5
Các đường LD, LF, AJ tương ứng cho biết nhu cầu về lao động, quy mô các lực lượng
lao động và số lượng công nhân sẵn sàng chấp nhận việc làm tại mỗi mức lương thực tế
nào đó. Hình 1 thể hiện trường hợp thất nghiệp theo quan điểm Keynes – thất nghiệp do
thiếu cầu lao động. Khi cầu lao động giảm, đường cầu lao động giảm từ LD xuống LD’,
tiền lương trong dài hạn sẽ giảm từ w* xuống còn w** để phục hồi lại trạng thái cân bằng
tại G.
Keynes còn chỉ ra rằng nếu không có biện pháp hạn chế thất nghiệp nhanh chóng sẽ đẩy
nền kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp dẫn đến cắt giảm thu nhập làm giảm tiêu
dùng, các doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất làm tăng thất nghiệp, và cứ tiếp tục. Thất
nghiệp theo Keynes phản ánh tình trạng dư thừa nguồn lực và lãng phí sản xuất. Bằng
cách kích cầu lao động, có thể huy động nguồn lực nhàn rỗi này và tăng sản lượng, việc
làm.
Thứ hai, hiệu ứng số nhân trong nền kinh tế mở:
Trong nền kinh tế mở (có ngoại thương) và có chính phủ, điều kiện cân bằng đối với thị
trường hàng hóa là:
Y=AD= C + I + G + X – M (1)
Trong đó:
C: chi tiêu dùng
I: chi đầu tư
G: chi tiêu của chính phủ
X: xuất khẩu
M: nhập khẩu
Từ (1) ta có thể thấy khi C, I, G, (X-M) thay đổi bao nhiêu thì tổng cầu cũng thay đổi bấy
nhiêu. Giảm chi tiêu tiêu dùng hay chi đầu tư đều có tác dụng làm giảm tổng cầu.
Số nhân nền kinh tế mở sẽ là 1/[1 – (MPC’ – MPM) – MPX] (2), trong đó MPC’ =
MPC.(1- t). MPC là khuynh hướng tiêu dùng biên, MPC’ là khuynh hướng tiêu dùng biên
từ khoản thu nhập đã trừ thuế ròng, MPM là khuynh hướng nhập khẩu biên, MPX là
khuynh hướng xuất khẩu biên.
Hiệu ứng số nhân của Keynes có ý nghĩa hết sức quan trọng, từ phương trình (2) ta có
thể thấy số nhân nhỏ hơn vì rò rỉ ở tiết kiệm, thuế và nhập khẩu. Tiết kiệm trong khủng
hoảng lại có tác động tiêu cực làm giảm thu nhập, tiết kiệm và đầu tư thực có sẽ giảm đi
khi cố tiết kiệm nhiều hơn. Đây gọi là nghịch lí của tiết kiệm. Tiêu dùng đóng vai trò quan
trọng trong việc tăng số nhân nhờ đó gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, khuynh hướng tiêu
dùng biên càng cao số nhân càng lớn.
6
Theo Adam Smith “bàn tay vô hình” sẽ dẫn dắt thị trường hướng tới hiệu quả khi vấn đề
thông tin bất cân xứng được giải quyết. Nhưng thị trường tài chính là thị trường thông tin
không đầy đủ, và tư nhân không có khả năng làm cân bằng thông tin, mặt khác cơ chế pháp
lí không theo kịp với những hoạt động trên thị trường chính vì thế nhà nước phải đóng vai
trò tháo gỡ những vướng mắc đó. Cuộc khủng hoảng ở Mỹ 2008 là một minh chứng rõ
ràng, với việc khuyến khích phát triển các loại chứng khoán phái sinh chính phủ Mỹ đã
quên đi vai trò giám sát của mình. Bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận hoàn toàn cơ chế
tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trường tự do nhưng tổn thất mà các cuộc khủng hoảng gây
ra là quá lớn và thời gian chờ đợi nền kinh tế tự hồi phục là rất lâu, sẽ là quá muộn bởi theo
Keynes “chúng ta rồi ai cũng sẽ chết”.
1.2 Mô hình IS-LM
2
Thị trường hàng hóa cân bằng khi tổng cầu bằng thu nhập thực tế. Do đó tổ hợp lãi suất
và thu nhập tương ứng với cân bằng ngắn hạn trên thị trường hàng hóa được gọi là IS.
Hình 2 Đường IS
Lãi suất thấp hơn làm tăng tổng cầu và sản lượng. Độ dốc đường IS cho thấy độ nhạy
cảm của tổng cầu đối với lãi suất.
Các nhân tố khác như chi tiêu của chính phủ, thu nhập dự kiến trong tương lai, bằng
cách tăng tổng cầu ở mỗi mức lãi suất làm dịch chuyển đường IS lên trên.
2
David Begg, 2007, Kinh tế học, NXB Thống kê.
i
0
i
1
E
0
E
1
Lãi suất
Thu nhập
Y
1
Y
0
IS
7
Hình 3 Đường LM
Đường LM minh họa các tổ hợp lãi suất và thu nhập dẫn đến cân bằng trên thị trường
tiền tệ khi ngân hàng trung ương theo đuổi một mục tiêu nhất định về cung tiền danh
nghĩa.
Lượng cầu về tiền tăng lên khi sản lượng tăng nhưng giảm đi khi lãi suất tăng. Khi sản
lượng tăng, lãi suất tăng để duy trì cân bằng thị trường tiền tệ. Cầu tiền càng nhạy cảm với
thu nhập và sản lượng thì lãi suất càng phải thay đổi nhiều để duy trì cân bằng trên thị
trường tiền tệ và do đó đường LM càng dốc hơn. Khi di chuyển dọc đường LM, lãi suất
cao hơn đòi hỏi thu nhập phải tăng lên để giữ cho cầu tiền thực tế bằng với cung ứng tiền
tệ cố định. Mục tiêu cung ứng tiền tệ cao hơn (thấp hơn) làm dịch chuyển đường LM sang
phải (trái).
1.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tổng cầu
Với mục tiêu lạm phát, ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suất để cho lạm phát gần
với tỉ lệ lạm phát mục tiêu.
i
1
i
0
LM
Y
0
Y
1
Thu nhập
Lãi suất
E
0
E
1
8
Hình 3 Lãi suất và mục tiêu lạm phát
Khi lạm phát cao ngân hàng trung ương đảm bảo rằng lãi suất thực tế cao để làm giảm
tổng cầu và tạo sức ép cho lạm phát phải giảm xuống. Di chuyển dọc đường ii, ngân hàng
trung ương điều chỉnh lãi suất tương ứng với lạm phát theo chính sách tiền tệ đã định
trước. Nếu thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng đường ii dịch chuyển xuống dưới và lãi
suất thấp hơn tại mỗi mức lạm phát. Nếu thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt đường ii
dịch chuyển lên trên và lãi suất thị trường cao hơn tại mỗi mức lạm phát.
Hình 4 Đường cầu kinh tế vĩ mô
i
i
Lãi suất thực tế
i
*
I
*
MDS
Lạm phát
Sản lượng
Tỉ lệ lạm phát
9
Đường cầu kinh tế vĩ mô MDS cho thấy lạm phát cao hơn dẫn đến sản lượng thấp hơn
do ngân hàng trung ương tăng lãi suất và ngược lại. Đường MDS dịch chuyển lên trên nếu
chính sách tài khóa lỏng, xuất khẩu ròng hay chính sách tiền tệ lỏng.
II. Bàn về giải pháp kích cầu và kinh nghiệm của một nước trên thế
giới.
2.1 Tại sao phải kích cầu?
Theo Keynes khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ việc sản xuất dư thừa, lãng phí nguồn tài
nguyên và lao động. Tức là có sự thiếu hụt tổng cầu so với tổng cung. Vậy để đưa nền kinh
tế trở lại ổn định cần phải kích cầu bao gồm kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng. Trong
khi nền kinh tế đang khủng hoảng thì chỉ có nhà nước là có khả năng đẩy mạnh chi tiêu bởi
vì các doanh nghiệp và hộ gia đình trong thời kì này thường có xu hướng tiết kiệm không
muốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng sinh lợi cao. Vì vậy vai trò điều tiết của nhà
nước trong trường hợp này là cực kì quan trọng. Mức độ can thiệp của nhà nước phải tùy
thuộc vào tình hình của mỗi quốc gia, việc can thiệp quá mức của nhà nước có thể dẫn đến
lạm phát cao hơn.
Keynes gợi ý 4 nhóm chính sách chống khủng hoảng như sau:
- Đảm bảo đầu tư nhà nước và kích thích đầu tư tư nhân.
- Sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để điều tiết nền kinh tế.
Nhà nước có thể dùng các công cụ như lãi suất, thuế, đầu tư nhà nước để kiểm soát
lạm phát mục tiêu, khuyến khích đầu tư tư nhân,…
- Tạo việc làm để người dân có thêm thu nhập, nhờ đó tăng tổng cầu của nền kinh tế.
- Kích thích tiêu dùng để tăng tổng chi tiêu.
2.2 Kích cầu khi nào?
- Nền kinh tế dư thừa hàng hóa, năng lực sản xuất vượt quá yêu cầu của thị trường.
Nguyên lý “cầu hữu hiệu” của Keynes khẳng định rằng, lượng cung hàng hóa là do
lượng cầu quyết định. Do đó, vào những thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng tổng cầu thì
sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, nhờ đó giúp cho nền kinh tế ra khỏi thời kỳ suy thoái.
Hàm tổng cầu của Keynes có thể chia thành cầu tiêu dùng và cầu đầu tư, vì vậy kích cầu
chính là kích cầu tiêu dùng và đầu tư.
- Nền kinh tế không còn khả năng kích thích qua chính sách tiền tệ nới lỏng.
Chính sách tiền tệ nới lỏng là công cụ đầu tiên mà chính phủ các quốc gia thực hiện
nhằm đưa một lượng vốn lớn vào thị trường nhằm thúc đẩy kinh tế đi lên. Tuy nhiên chính
10
sách nới lỏng tiền tệ có thể không đủ sức kéo tổng cầu lên, ví dụ nếu việc giảm lãi suất là
liên tục và xuống thấp quá mức thì, theo thuyết ưa chuộng tính thanh khoản, mọi người sẽ
giữ tiền mặt chứ không gửi vào ngân hàng hay mua chứng khoán. Hậu quả là đầu tư tư
nhân khó có thể được thúc đẩy vì ngân hàng không huy động được tiền gửi thì cũng không
thể cho xí nghiệp vay và chứng khoán không bán được thì xí nghiệp cũng không huy động
được vốn. Chính sách tiền tệ trở nên bất lực trong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là
bất lực trong kích thích tổng cầu.
3
Tình trạng này được gọi là bẫy thanh khoản.
2.3 Các điều kiện cần phải bảo đảm khi kích cầu
- Nhanh chóng, kịp thời
Tổng cung suy giảm kéo theo một vòng xoáy không thoát ra được làm mức độ trầm
trọng của nền kinh tế càng lúc càng tăng lên, chính vì vậy các chính sách kích cầu của
chính phủ phải được thực hiện nhanh chóng nhằm giảm bớt thiệt hại một cách tốt nhất.
- Đúng đối tượng
Để kích cầu được hiệu quả thì gói kích cầu phải tìm đến những đối tượng mà gói kích
cầu có tác dụng nhanh chóng, chi tiêu và đầu tư nhanh chóng đưa tổng cầu đi lên. Từ
phương trình (2) cho ta thấy khuynh hướng tiêu dùng biên càng lớn thì số nhân càng lớn.
vậy để đạt được hiệu quả cao nhất gói kích cầu phải hướng đến đối tượng là những người
có thu nhập thấp vì những người này có khuynh hướng tiêu dùng biên cao, một đồng chi
tiêu tăng thêm của họ có ý nghĩa hơn một đồng tăng thêm của người có thu nhập cao.
“Trong tình trạng xuất khẩu tụt giảm, chính sách kích cầu thông dụng bơm tiền vào đầu
tư công qua các tổng công ty nhà nước sẽ đem lại hiệu quả kém do hệ số ICOR của nền
kinh tế đã quá lớn và mỗi đồng chi tiêu sẽ chỉ có tác động lan tỏa yếu do thất thoát đáng kể
vào dòng nhập khẩu, vốn là đặc điểm của cấu trúc hiện có của kinh tế Việt Nam. Ngược
lại, mỗi đồng chi tiêu vào khu vực nông nghiệp hay giới công nhân sẽ có tác động lan tỏa
cao qua tác động kích cầu lớn hơn với các hàng sản xuất nội địa”
4
.
- Chỉ kích cầu trong ngắn hạn
Kéo dài kích cầu có khả năng làm giảm hiệu quả kích cầu, các dòng vốn kích cầu có thể
không được sử dụng đúng mục đích làm chệch khỏi mục tiêu ban đầu. Kích cầu trong dài
hạn khiến các doanh nghiệp không đẩy mạnh sản xuất.
Tăng trưởng chi tiêu và đầu tư trong ngắn hạn sẽ có tác dụng làm tăng tổng cầu nhưng
trong dài hạn có thể gia tăng lạm phát, mất cân đối vĩ mô dẫn đến tăng trưởng kinh tế
không tăng hoặc có thể giảm.
3
Nguồn Wikipedia tiếng Việt.
4
Trích “Từ lạm phát đến kích cầu”, Phạm Đỗ Chí, NXB Trẻ, 2009
11
Theo Keynes chính phủ có thể chấp nhận thâm hụt ngân sách để thúc đẩy sản xuất đi lên
trong thời kì khủng hoảng nhưng phải được bù lại trong thời kì kinh tế phát triển. Tuy vậy
kéo dài chính sách kích cầu có thể gây ra thâm hụt lớn trong ngân sách dẫn đến giảm giá trị
đồng nội tệ khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, cấn cân thương mại bị thâm hụt.
- Kiểm soát được các ảnh hưởng tiêu cực của kích cầu:
Kích cầu có thể hiểu là việc cung ứng tiền tệ dễ dàng hơn đến các chủ thể trong nền kinh
tế, và người gánh chịu thiệt hại chính là chính phủ, gây tổn hại cơ chế phân bổ nguồn lực
của thị trường. Để kích cầu chính phủ phải chấp nhận rủi ro lạm phát, đôi khi phải hy sinh
một trong hai mục tiêu này. Vì vậy chính phủ phải kiểm soát được các gánh nặng nợ của
mình trong ngắn hạn và dài hạn, phải giữ vững tốt nhất các chỉ số cơ bản của nền kinh tế
như lạm phát, lãi suất, tỉ giá. Ví dụ việc in tiền để tài trợ cho gói kích cầu hay việc đầu tư
không hiệu quả vào các dự án có thể làm tăng lạm phát.
Công tác thực hiện cũng không kém phần quan trọng so với giá trị gói kích cầu và đối
tượng nhắm đến. Trong trường hợp nguồn tiền kích cầu có thể quay ngược lại đầu tư vào
các chứng khoán, ngoại tệ hoặc bất động sản làm nguy cơ bong bóng bùng nổ tăng lên,
kích cầu sẽ trở lên phản tác dụng.
Ngoài ra chính phủ không được lạm dụng công cụ kích cầu như một giải pháp duy nhất
cho bài toán khủng hoảng mà phải kết hợp hài hòa chính sách tiền tệ và tài khóa.
- Không gây ra hiệu ứng chèn lấn khu vực tư
Theo phương trình (1) chi tiêu của chính phủ mở rộng lãi suất sẽ bị đẩy lên và triệt tiêu
những cố gắng nới lỏng tiền tệ cho cá nhân và doanh nghiệp, làm giảm chi tiêu và đầu tư
của dân chúng và doanh nghiệp.
2.4 Gói kích cầu của một số nước trên thế giới.
2.4.1 Tại Mỹ
Từ 2008 đến nay Mỹ đã đưa ra hai gói kích cầu, một dưới thời chính quyền Bush và một
do chính quyền tổng thống Obama thực hiện. Gói kích cầu thứ nhất (2/2008) dựa trên
những dấu hiệu suy thoái từ cuối 2007 với trị giá 152 tỉ đôla bao gồm các biện pháp giảm
thuế, trợ cấp, ưu đãi đối với doanh nghiệp.
Gói kích cầu thứ hai (2009) được đưa ra nhằm đưa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng với
trị gá 787 tỉ đôla: hỗ trợ doanh nghiệp để tạo thêm khoảng 2,5 triệu việc làm, hỗ trợ 3000
USD đối với mỗi lao động thuê mới, đầu tư công cộng đặc biệt là vào y tế, công nghiệp
12
năng lượng sạch, hỗ trợ khó khăn và lập quỹ chống khủng hoảng tài chính
5
. Gói kích cầu
của Mỹ được đánh giá chủ yếu làm tăng tính thanh khoản của thị trường (tỉ trọng đổ dồn
vào các công ty, doanh nghiệp lớn đang khó khăn khá lớn).
2.4.2 Tại Châu Âu
Do sự không thống nhất trong chính sách chung của khu vực kinh tế này nên chính sách
kích cầu được đưa ra khá chậm. Liên minh châu Âu vào tháng 11 năm 2008 đã thông qua
chương trình lên tới 200 tỷ euro, kế hoạch cụ thể sẽ do mỗi quốc gia tự phát triển. Ủy ban
châu Âu khuyến khích các nước thành viên nên chi cho các gói kích cầu số tiền ít nhất là
1,2% GDP.
2.4.3 Nhật Bản
Tính tới nay Nhật Bản đã đưa ra tất cả 3 gói kích cầu, gói thứ nhất 8/2008 trị giá khoảng
23 tỉ đôla, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
6
, gói thứ nhất này bị coi là thất bại vì thất bại
trong việc để tỉ lệ thất nghiệp lên cao nhất trong vòng sáu năm và giảm sút lớn nhất ở thị
trường bán lẻ từ 1992; gói thứ hai 12/2008 trị giá 168 tỉ đôla tương đương khoảng 1,2%
GDP đưa ra nhằm bơm tiền vào thị trường tài chính , miễn thuế, hỗ trợ doanh nghiệp vừa
và nhỏ
7
; gói kích cầu thứ ba trị giá khoảng 154 tỉ đôla được dự tính dùng cho đầu tư vào
các lĩnh vực như việc làm hay hỗ trợ mua xe ô tô mới
8
.
2.4.4 Trung Quốc
Tháng 11 năm 2008, Trung Quốc thông qua gói kích cầu trị giá 4.000 tỷ nhân dân tệ,
tương đương 586 tỷ đôla Mỹ thực hiện trong vòng 2 năm (mỗi năm khoảng 8% GDP) bao
gồm hỗ trợ nông dân, cải thiện phúc lợi xã hội, trợ cấp tái thiết vùng động đất Tứ Xuyên,
phát triển công nghệ, thúc đẩy công nghiệp năng lượng sạch - ngành công nghiệp mới thu
hút nhiều lao động, tăng hoàn thuế xuất khẩu đối với các mặt
hàng sử dụng nhiều lao động, và tăng cường cho vay
9
.
2.4.5 Thái Lan
Chính phủ Thái Lan 1/2009 đã đưa ra gói kích cầu trị giá 3.28 tỉ đôla nhằm giữ cho nền
kinh tế sôi động trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu, bao gồm chi cho người có thu
5
Thông tin về việc thực hiện gói kích thích kinh tế thứ hai của Mỹ được công bố trên trang
www.recovery.gov
6
Nguồn http://www.finance30.com/forum/topics/the-credit-crisis-timeline
7
Nguồn http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601087&sid=aEyM5uJo19ZA
8
Nguồn
http://www.dailyfx.com/story/special_report/special_reports/Japan_Announces_15_Trillion_Yen_12395977
07016.html
9
http://www.economist.com/blogs/theworldin2009/2008/11/chinas_stimulus_package
13
nhập thấp, trợ cấp thất nghiệp, chăm sóc y tế, phát triển du lịch, chương trình miễn phí 15
năm học cho khoảng 10 triệu học sinh sinh viên, hỗ trợ nông dân do giá giảm
10
.
2.5 Việt Nam kích cầu là đúng hay sai?
Kích cầu đã trở thành một trào lưu của các nước trong cố gắng hạn chế thiệt hại do cuộc
khủng hoảng đem lại và vực dậy nền kinh tế. Nhìn chung gói kích ……
Kích cầu thực sự không hề dễ dàng đặc biệt là khâu thực hiện và những hệ lụy mà khi
thực hiện chính phủ phải chấp nhận. Dự án đường cao tốc Big Dig ở Boston đã phải mất
hơn 20 năm mới hoàn thành, vượt dự toán 5 lần. Nhật cũng đã lãng phí tiền đầu tư vào các
sân bay ít dùng, cầu đường dẫn đến các đảo ít người.Vậy câu hỏi là liệu nguy cơ khủng
hoảng có đến với Việt Nam hay không và Việt Nam có nên kích cầu hay không? Dưới đây
là so sánh tình hình kinh tế Thái Lan giai đoạn 1996-1997 và Việt Nam 2006-2008 nhằm
làm rõ những nguy cơ mà Việt Nam phải đối mặt.
Năm 2008 nền kinh tế Việt Nam có nhiều dấu hiệu đi xuống: lạm phát tăng cao, thâm hụt
thương mại lớn, thị trường bất động sản trấm lắng, thị trường chứng khoán tăng trưởng
bong bóng và sau đó gần như sụp đổ. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm nổi lên
những khiếm khuyết của một thị trường tài chính mới nổi như Việt Nam, hệ quả từ nhiều
năm sai sót trong cơ cấu, quản lí, chính sách và điều hành kinh tế.
Các chỉ số
Thái Lan Việt Nam
1996 1997 2007 2008
GDP (triệu đô la)
181948
150891 68624,85 90644,97
Tăng trưởng GDP (%) 5,9 -1,37 8,46 6,18
Lạm phát (%) 4 4,06 8,24 21,69
Vay ODA (%GNI) 0,4637 0,4239 3,7721 2,9112
Bảng 1 Thái Lan và Việt Nam – World Bank
Việt Nam 2006-2008 có những điểm tương đồng khá rõ nét, có lẽ bởi vì Việt Nam đang
bước vào giai đoạn phát triển của Thái lan một thập kỉ trước:
- Tăng trưởng kinh tế nóng không đi kèm với quản lí.
10
Nguồn Fiscal Stimulus Package, Ministry of Finance, Kingdom of Thailand và
http://www.straitstimes.com/Breaking%2BNews/SE%2BAsia/Story/STIStory_325584.html
14
Tốc độ phát triển cao, lãi suất hấp dẫn, cơ chế quản lí rộng mở là các lí do thu hút đông
các nhà đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng nhanh ở Việt Nam và Thái Lan phần lớn phụ
thuộc vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư của Thái Lan chiếm bình quân 40% GDP,
còn ở Việt Nam là trên 40%.
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
2009 (sơ
bộ)
Tỉ lệ vốn đầu tư
trên GDP
0.47 0.5 0.52 0.54 0.57 0.67 0.68 0.72
Tốc độ tăng
trưởng GDP
7.08% 7.34% 7.79% 8.44% 8.23% 8.46% 6.31% 5.32%
Bảng 2 Tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP và tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam 2002-2009
11
Tỉ lệ vốn đầu tư/GDP trên 40% cho thấy tăng trưởng dựa vào vốn là chủ yếu chứ chưa
quan tâm đến tốc độ tăng trưởng, đặc biệt trong trường hợp Việt Nam đang cần phải
khuyến khích đầu tư những ngành nghề sử dụng nhiều lao động hơn vốn.
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
3.3 3.4 4.2 5.6 6.9 4.9 5 4.4 4.5 4.9 5.5 6
Bảng 3 ICOR Việt Nam 1995-2006
12
.
Hệ số ICOR của Việt Nam hiện nay thuộc dạng cao nhất khu vực nguyên nhân chính bởi
vì trong các năm qua nguồn vốn được chính phủ rót vào các doanh nghiệp nhà nước vốn đã
có hiệu quả sử dụng vốn thấp (ICOR của doanh nghiệp tư nhân là 3-4, của các công ty nhà
nước là 6-7 và trong thời kì suy giảm kinh tế như hiện nay ICOR có thể còn cao hơn)
13
.
Theo số liệu thống kê chính thức đầu tư công chiếm khoảng 18% GDP, 45% tổng đầu tư
toàn xã hội. Trên thực tế con số này còn có thể cao hơn do vai trò quan trọng của Nhà nước
trong nhiều công ty cổ phần.
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
- 0.5% - 0.3% 2.9% 3.0% 2.7% 5.3% 4.%
8,24% 21,69%
Bảng 4 Số liệu lạm phát Việt Nam – Nguồn: Vietnam Economic Indicators
11
Nguồn http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/35124/
12
Nguồn: Vương Quân Hoàng, 2007, Văn minh làm giàu và nguồn gốc của cải. NXB Chính trị Quốc gia.
13
PGS.TS Trần Chí Thiện, 2009, Ngăn chặn suy giảm kinh tế - Từ lí thuyết đến thực tiễn Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét