m sử dụng mô hình vật lý có
thể nhận thấy rằng với các phương án độ chính xác đều đạt kết quả
2.2m và khi
số lượng điểm khống chế tăng lên thì độ chính xác ảnh nắn cũng tăng lên.
Trong trường hợp số điểm khống chế tăng từ 8 đến 14 điểm thì độ chính xác
ảnh nắn tăng dần đều, trường hợp 9 điểm và 12 điểm thì độ chính xác ảnh nắn là
gần bằng nhau và tiếp tục tăng khi số điểm KC tăng lên 14.
Như vậy, khi sử dụng mô hình vật lý số lượng điểm KC cần thiết trong một cảnh
ảnh đơn tối thiểu là 8 điểm, tốt nhất từ 9 điểm đến 12 điểm là phù hợp với yêu cầu
cả về kỹ thuật và kinh tế.
Thực nghiệm nắn ảnh SPOT5 Pan với điểm KC không rải đều trên ảnh
Vị trí địa lý:
Khu vực thực nghiệm có phạm vi từ 20
0
25’ đến 21
0
05’ vĩ độ Bắc, từ 106
0
02’ đến 106
0
46’ kinh độ Đông.
Đánh giá tư liệu:
- Điểm khống chế : Số lượng điểm KC trong thực nghiệm là 24 điểm. Các
điểm KC đo bằng phương pháp GPS. Tọa độ và độ cao được tính toán trong hệ tọa
độ VN2000. Độ chính xác đo KC về mặt phẳng
0.2m và về độ cao
0.4m.
- Mô hình số địa hình (DEM): Trong thực nghiệm sử dụng DEM thành lập từ
kết quả số hoá các yếu tố của bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000 có sẵn ở khu vực này.
Độ cao địa hình khu vực thực nghiệm vùng núi khoảng 200m còn ở vùng đồng bằng
khoảng 1m.
- Tư liệu ảnh vệ tinh: Thực nghiệm tiến hành với ảnh vệ tinh SPOT5 - Pan độ
phân giải 2.5m có số hiệu 271308/5 (23/12/2003), góc nghiêng chụp ảnh -21.
Các trường hợp thực nghiệm:
- Thực nghiệm trên vùng không có điểm KC có độ cao trung bình 1m.
Sai số TPTB vị trí điểm: M
xy
=
3.24m.
- Thực nghiệm trên vùng không có điểm KC có độ cao trung bình 50m.
Sai số TPTB vị trí điểm: M
xy
=
4.02m.
Nhận xét:
Khi tăng dày khống chế trên ảnh đơn khu vực địa hình tương đối bằng phẳng
không phức tạp trong trường hợp không có điều kiện phân bố đều các điểm khống
chế ảnh, bị khuyết một góc như 2 trường hợp ở trên, qua kết quả thực nghiệm dựa
vào sai số mô hình (mặt phẳng
5.4m; độ cao
4.2m) và sai số trung phương
trung bình vị trí điểm của các điểm đo bằng công nghệ GPS sau bình sai (M
xy
4.02m) có thể kết luận chỉ đảm bảo độ chính xác cho thành lập bình đồ ảnh vệ
tinh tỷ lệ 1/25 000.
Thực nghiệm nắn ảnh SPOT5 Pan theo khối ảnh có góc nghiêng chụp ảnh lớn với
số lượng điểm KC khác nhau
Vị trí địa lý:
Khu vực thực nghiệm có phạm vi từ 20
0
00’ đến 21
0
20’ vĩ độ Bắc, từ 105
0
30’ đến 106
0
45’ kinh độ Đông.
Đánh giá tư liệu:
- Điểm khống chế: Số lượng điểm KC trong thực nghiệm là 46 điểm. Các
điểm KC đo bằng phương pháp GPS. Tọa độ và độ cao được tính toán trong hệ tọa
độ VN2000. Độ chính xác đo KC về mặt phẳng
0.2m và về độ cao
0.4m.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét