Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
chậm, không được cập nhật kịp thời để làm cơ sở đề xuất những giải pháp khắc
phục một cách nhanh chóng, hiệu quả.
- Do phần lớn số lượng học sinh nằm ở các thôn mà xã lại rộng nên khó có
thể nắm chắc các thông tin cơ bản về HS như: Họ và tên của HS, bố mẹ HS, địa chỉ
của bố mẹ HS, nơi thường trú, cư trú của bố mẹ HS, nơi ngoại trú hoặc nội trú của
HS, số điện thoại liên hệ (nếu có)
- Thời khóa biểu vì nhiều lí do chưa bố trí định kỳ (có thể mỗi tháng 01 lần
vào cuối tháng) để GVCN tổ chức sinh hoạt lớp mà chỉ thông qua Ban cán sự lớp
làm báo cáo nên khó có thể tư vấn cho học sinh về mục tiêu, nội dung, chương
trình đào tạo của ngành và chuyên ngành, kế hoạch học tập, tiến trình học tập theo
logic môn học của ngành, định hướng nghề nghiệp ; về các quy chế, quy định
hiện hành, các chính sách chế độ có liên quan đến học sinh ; về rèn luyện nhân
cách, các vấn đề xã hội.
Khó nắm sát được tình hình phấn đấu, rèn luyện, diễn biến tư tưởng của học
sinh trong lớp để biểu dương kịp thời và có giải pháp thích hợp để giúp đỡ và xử lý
các hiện tượng chưa tốt.
Thậm chí ngay trong Ban cán sự lớp học cũng có một số cá nhân không hoàn
thành nhiệm vụ, vô tổ chức kỷ luật, vi phạm quy chế, vi phạm luật pháp…
- Cuộc mưu sinh của các vị phụ huynh học sinh trong cơ chế thị trường diễn
ra gay gắt hơn, quyết liệt hơn. Vì vậy, thời gian chăm sóc, giáo dục con em có phần
lơi lỏng. Một bộ phận phụ huynh học sinh có tâm lí “khoán trắng” việc giáo dục
con em mình cho nhà trường. Đồng thời, một bộ phận phụ huynh học sinh cũng
chưa làm gương tốt cho con em.
Đó là mô hình GVCN trong thời gian này.
Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm
Tầm quan trọng của công tác giáo viên chủ nhiệm đối với công tác giáo
dục đạo đức trong nhà trường:
Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng chính trong công tác giáo dục đạo đức cho
học sinh là người quản lý mọi hoạt động của lớp học, là người triển khai mọi hoạt
động của trường của nhà trường đến từng lớp, từng học sinh. Do đó trong đầu năm
học gần đây Ban giám hiệu trường đã định hướng phân công những giáo viên làm
công tác chủ nhiệm theo những tiêu chí sau:
5
Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
- Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng và trình độ giác ngộ cách mạng
cao.
- Có uy tín- đạo đức tốt.
- Giáo viên giỏi, vững tay nghề.
- Có tầm hiểu biết rộng.
- Có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề.
- Thương yêu và tôn trọng học sinh.
- Có năng lực tổ chức.
Những hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trong năm học:
- Thực hiện các loại sổ theo quy định của ngành: sổ liên lạc, sổ chủ nhiệm sổ
theo dõi đạo đức học sinh …
- Tổ chức sinh hoạt lớp cuối tuần, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, xây
dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch thi đua…
- Kết hợp chặt chẽ với Cha mẹ học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên
bộ môn, đoàn TNCS HCM, đội TNTP HCM và các ban ngành đoàn thể địa phương
trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Nhận xét, đánh giá, xếp loại Hạnh kiểm và Học lực cho học sinh, đề nghị
khen thưởng và kỷ luật học sinh.
Ưu điểm :
- Trong những năm học gần đây giáo viên chủ nhiệm thực hiện đầy đủ các
loại sổ sách, có lên kế hoạch hoạt động cụ thể hàng tuần, tháng, năm .
- Kết hợp được nhiều hoạt động, đoàn thể trong công tác giáo dục đạo đức
học sinh.
- Không có học sinh vi phạm đạo đức nghiêm trọng phải nhờ cơ quan chức
năng xử lý.
Tồn tại:
- Còn một vài giáo viên chủ nhiệm chưa có tâm huyết với công tác này, tác
dụng giáo dục chưa cao, trong lớp vẫn còn học sinh chưa tiến bộ trong rèn luyện
đạo đức.
6
Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
- Có một số học sinh rất ngoan, lễ phép với thầy cô, học giỏi nhưng lại vi
phạm vì tham gia vận chuyển thuốc lá lậu qua biên giới.
- Thiếu sự quan hệ thường xuyên với Cha mẹ học sinh.
Nguyên nhân:
- Một số học sinh có đạo đức yếu kém nhà ở gần trường và bố mẹ lại đi làm
xa, ít khi về nhà nên giáo viên chủ nhiệm không thể gặp được gia đình thường
xuyên để phối hợp giáo dục.
- Công tác chủ nhiệm là một công tác khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư
nhiều cho công tác này, nhưng thực tế giáo viên chủ nhiệm còn phải lo cho công
tác chuyên môn.
Phần 2.
Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác GVCN lớp trong hoạt động giáo
dục học sinh ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
Gần đây, trên các phương tiện thông tin báo chí, truyền hình đã lên tiếng khá
nhiều về hiện tượng học sinh cá biệt (HSCB), học sinh (HS) bỏ học tụ tập băng
nhóm, gây gổ đánh nhau, có vụ dẫn đến tử vong. Vấn đề này đã trở thành một mối
quan ngại của dư luận, nhất là đối với gia đình và nhà trường.
Giáo dục là một khoa học và là một nghệ thuật. Trong đó việc giáo dục, quản
lý HSCB và ngăn chặn nguy cơ bỏ học của HS là một vấn đề khá nan giải, phức tạp
và hết sức nhạy cảm. Công việc này đã và đang trở thành một thách thức lớn không
chỉ riêng ngành giáo dục. Vì vậy GVCN có một vị trí và vai trò và tầm quan trọng
rất lớn trong vấn đề này:
a. Những biểu hiện chung nhất ở HSCB, HS bỏ học và những tác hại
Những trẻ loại này có thói quen lười biếng, quay cóp trong học tập, lừa dối
cha mẹ, thầy cô, dọa nạt bạn bè, hay trốn học và lảng tránh các hoạt động tập thể
như: lao động, sinh hoạt Đoàn – Hội – Đội, sinh hoạt ngoại khóa, không để cho
các em quay cóp hoặc báo cho thầy cô thì các em sẽ dọa đánh, không trực tiếp đánh
thì nhờ người khác đánh. Các em này tiêu xài các khoản phí của bố mẹ đưa nộp cho
nhà trường, giả mạo chữ ký của bố mẹ và sổ liên lạc, giấy xin phép,
7
Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
Những học sinh cá biệt có tính giảm sút phổ biến trong tất cả các lĩnh vực,
trừ những lĩnh vực gắn liền với những nhu cầu trái với xã hội, trái với đạo đức. Một
học sinh hay ngủ gật, lười chép bài, học bài nhưng lại tỏ ra rất khéo léo, nhanh trí
trong việc giở những trò tinh nghịch với thầy cô, bè bạn. Những hs này hay xem
thường, trêu ngươi, khiêu khích trước các thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè để nhằm
thỏa mãn những nhu cầu tinh nghịch được xếp sẵn trong đầu óc. Chúng thường
đánh mất lòng tự trọng, xấu hổ và trở nên chai lì khác thường. Tùy theo đối tượng
tiếp xúc mà chúng có những thái độ, phản ứng một cách gay gắt, thô bạo.
Những HSCB thường hay vi phạm nội quy, kỷ luật nhưng chúng không dễ
dàng nhận ngay mà phải nhiều lần vặn hỏi với đầy đủ những lí lẽ chứng cứ thì
chúng mới chấp nhận. Chúng cho việc nói dối, giả tạo là chuyện bình thường. Ở
những HSCB uy tín của cha mẹ, thầy cô bị thay thế bằng uy tín của những kẻ cầm
đầu, những kẻ côn đồ, hung hãn, liều lĩnh, những “đại ca”, chính điều này các
em HSCB dễ dàng rơi vào những cạm bẫy, sai khiến, xúi giục của các “đàn anh”.
Và con đường dẫn đến bỏ học, tụ tập băng nhóm, cờ bạc, trấn lột, trộm cắp, tổ chức
gây gổ đánh nhau, vi phạm pháp luật dẫn đến tù tội là điều không tránh khỏi. Thực
tế các trường đã phát hiện và xử lý những vụ trấn lột, trộm cắp, gây gổ đánh
nhau của hs, phần lớn là do sự sai bảo, xúi giục của những kẻ cầm đầu mà chúng
thường tôn là “đàn anh”.
Một điều dễ nhận thấy ở những HSCB, học sinh bỏ học là cách nói năng, đi
đứng, ăn mặc, hành động rất khác thường, luôn tạo sự chú ý đối với người khác.
Có thể nói, nhưng tác hại do các em HSCB, những học sinh bỏ học gây ra là không
nhỏ và thậm chí là khá nghiêm trọng. Nó làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
chung, phong trào thi đua của nhà trường, trật tự trị an xã hội, hạnh phúc gia đình
và nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, cuộc sống của các em
sau này.
b. Những nguyên nhân và một vài biện pháp đề xuất nhằm khắc phục hiện tượng
HSCB và nguy cơ bỏ học của học sinh:
Các em ở lứa tuổi này vốn có tính hiếu động, thích khám phá, dễ bị kích
động, lôi kéo, thích được tự khẳng định. Một số em do bị ảnh hưởng bởi các phim
ảnh bạo lực, thích được làm “người hùng”, do vậy gia đình thường xuyên tăng
cường giáo dục, định hướng những hành vi chuẩn mực trong quan hệ cư xử, trong
nhận thức cho các em nhưng không quá máy móc, áp đặt, thô bạo. Nhiều năm làm
8
Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
công tác chủ nhiệm, giảng dạy đã cho chúng tôi thấy rằng đối tượng HSCB, hs bỏ
học, nguyên nhân chủ yếu có tính quyết định là do gia đình. Nếu gia đình nào tạo ra
một bầu không khí phi đạo đức, thiếu lành mạnh như cha mẹ li hôn, vợ chồng mâu
thuẫn nhau, gia đình có người nghiện ngập ma túy, rượu chè, cờ bạc, thường đối
xử thô bạo đối với các em thì tỉ lệ hs vi phạm nội quy, vi phạm đạo đức là rất cao.
Một số gia đình phụ huynh chỉ biết nuông chiều, thỏa mãn những tính hiếu kỳ,
những ước muốn kỳ quặc của trẻ. Điều này dễ dàng làm nảy sinh ở trẻ tính cách e
ngại lao động, ngại tự phục vụ, gặp những khó khăn, trở ngại đơn giản là chúng
than vãn, thoái thác. Có thể điều này sẽ làm cho trẻ trở thành những kẻ phung phí
tiêu xài quá mức, hoặc trở thành một con người sống ích kỷ đến lạnh lùng.
Hãy tập cho các em có tính tự lập ngay từ nhỏ và biết chịu đựng, biết khắc
phục những khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống đời thường. Phải để cho các em
thấy được sự lao động, vất vả khó nhọc khi làm ra đồng tiền và sử dụng đồng tiền
như thế nào cho có hiệu quả.
Một nguyên nhân cơ bản là gia đình thiếu quan tâm, kiểm tra, đôn đốc, nhắc
nhở, động viên các em trong học tập, vui chơi. Có gia đình phó thác hẳn việc giáo
dục con cái cho thầy cô giáo, cho nhà trường. Có gia đình thiếu biện pháp giáo dục,
thiếu kết hợp với nhà trường, với các lực lượng giáo dục khác. Không ít gia đình
chỉ biết làm ăn, đầu tư kinh tế, xem nhẹ việc giáo dục con cái. Nếu có nắm thông
tin về con cái thì cũng chung chung, một chiều rất phiến diện. Thực tế cho thấy,
nếu nơi nào có sự phối kết hợp chặt chẽ, thường xuyên có hiệu quả giữa ba lực
lượng giáo dục là gia đình – nhà trường – xã hội thì hiện tượng HSCB, việc bỏ học
của hs sẽ giảm đi rất nhiều.
Về phía nhà trường, một lực lượng giáo dục rất quan trọng góp phần hình
thành nhân cách của hs thì việc phối hợp chặt chẽ với hai lực lượng giáo dục gia
đình và xã hội chưa cao, chưa tạo được sự đồng bộ, đồng thuận trong việc giáo dục
các em, còn coi nhẹ kỷ cương – tình thương – trách nhiệm.
Người giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm phải nắm thông tin một cách
đầy đủ, chính xác, kịp thời về học sinh của mình đặc biệt là những HSCB để đề ra
những biện pháp giáo dục thích hợp. Có quá ít thời gian tiếp cận với học sinh của
lớp mình cũng là một hạn chế trong việc giáo dục học sinh cá biệt, ngăn chặn học
sinh bỏ học. Thực tế trong nhà trường phổ thông hiện nay việc giáo dục HSCB chủ
yếu là do giáo viên chủ nhiệm phụ trách. Có giáo viên tiếp xúc với lớp chủ nhiệm
9
Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
khoảng 7 tiết/tuần nhưng cũng có giáo viên chỉ có tiếp xúc với lớp không quá 3
tiết/tuần. Trong khi công việc của giáo viên chủ nhiệm đâu chỉ có giáo dục HSCB.
Thực tế hiện nay các hoạt động, phong trào trong nhà trường (trừ hoạt động
giảng dạy) nhìn chung còn nghèo nàn, chưa phong phú, mang tính hình thức. Các
phong trào chưa lôi cuốn, hấp dẫn, chưa huy động đông đảo lực lượng học sinh
tham gia. Chính vì vậy nhà trường cần thường xuyên tổ chức các hoạt động giáo
dục khác bên cạnh hoạt động dạy và học như: đố vui để học, hái hoa kiến thức, các
hoạt động văn thể, cắm trại, ngoại khóa chuyên đề, tham quan dã ngoại, chính
các hoạt động này có tác dụng bổ trợ rất lớn đến hoạt động dạy và học, góp phần
thu hút học sinh la cà các hàng quán, các nơi giải trí bi-a, điện tử, thực tế những
nơi này đang tiềm ẩn khá nhiều tiêu cực ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt
của các em. Điều này đã được các phương tiện thông tin, báo chí, truyền hình đưa
tin không ít.
Tránh đối xử thô bạo, trách móc các em, hãy tôn trọng nhân cách các em.
Cha mẹ, anh chị em, thầy cô, bè bạn hãy gần gũi, cảm thông, độ lượng, chia sẻ, tạo
điều kiện và cơ hội để các em sửa chữa những lỗi lầm, khuyết điểm hoặc phát huy
những tài năng, sáng tạo (nếu có). Chúng ta hãy giúp các em lấy lại lòng tin, lòng
tự trọng. Đừng bao giờ để các em đánh mất niềm tin ở chính bản thân mình. Bởi vì
đánh mất niềm tin ở chính bản thân mình thì các em sẽ mất tất cả. Hãy đến với các
em bằng tình thương, sự đồng cảm hơn là một người giáo dục.
Thực tế cho thấy, nếu các em chủ động tìm đến các hoạt động của nhà trường
với thầy cô giáo thì hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn việc thầy cô giáo chủ động tìm
đến các em.
Góp phần giáo dục HSCB và làm giảm nguy cơ học sinh bỏ học là một công
việc khó khăn, phức tạp, hết sức nhạy cảm, đòi hỏi sự kiên trì, lòng nhiệt tình, một
trách nhiệm cao, một tình thương chân thành và cần thiết có một sự phối hợp
thường xuyên, chặt chẽ, có hiệu quả từ các lực lượng giáo dục nhất là vai trò của
gia đình.
Phần 3.
10
Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
Đề xuất đổi mới nội dung, phương pháp và kĩ năng thực hiện công tác chủ
nhiệm lớp của GV ở trường phổ thông đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng
giáo dục phổ thông trong giao đoạn hiện nay.
a/ Ý nghĩa
GVCN có vai trò rất to lớn trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, vì
GVCN là người quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách, là cầu nối giữa
Ban giám hiệu với các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể
lớp, là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của lớp, đồng thời là người
đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của
trường.
Xuất phát từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện
pháp giúp GVCN định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp với tình
hình thực tế của địa phương mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo dục đạo
đức học sinh trong giai đoạn hiện nay.
b. Nội dung
*) Tìm hiểu đặc điểm tình hình lớp, tình hình học sinh là góp phần cho công tác
chủ nhiệm đạt kết quả cao
Do tính đặc thù của một địa bàn biên giới Cam –Pu-Chia, trường có rất nhiều
học sinh người Việt Nam sống ở Cam –Pu- Chia sang học, đối tượng học sinh của
trường có mối quan hệ gia đình rất đa dạng và phức tạp, việc tìm hiểu điểm tình
hình lớp, tình hình học sinh giúp cho GVCN thuận lợi trong quản lý, giáo dục học
sinh.
Đầu năm học GVCN phải có những thông tin khái quát về gia đình học sinh
như: nơi ở, hoàn cảnh sống, lối sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, giáo dục của gia
đình, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, quan hệ của gia đình láng giềng.
Việc tìm hiểu này sẽ giúp GVCN kết hợp tốt với gia đình trong công tác giáo dục
đạo đức cho học sinh.
- Đầu năm học GVCN phải nắm được đặc điểm học sinh về: sức khỏe, đạo
đức, năng lực học tập, động cơ học tập, quan hệ của học sinh với cha mẹ, Ông bà,
anh chị em trong gia đình, ở trường với thầy cô và ngoài xã hội, cộng đồng. Việc
tìm hiểu học sinh về mọi mặt là rất cần thiết nhưng GVCN phải thấy được nguyên
nhân dẫn đến thực trạng đó.
11
Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
- GVCN phải tìm hiểu cơ cấu, lứa tuổi, năng lực học tập, hoạt động, mối
quan hệ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, sự đoàn kết của lớp
mình chủ nhiệm.
*)Nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu giáo
dục, mục tiêu cấp học, lớp học kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ,
năm học
- Để vận dụng tốt vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững
mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học
của học kỳ, năm học.
- Để cho học sinh thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong
phong trào chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thực hiện của
trườnmg trong tuần, tháng học kỳ và cả năm học.
- Phải nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng
và phối hợp tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương.
*) Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự
trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào công tác chủ nhiệm
- Để liên kết và phối hợp có hiệu quả giữa nhà trường, đại diện là GVCN với
địa phương trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
- GVCN cần phải nắm được tình hình thời sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã
hội để bổ sung kiến thực của mình thêm phong phú.
*) Cộng tác chặt chẽ với CMHS, chủ động phối hợp với giáo viên bộ môn, đoàn
TNCS HCM, đội TNTP HCM, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giáo
dục đạo đức học sinh.
*) Xây dựng những truyền thống tốt đẹp của lớp
- Các hoạt động của lớp sẽ trở thành truyền thống nếu nó được lập đi lập lại
và trở thành thói quen.
- Phải trân trọng truyền thống sẳn có của lớp, tiếp tục xây dựng truyền thống
mới cho lớp trong điền kiện cụ thể.
*) Tích cực tham gia vào công tác đánh giá xếp loại hạnh kiểm, xét thi đua,
khen thưởng và kỷ luật học sinh với tư cách là người bảo vệ quyền lợi chính đáng
cho học sinh.
12
Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
c/ Cách làm
*) Đối với GVCN
- Nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh : (học bạ, hoàn cảnh gia đình….)
- Trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích
của học sinh.
- Trao đổi với giáo viên bộ môn, về tình hình của lớp.
- Trao đổi với ban giám hiệu, tổng phụ trách đội, Cha mẹ học sinh để có
thêm những thông tin về đối tượng mà GVCN cần tìm hiểu.
- Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp
thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh.
- Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin,
thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ.
- Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy
định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, có hiệu quả
- Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với Cha mẹ
học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả.
- GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trao dồi đạo đức nhà
giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo.
Phần 4.
Phương pháp, giải pháp tăng cường năng lực làm công tác chủ nhiệm lớp cho
GV ở trường phổ thông.
a/ Phương pháp
1. Phương pháp thuyết phục
Là những phương pháp tác động vào lý trí tình cảm của học sinh để xây dựng
những niềm tin đạo đức, gồm các nội dung sau:
- Giảng giải về đạo đức: được tiến hành trong giờ dạy môn giáo dục công
dân cũng như trong các giờ học môn khác, giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ…
13
Hội thảo GVCN ở trường phổ thông
- Nêu gương người tốt, việc tốt bằng nhiều hình thức như: nói chuyện, kể
chuyện, đọc sách báo, mời những người có gương phấn đấu tốt đến nói chuyện, nêu
gương tốt của giáo viên và học sinh trong trường.
- Trò chuyện với học sinh hoặc nhóm học sinh để khuyến khích động viên
những hành vi cử chỉ đạo đức tốt của các em, khuyên bảo, uốn nắn những mặt chưa
tốt.
2. Phương pháp rèn luyện
Là những phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện cho các
em những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm đạo đức của các
em thành hành động thực tế:
- Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà
trường: dạy học trên lớp, lao động, hoạt động xã hội đoàn thể và sinh hoạt tập thể.
- Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường là
biện pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích thích bên
trong của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở thành người có đạo đức
tốt, vì vậy nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và động viên học sinh
tham gia tốt phong trào này.
- Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ hoạt
động có hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính ham hoạt
động của trẻ và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư xấu nào đó bằng
cách gây cho học sinh hứng thú với một hoạt mới bổ ích, lôi kéo trẻ ra ngoài những
tác động có hại.
3. Phương pháp thúc đẩy
Là phương pháp dùng những tác động có tính chất “ cưỡng bách đạo đức bên
ngoài ” để điều chỉnh, khuyến khích những “ động cơ kích thích bên trong” của học
sinh nhằm xây dựng đạo đức cho học sinh.
- Những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với học
sinh, vừa là những điều lệnh có tính chất mệnh lệnh đòi hỏi học sinh tuân theo để
có những hành vi đúng đắn theo yêu cầu của nhà trường.
- Khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng của học sinh
làm cho bản thân học sinh đó vươn lên hơn nữa và động viên khuyến khích các em
khác noi theo.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét