Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
Bất kì một nền kinh tế nào cũng cần phải có các tổ chức đứng ra làm
trung gian trong việc điều tiết các nguồn tiền để đáp ứng các nhu cầu liên
quan đến tài chính tiền tệ. Ngày nay không chỉ có các ngân hàng thơng mại
đảm nhận việc đó, mà còn có các tổ chức trung gian tài chính khác, với khả
năng tài chính mạnh mẽ cũng tiến hành tham gia cung cấp vốn và các dịch vụ
khác liên quan tới lĩnh vực tài chính tiền tệ.
a- Ngân hàng thơng mại chia theo hình thức sở hữu
Ngân hàng thơng mại Quốc doanh, là loại hình ngân hàng mà sở hữu
thuộc về Nhà nớc, do Nhà Nớc cấp ngân sách thành lậpvà trực tiếp quản lý,
điều hành. Nhà nớc sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm liên quan tới nợ và các nghĩa
vụ về tài sản khác liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Thơng mại. Thông
thờng nhà nớc (Trung ơng, hoặc Tỉnh) sẽ hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh phát
hành giấy tờ có giá cho nên ít khi các ngân hàng này bị phá sản. Tuy nhiên
trong một số trờng hợp do hoạt động theo sự chỉ đạo từ Nhà Nớc cho nên sẽ
ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại cổ phần, đây là loại hình ngân hàng đợc thành
lập trên cơ sở góp vốn của các cổ đông, sự góp vốn có thể bằng hoặc không
bằng nhau giữa các Cổ đông tuỳ theo thoả thuận và khả năng của các cổ
đông. Theo quy định thì các cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn về
nghĩa vụ nợ và trách nhiệm tài sản khác tuỳ theo mức tỷ lệ cổ phần mà mình
sở hữu. Do vốn hình thành theo hình thức tập trung cho nên các ngân hàng
thơng mại cổ phần có khả năng mở rộng quy mô và tăng nguồn vốn nhanh,
do vậy đây thờng là các ngân hàng lớn. Phạm vi hoạt động rất rộng, hình thức
hoạt động đa năng, có nhiều Chi nhánh hoặc công ty con. Nhng nó thờng
chịu mức rủi ro cao từ cơ chế quản lý phân quyền. (Giữa Tổng giám đốc và
các giám đốc; giữa công ty mẹ và công ty con ).
Ngân hàng Thơng mại Liên doanh, là loại hình ngân hàng thành lập
trên cơ sở sự hợp tác hoặc góp vốn của bên hoặc các bên của ngân hàng nớc
này với bên hoặc các bên của ngân hàng quốc gia (có thể một hoặc nhiều
Sv Nông Văn Thực
Trang 5
Lớp Ngân hàng 42A
Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
Quốc gia cùng góp vốn) khác, để tận dụng u thế của nhau. Tuỳ theo thoả
thuận và hiệp định ký kết giữa các bên.
Ngân hàng sở hữu t nhân, là ngân hàng do cá nhân thành lập bằng vốn
của mình. Loại ngân hàng này thờng có quy mô nhỏ, phạm vi hoạt động
trong từng địa phơng. Các ngân hàng này thờng gắn liền với hoạt động của
các doanh nghiệp và cá nhân địa phơng. Chủ ngân hàng thờng rất am hiểu
khách hàng, vì vậy hạn chế đợc rủi ro. Tuy nhiên vì quy mô và phạm vi nhỏ
nên nó thờng không đa dạng trong hoạt động, nên dễ dàng gặp tổn thất khi
mà địa phơng đó gặp rủi ro.
b. Ngân hàng thơng mại theo tính chất hoạt động
Ngân hàng chuyên doanh và đa năng, ngân hàng hoạt động theo hớng
chuyên doanh là ngân hàng chỉ cung cấp một số dịch vụ hạn chế tuỳ thuộc
vào thế mạnh, cũng nh điều kiện mà ngân hàng có thể hoạt động Tính
chuyên môn hoá cao cho phép các ngân hàng có đợc đội ngũ cán bộ giàu
kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ. Tuy nhiên loại hình ngân hàng này thờng
gặp rủi ro lớn, khi mà ngành hoặc lĩnh vực mà mình hoạt động bị xa sút.
Ngân hàng chuyên doanh thờng là ngân hàng có quy mô nhỏ, phạm vi hoạt
động hẹp, trình độ cán bộ do tập trung chuyên sâu nên không đa dạng; hoặc
là ngân hàng sở hữu của công ty. Thứ hai, ngân hàng hoạt động theo hớng
đa năng là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng cho mọi đối tợng.
Đây là xu hớng chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thơng mại, nhất là ngân
hàng thơng mại lớn. Các ngân hàng này thờng là ngân hàng lớn (hoặc chủ sử
hữu công ty lớn). Tính đa dạng sẽ giúp ngân hàng trong việc tăng thu nhập và
hạn chế rủi ro.
Ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ, ngân hàng bán buôn là
ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho các ngân hàng khác, các công ty tài
chính, cho nhà nớc, cho các doanh nghiệp quy mô lớn. Ngân hàng bán buôn
thờng là ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung
cấp các khoản tín dụng lớn. Ngân hàng bán lẻ thờng là các ngân hàng cung
cấp dịch vụ trực tiếp cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân, với
Sv Nông Văn Thực
Trang 6
Lớp Ngân hàng 42A
Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
các khoản tín dụng nhỏ lẻ. Ngày nay xu hớng của các ngân hàng thơng mại ít
ngân hàng chỉ bán lẻ hay chỉ bán buôn. Các ngân hàng nhỏ thờng bán lẻ, còn
ngân hàng lớn vừa bán buôn, vừa bán lẻ.
Tóm lại, có thể thấy các Ngân hàng Thơng mại ngoài hoạt động chính
là nhận tiền gửi, phân phối lại nguồn vốn phục vụ nhu cầu của nền kinh tế.
Thì nó còn có chức năng quan trọng là chức năng tạo tiền và cung cấp các
dịch vụ nhất liên quan tới lĩnh vực tiền tệ mà các trung gian tài chính khác
không thể thực hiện đợc. Đồng thời nó cũng trực tiếp thực hiện sách tiền tệ
quốc gia, theo quy định của Ngân hàng nhà nớc.
c. Các trung gian tài chính
Mặc dù không phải là ngân hàng thơng mại nhng các trung gian tài
chính này với tiềm lực tài chính lớn mạnh trong tay, họ cung cấp nhiều loại
hình dịch vụ, và hoạt động tơng tự ngân hàng thơng mại. Một số trung gian
tài chính chủ yếu hiện nay gồm;
Công ty Tài chính, Có thể là các công ty quốc doanh, công ty cổ phần,
với hoạt động chủ yếu cho vay để mua bán hàng hoá, dịch vụ bằng nguồn
vốn của mình. Nhận tiền gửi, phát hàng trái phiếu, tín phiếu, hoặc vay của
các tổ chức tín dụng trong và ngoài nớc.
Công ty Cho thuê Tài chính (Cho thuê tài sản), là công ty cung cấp
tín dụng trung và dài hạn, thông qua các hợp động cho thuê tài sản với khách
hàng thuê. Khi kết thúc thời hợp đồng thuê, khách hàng đợc mua lại với giá u
đãi (theo hợp đồng thuê mua), hoặc cũng có thể tiếp tục thuê tài sản đó theo
điều kiện đã thoả thuận và điều kiện gia hạn (nếu cần thiết).
Công ty Bảo hiểm, với tiềm lực về tài chính trong tay, ngày nay các
công ty Bảo Hiểm cũng hoạt động nh một trung gian tài chính (một tổ chức
tín dụng) đứng ra huy động tiền của những ngời mua bảo hiểm (tiền đóng phí
của khách hàng) trên mọi lĩnh vực khác nhau, với lời hứa sẽ bù đắp thiệt hại
cho những ngời tham gia khi họ gặp rủi ro, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, và
loại hình bảo hiểm mà khách hàng tham gia. Nh vậy công ty Bảo hiểm sẽ có
Sv Nông Văn Thực
Trang 7
Lớp Ngân hàng 42A
Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
lợng tiền tạm thời nhàn rỗi rất lớn có thể tiến hành hoạt động nh một trung
gian tài chính.
So với các ngân hàng thơng mại thì các trung gian tài chính ngoài
những nghiệp vụ mà nó hoạt động giống nh một ngân hàng thơng mại, thì nó
có điểm khác biệt ở chỗ, nó không có chức năng tạo tiền cho nền kinh tế,
không nhận tiền gửi không kỳ hạn, không cung cấp dịch vụ thanh toán và
nhìn chung nó ít chịu sự ảnh hởng hay phải thực hiện chính sách tiền tệ quốc
gia theo quy định của Ngân hàng Nhà Nớc, hay của Chính phủ. Đó chính là
sự khác biệt cơ bản của các tài chính trung gian tài chính so với các ngân
hàng thơng mại.
1.1.2. Các hoạt động của ngân hàng thơng mại
Cùng với chiều dài lịch sử hình thành ngân hàng thơng mại ngày nay
khác xa so với ngân hàng thơng mại thủa sơ khai, do nhu cầu kinh doanh và
sự cạnh tranh quyết liệt mà hệ thống ngân hàng thơng mại đã mở rộng rất
nhiều loại hình dịch vụ tiện ích cung cấp cho khách hàng, mặc dù mộ số
nghiệp vụ truyền thống vẫn không thể tách rời so với hoạt động của ngân
hàng, sau đây chúng ta cùng tìm hiểu một số loại hình dịch vụ mà ngân hàng
cung cấp cho nền kinh tế.
1.1.2.1. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thơng mại
Mua bán trao đổi ngoại tệ
Lịch sử cho thấy một trong những dịch vụ đầu tiên của ngân hàng là
dịch vụ đợc thực hiện là trao đổi ngoại tệ, theo đó ngân hàng sẽ đứng ra mua
một loại tiền tệ này đổi lấy một loại tiền tệ khác, để hởng phí dịch vụ và hởn
chênh lệch giá. Điều này rất quan trọng đối với khách du lịch quốc tế khi di
du lịch tại nớc sở tại, đồng thời hiện nay các ngân hàng thơng mại còn thực
hiện việc huy động vốn, cho vay bằng ngoại tệ và quan trọng hơn nữa là việc
thanh toán cho lĩnh vực Xuất, nhập khẩu hàng hoá cùng các hoạt động khác
liên quan đến hoạt động thơng mại Quốc tế.
Nhận tiền gửi
Sv Nông Văn Thực
Trang 8
Lớp Ngân hàng 42A
Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
Nh phần trên đã trình bày, để có vốn để tiến hành hoạt động kinh
doanh thì các ngân hàng thơng mại phải tiến hành huy động từ các thành
phần trong nền kinh tế. Ngân hàng sẽ tiếp nhận tất cả các nguồn tiền gửi của
dân c, của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
nghề nghiệp với mức lãi suất phù hợp đợc công bố. Hiện nay khi khách hàng
tới gửi tiền thì Ngân hàng sẻ mở một tài khoản giúp khách hàng thuận tiện
trong giao dịch và kiểm tra.
Cho vay
Cho vay là hoạt động đem lại thu nhập chủ yếu đối với các Nớc đang
phát triển (còn ở các Nớc phát triển thì thu nhập chủ yếu lại là thu từ phí hoạt
động dịch vụ), hiện nay có một số loại hình cho vay nh sau:
- Cho vay Thơng mại và chiết khấu thơng phiếu
Nghiệp vụ này suất hiện ngay từ thời kỳ đầu thành lập ngân hàng, các
ngân hàng sẽ chiết khấu thơng phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh
nghiệp địa phơng, những ngời bán các khoản nợ (khoản phải thu) của các
khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bớc chuyển tiếp từ chiết
khấu sang cho vay trực tiếp đối với khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng
hoá dự trữ hoặc xây dựng văn phòng và mua sắm trang thiết bị sản xuất.
- Cho vay tiêu dùng
Trong lịch sử hình thành và phát triển thì hầu hết các ngân hàng thơng
mại không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng
các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ song lại có độ rủi
ro vỡ nợ tơng đối cao và do đó chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế
kỷ XX, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi khách hàng để tài
trợ cho những món vay thơng mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh gay gắt trong
việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hớng tới ngời
tiêu dùng nh là một khách hàng trung thành và tiềm năng. Nhiều ngân hàng
thơng mại lớn trên thế giới đã thành lập hẳn phòng tín dụng tiêu dùng lớn
mạnh. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai cho vay tiêu dùng đã trở thành loại
hình tín dụng có mức tăng trởng mạnh nhất. Mặc dù trong thời gian gần đây
Sv Nông Văn Thực
Trang 9
Lớp Ngân hàng 42A
Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
tốc độ có chậm lại do cạnh tranh tín dụng ngày càng lớn trong khi nền kinh
tế đã phát triển với tốc độ chậm lại. Tuy nhiên ngời tiêu dùng vẫn tiếp tục là
nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo ra một nguồn thu quan trọng.
- Cho vay tài trợ và đồng tài trợ dự án
Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ và đồng
tài trợ cho những chi phí xây dựng nhà máy mới, đặc biệt là trong các ngành
công nghệ cao và các dự án có quy mô vốn lớn, thời gian hoạt động lâu dài.
Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao nên chúng thờng đợc
thực hiện qua một hoặc nhiều công ty đầu t, các thành viên của công ty sở
hữu ngân hàng, cùng với việc tham gia của các nhà đầu t khác để chia sẻ rủi
ro. Ngoài ra các ngân hàng còn tiến hành tài trợ cho các chơng trình văn hoá
xã hội, các chơng trình thể thao, các chơng trình phúc lợi xã hội
Bảo quản vật có giá
Đây là nghiệp vụ có từ thời trung cổ khi mà ngân hàng đang còn ở
dạng sơ khai, các ngân hàng bảo quản vật có giá của khách hàng trong các
kho của mình. Một điều hấp dẫn là, các loại giấy tờ có giá này nh giấy chứng
nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về tài sản đang đợc lu
giữ) có thể đợc lu hành nh tiền- đây chính là hình thức đầu tiên của loại hình
thanh toán Séc và Thẻ sau này. Ngày nay nghiệp vụ bảo quản vật có giá th-
ờng do phòng bảo quản của ngân hàng thực hiện.
Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh
toán
Khi các doanh nghiệp gửi tiền và ngân hàng, họ nhận thấy các ngân
hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả thay cho khách
hàng. Thanh toán qua ngân hàng, đã mở đầu cho hình thức thanh toán không
dùng tiền mặt, tức là ngời gửi tiền không phải đến ngân hàng rút tiền sau đó
thực hiện thao tác thanh toán, mà chỉ cần viết lệnh yêu cầu ngân hàng thanh
toán thay cho mình. Hoặc cũng có thể khách hàng mang giấy (Séc, Uỷ nhiệm
chi- UNC, do khách hàng khác ký phát) đến ngân hàng sẽ nhận đợc tiền.
Việc cung cấp dịch vụ thanh toán này đã góp phần quan trọng trong việc tiết
Sv Nông Văn Thực
Trang 10
Lớp Ngân hàng 42A
Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
kiệm thời gian giao dịch cho cả ngân hàng lẫn khách hàng, giảm thiểu chi
phí, đặc biệt là ngân hàng sẽ mở rộng màng lới của mình để đáp ứng nhu cầu
của khách hàng, một cách nhanh chóng và thuận tiện. Từ đó khuyến khích
các doanh nghiệp, các cá nhân gửi tiền vào ngân hàng và sử dụng các dịch vụ
mà ngân hàng cung cấp. Do đó, một dịch vụ mới, quan trọng nhất đợc phát
triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit), giúp cho ngời gửi
tiền viết Séc, uỷ nhiệm chi (UNC) để thanh toán cho việc mua hàng hoá, dịch
vụ. Việc đa ra loại hình dịch vụ này đợc xem nh là một trong những bớc đi
quan trọng nhất trong ngành công nghiệp ngân hàng.
Quản lý ngân quỹ
Với chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp và nhiều cá nhân khác
trong nền kinh tế, các ngân hàng sẽ mở các tài khoản và giữ tiền cho họ. Do
đó mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng ngày càng chặt chẽ. Mặt khác
ngân hàng rất có kinh nghiệm trong việc quản lý ngân quỹ cho nên họ đã
cung cấp dịch vụ quản lý và đồng ý quản lý việc thu chi cho khách hàng nhất
là doanh nghiệp và tiến hành sử dụng phần thặng d tiền mặt tạm thời theo
mục đích của ngân hàng cho đến khi khách hàng có nhu cầu rút tiền hoặc
thanh toán.
Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Đây là một trong nhiều loại hình nghiệp vụ mà ngân hàng áp dụng, bởi
lẽ hoạt động của ngành ngân hàng liên quan trực tiếp tới bức tranh toàn cảnh
về hoạt động của nền kinh tế. Do đó ngay từ khi thành lập các ngân hàng đã
phải chịu sự quản lý và điều tiết trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính phủ.
Thông thơng các ngân hàng phải cam kết mua một lợng trái phiếu Chính phủ
theo một tỷ lệ nhất định trên tổng nguồn tiền mà nó huy động đợc. Các ngân
hàng cam kết cho Chính phủ vay tiền, hoặc tiến hành tài trợ các dự án, chơng
trình của Chính phủ trong những trờng hợp cần thiết.
Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Nhằm để bán các thiết bị, máy móc nhất là các thiết bị có giá trị lớn,
nhiều hãng sản xuất và thơng mại đã cho thuê (thay vì bán) các thiết bị. Khi
Sv Nông Văn Thực
Trang 11
Lớp Ngân hàng 42A
Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
kết thúc hợp đồng thuê, khách hàng có thể tiến hành ra hạn hợp đồng thuê
tiếp, hoặc mua lại (nếu hợp đồng đó là hợp đồng thuê mua). Với tiềm lực tài
chính lớn mạnh của mình các ngân hàng thơng mại cũng tiến hành king
doanh quyền lựa chọn thuê thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng
thuê hoặc thuê mua, trong đó ngân hàng tiến hành mua thiết bị máy móc cho
khách hàng thuê, với các cam kết mà các bên thoả thuận, nhng thông thờng
khách hàng phải cam kết trả 2/3 giá trị tài sản thuê. Nh vậy, về thực chất đây
là một hình thức cho vay của ngân hàng đối với khách hàng, nó thờng đợc
xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
Cung cấp dịch vụ uỷ thác và t vấn
Do hoạt động của ngân hàng chủ yếu trên lĩnh vực tài chính tiền tệ,
nên ngân hàng thờng tập trung các danh mục đầu t cũng nh đội ngũ chuyên
gia. Khi các cá nhân, các tổ chức, các doanh nghiệp có yêu cầu thì ngân hàng
tiến hành t vấn về đầu t, về quản lý tài chính, về thành lập, chia tách doanh
nghiệp, về mua bán chứng khoán. Đồng thời ngân hàng cũng tiến hành quản
lý tài sản hộ khách hàng, và trong nhiều trờng hợp ngân hàng còn cung cấp
các dịch vụ uỷ thác cho khách hàng nh uỷ thác đầu t, uỷ thác phát hành, uỷ
thác cho vay hộ.
Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu t chứng khoán
So yêu cầu của sự cạnh tranh trong nền kinh tế, các ngân hàng thơng
mại ngày càng quan tâm tói việc cung cấp càng nhiều dịch vụ cho khách
hàng càng tốt. Hiện nay hầu hết các ngân hàng thơng mại đều cung cấp dịch
vụ mua bán chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái
phiếu và các chứng khoán khác mà không nhờ tới các nhà kinh doanh chứng
khoán. Nhiều ngân hàng hiện nay đã thành lập hẳn ra các ty chứng khoán,
công ty môi giới chứng khoán.
Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Trong nhiều năm trở lại đây, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho
khách hàng (chủ yếu là bảo hiểm tiền gửi, hoặc bảo hiểm tín dụng), điều này
đảm bảo khả năng hoàn trả của khách hàng cho ngân hàng khi mà không
Sv Nông Văn Thực
Trang 12
Lớp Ngân hàng 42A
Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
may khách hàng gặp rủi ro ảnh hởng tới tình mạng sức khoẻ, hay rủi ro trong
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cung cấp dịch vụ đại lí
Do nhiều yếu tố khách quan cũng nh chủ quan, một số ngân hàng cha
có điều kiện mở Chi nhánh, hay văn phòng đại diện tại vùng, hoặc quốc gia
khác có quan hệ. Các ngân hàng thơng mại lớn tiến hành cung cấp dịch vụ
ngân hàng đại lí cho các ngân hàng khác nh, đại lý thanh toán hộ, đại lý phát
hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối cho đồng tài trợ dự
án
Ngoài ra một số ngân hàng thơng mại còn cung cấp các dịch vụ khác
nh, dịch vụ hu trí, dịch vụ quỹ hỗ trợ và trợ cấp, Điều này cho thấy xu h-
ớng hoạt động đa năng của các ngân hàng thơng mại ngày càng đa dạng,
nhiều dịch vụ mới đợc đa vào hoạt động kinh doanh. Sao cho có thể thu hút
ngày càng nhiều khách hàng tới với ngân hàng càng tốt.
1.1.2.2. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thơng mại
Đối với ngân hàng thơng mại, thì hoạt động huy động vốn luôn đợc
quan tâm hàng đầu, bởi vì nếu huy động đợc nhiều vốn thì ngân hàng mới có
khả năng mở rộng đợc hoạt động, cũng nh quy mô của ngân hàng. Ngày nay,
trớc sức ép của cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính, đòi hỏi các ngân
hàng thơng mại phải có những chính sách thu hút nguồn tiền ngày một linh
hoạt, để từ đó đáp ứng cho hoạt động của ngân hàng. Các phơng thức huy
động vốn mà hệ thống ngân hàng thơng mại thờng áp dụng là;
a. Theo đối tợng huy động
Huy động từ dân c
Trên cơ cở hoạt động của mình ngân hàng thơng mại tiến hành huy
động các nguồn tiền nhà rỗi trong dân c, thông qua các hình thức tiết kiệm,
gửi thanh toán, ủy thác cho ngân hàng đầu t. Tuy nhiên thì nguồn tiền gửi
trong dân c bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể (nếu không nói là chủ yếu)
của ngân hàng thơng mại, Nguồn này vừa có tính ổn định cao, thời hạn chủ
Sv Nông Văn Thực
Trang 13
Lớp Ngân hàng 42A
Chuyên đề Thực tập Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
yếu là trung và dài hạn, các khoản chi phí cho giao dịch đối với nguồn này
thờng thấp về số tơng đối, khách hàng mang tính ổn định cao, ít biến động,
rất thuận lợi cho việc hoạch định chính sách hoạt động của ngân hàng nói
chung và chính sách huy động vốn nói riêng.
- Huy động từ các doanh nghiệp
Các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, thông thờng thì các tổ
chức này, không thờng xuyên gửi tiền và ngân hàng với mục đích tiết kiệm
mà chủ yếu là dùng vào việc thanh toán. Trên cơ sở nắm bắt đợc chu kì sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chu kì hoạt động của các tổ chức, mà
ngân hàng đề nghị, hoặc khuyến khích doanh nghiệp, các tổ chức gửi tiết
kiệm theo một số quy định cụ thể mà hai bên thoả thuận, cũng nh quy định
hiện hành của pháp luật. Một số doanh nghiệp Nhà Nớc (doanh nghiệp quốc
doanh) không đợc phép gửi tiết kiệm thì họ lại gửi dới hình thức biến tớng
của tiền gửi tiết kiệm là uỷ thác đầu t.
- Huy động từ các tổ chức tín dụng
Đối với các ngân hàng thơng mại khác, chỉ áp trong trờng hợp ngân
hàng thơng mại tạm thời thiếu hụt trong thanh toán cho khách hàng, hoặc
trong trờng hợp ngân hàng thiếu hụt dự trữ theo quy định của Ngân hàng Nhà
Nớc hoặc để đáp ứng những tình huống bất khả kháng. Tỷ trọng của nguồn
này thờng thấp, tính ổn định không cao và không thờng xuyên. Các ngân
hàng thơng mại rất hạn chế sử dụng tới nguồn này.
b. Theo mục đích gửi tiền
Tiền gửi tiết kiệm
Hoạt động này đem lại cho ngân hàng nguồn vốn chủ yếu trong tổng
nguồn vốn hoạt động. Thông qua tình hình thực tế của ngân hàng, các chỉ số
phát triển của nền kinh tế, nhu cầu sử dụng vốn hiện tại và dự báo trong tơng
lai, mà các ngân hàng thơng mại có chính sách huy động vốn hợp lí, thờng là
công cụ lãi suất nhằm gây sự quan tâm của khách hàng, từ đó thu hút khách
Sv Nông Văn Thực
Trang 14
Lớp Ngân hàng 42A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét