Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014
Nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường và phát triển trong quy hoạch khai thác vùng bồi ven huyện Kim Sơn
5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
Ơ NHIỄM MƠI TRƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG NI TƠM CỦA VÙNG BÃI BỒI.
I. KHÁI NIỆM VỀ MƠI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
1.1. Khái niệm về mơi trường .
a. Khái niệm về mơi trường.
Bất cứ một vật thể, sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một mơi
trường nhất định. Nói tới mơi trường là nói tới mơi trường của một vật thể, một
sự kiện nào đó. Khái niệm về mơi được cụ thể hố đối với từng đối tượng và
mục đích nghiên cứu.
Trong nghiên cứu về các cơ thể sống, người ta quan tâm tới “Mơi trường
sống của con người”, đó là tổng hợp các điều kiện vật lý, hố học, sinh học, xã
hội bao quanh và có ảnh hưởng đến sự sống của các cá nhân và cộng đồng. Đối
tượng nghiên cứu của chúng ta chính là mơi trường sống của con người, gọi tắt
là mơi trường. Mơi trường được phân thành mơi trường tự nhiên, mơi trường
nhân tạo và mơi trường xã hội. Sự phân chia này chỉ để phục vụ nghiên cứu,
phân tích các hiện tượng phức tạp trong mơi trường. Trên thực tế, cả ba loại mơi
trường này cùng tồn tại, xen lẫn vào nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ.
Trong thuật ngữ khoa học mơi trường còn phân biệt mơi trường theo nghĩa
rộng và mơi trường theo nghĩa hẹp. Mơi trường theo nghĩa rộng bao gồm các
nhân tố như khơng khí, nước, đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, nhân tố xã
hội ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người và các tài ngun thiên
nhiên cần thiết cho sinh sống và sản xuất của con người. Mơi trường theo nghĩa
hẹp chỉ bao gồm các nhân tố mơi trường thiên nhiên trực tiếp liên quan đến sinh
hoạt và sản xuất của con người. Nghiên cứu này xem xét mơi trường theo nghĩa
hẹp, khơng đi sâu tìm hiểu tài ngun thiên nhiên trong đó và cũng chỉ đề cập đến
một số thành phần mơi trường có ảnh hưởng quan trọng nhất đến hoạt động sống
và sản xuất của người dân mà thơi.
Theo điều I, Luật bảo vệ mơi trường của Việt Nam” Mơi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của
con người và thiên nhiên”
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Theo chức năng, mơi trường sống của con người được chia làm ba loại:
Mơi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hố học,
sinh học, tồn tại ngồi ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu sự
tác động của con người,
Mơi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau.
Mơi trường nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên,
làm thành những tiện nghi trong cuộc sống.
b. Các chức năng của mơi trường.
Mơi trường hiện nay được có thể xem là có 3 chức năng. Chất lượng mơi
trường tốt hay xấu được đánh giá qua khả năng thực hiện các chức năng này của
mơi trường. Ba chức năng này như sau:
- Mơi trường là khơng gian cho con người sống và thực hiện các hoạt động
phát triển của mình. Con người đòi hỏi ở khơng gian sống khơng chỉ về phạm vi
rộng lớn mà còn cả về chất lượng. Khơng gian sống có chất lượng cao trước hết
phải sạch sẽ, tinh khiết cụ thể là khơng khí, nước đất tiếp xúc với con người và
được con người sử dụng khơng chứa hoặc ít chứa các chất bẩn, độc hại đối với
sức khoẻ của con người. Sự phát triển của kỹ thuật và cơng nghệ sản xuất tạo
nên khả năng cải thiện chất lượng mơi trường, nhưng tới một mức độ nhất định,
chính sự phát triển này lại là ngun nhân làm suy thối chất lượng đó.
- Mơi trường là nơi cung cấp nguồn tài ngun cần thiết cho cuộc sống và
hoạt động sản xuất của con người. Mơi trường là nơi con người khai thác nguồn
lực về vật liệu và năng lực cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của
mình. Tất cả các nền sản xuất từ săn bắt, hái lượm đến nơng nghiệp, cơng
nghiệp và hậu cơng nghiệp đều phải sử dụng các ngun liệu đất, nước, khơng
khí, khống sản lấy từ Trái đất và các năng lượng như: củi, gỗ, than, dầu, nắng,
gió, nước Với sự phát triển của văn minh lồi người, nhiều nguồn tài ngun
thiên nhiên khơng tái tạo được ngày càng suy giảm, tuy nhiên con người cũng
khơng ngừng khám phá ra các nguồn tài ngun thiên nhiên mới.
- Mơi trường là nơi chứa đựng các phế thải. Trong sử dụng ngun liệu và
năng lượng vào cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình con người chưa bao
giờ và hầu như khơng bao giờ có thể đạt đến hiệu suất 100%. Nói cách khác,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
con người ln tạo ra các phế thải: phế thải sinh hoạt và phế thải sản xuất. Mơi
trường chính là nơi chứa đựng các phế thải đó. Vấn đề chứa đựng và xử lý phế
thải trở thành vấn đề căng thẳng về mơi trường tại nhiều nơi trên Trái đất. Ví dụ
đối với hoạt động ni trồng thuỷ sản ven biển, nước thải và bùn thải tích tụ sau
mỗi vụ ni sẽ được thải ra xung quanh quanh hoặc thải ra biển. Mức độ tác
động đến mơi trường sẽ tuỳ thuộc vào độ bẩn của chất gây ơ nhiễm và khả năng
tự làm sạch của mơi trường.
1.2. Khái niệm về phát triển.
Một khái niệm khác thường được đề cập trong khoa học mơi trường là
phát triển, nói đầy đủ hơn là phát triển kinh tế xã hội (social-economic
development). Phát triển là q trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh
thần của con người bằng phát triển sản xuất, cải thiện quan hệ xã hội, nâng cao
chất lượng hoạt động cuộc sống. Phát triển là xu hướng tự nhiên của mỗi cá
nhân hoặc cộng đồng con người.
Đối với một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, q trình phát triển trong
một giai đoạn cụ thể nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định về mức sống vật
chất và tinh thần của người dân trong quốc gia, vùng đó. Các mục tiêu này
thường được cụ thể hố bằng những chỉ tiêu kinh tế như tổng sản phẩm xã hội,
tổng thu nhập quốc dân, lương thực, nhà ở, giáo dục, y tế Các mục tiêu nói
trên ở mức vĩ mơ được thực hiện bằng những hoạt động phát triển, thể hiện
thành các chính sách, các chương trình, kế hoạch dài hạn về phát triển kinh tế xã
hội. Ở mức vi mơ được thể hiện thành các dự án phát triển cụ thể về khai thác tài
ngun thiên nhiên, sản xuất hàng hố, xây dựng cơ sở hạ tầng Các hoạt động
phát triển này thường là ngun nhân gây nên những sử dụng bất hợp lý, lãng
phí tài ngun thiên nhiên, tạo ra những tác động làm suy thối mơi trường.
Báo cáo này tìm hiểu về một hoạt động phát triển của con người tại một
vùng bãi bồi ven biển. Người dân nơi đây đang và sẽ tiến hành khai thác tài
ngun vùng bãi bồi để phục vụ cho các mục tiêu phát triển của mình. Các tác
động đến mơi trường là khơng tránh khỏi. Việc nghiên cứu sẽ được tập trung
trên một số khía cạnh về quan hệ giữa mơi trường và phát triển ở một vùng bãi
bồi giàu tiềm năng.
Ngày nay, các quốc gia đều đề ra những mục tiêu phấn đấu cho sự tiến bộ
của quốc gia mình. Tuy có những khía cạnh khác nhau nhất định trong quan
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
niệm, nhưng nói chung, sự tiến bộ trong một giai đoạn nào đó của một nước
thường được đánh giá trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự biến đổi về mặt
xã hội. Trên thực tế, người ta thường dùng hai thuật ngữ tăng trưởng và phát
triển để phản ánh sự tiến bộ đó.
Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm về quy mơ
sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Đó là kết quả của tất cả
các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra.
Phát triển kinh tế có thể hiểu là một q trình lớn lên (hay tăng tiến) về
mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự
tăng thêm về quy mơ sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, do sự xung đột giữa mơi trường và phát triển ngày càng gia
tăng, ngày nay người ta đang tiến tới một mục tiêu phát triển cao hơn, đó là phát
triển bền vững.
1.3. Phát triển bền vững.
a Mâu thuẫn giữa mơi trường và phát triển
Từ nhiều thập kỷ con người đã nhận thức rằng mơi trường đóng vai trò
hết sức quan trọng bảo đảm sự tồn tại và phát triển kinh tế và sự sống của con
người. Tuy nhiên nhiều nhà khoa học đã chỉ ra rằng những chức năng này của
mơi trường liên quan tới hoạt động kinh tế có mối tương tác chặt chẽ với nhau
và trong những trường hợp nhất định chúng có thể triệt tiêu lẫn nhau: Ví dụ chất
thải do sản xuất sinh ra trong nhiều trường hợp có tác động huỷ hoại và làm
giảm nguồn tài ngun và thiên nhiên của mơi trường.
Giữa mơi trường và phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ. Mơi
trường là địa bàn và đối tượng của phát triển. Phát triển là ngun nhân tạo nên
mọi biến đổi tích cực và tiêu cực đối với mơi trường. Trong phạm vi một vùng,
một quốc gia cũng như trên tồn thế giới ln ln tồn tại hai hệ thống: hệ thống
kinh tế xã hội và hệ thống mơi trường. Khu vực giao nhau giưa hai hệ thống là
khu vực “Mơi trường nhân tạo” Tác động tích cực hay tiêu cực về mơi trường
của con người đều được thể hiện tại đây.
Hệ thống kinh tế lấy ngun liệu, năng lượng từ hệ thống mơi trường.
Nếu khai thác cạn kiệt tài ngun khơng tái tạo được, hoặc khai thác q khả
năn hồi phục tài ngun tái tạo được thì sẽ dẫn tới chỗ khơng còn ngun liệu,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
năng lượng, từ đó phải đình chỉ sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thống kinh
tế. Hệ thống kinh tế đem ra mơi trường những phế thải, trong đó có những phế
thải độc hại, tác động xấu đến khơng khí, nước, đất, các nhân tố mơi trường và
tài ngun thiên nhiên khác, làm tổn hại chất lượng mơi trường khiến cho hệ
thống kinh tế khơng thể hoạt động bình thường được.
Đối với mơi trường, các hoạt động phát triển ln có hai mặt lợi và hại.
Tương tự như vậy, đối với phát triển của con người, mơi trường thiên nhiên cũng
ln ln có hai mặt là nguồn tài ngun và phúc lợi, đồng thời lại là nguồn thiên
tai, thảm hoạ đối với đời sống và hoạt động sản xuất của con người.
Ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa mơi trường và phát triển cũng đã được nhân
dân nhận thấy từ lâu. Từ trong lịch sử xa xưa, người dân lao động lúc khai thác
tài ngun thiên nhiên đã biết tiết chế cường độ khai thác, khơng để đi q
ngưỡng phục hồi. Các khu rừng đầu nguồn quan trọng đều được xem là “rừng
cấm”, các dòng suối cung cấp nước uống tinh khiết cho làng bản được xem là
“suối thần”. Phật giáo dạy mọi tín đồ phải q trọng cuộc sống của mọi vật
trong thiên nhiên, Khổng Giáo đề cao cuộc sống thanh bạch, tránh mọi phung
phí tài ngun. Cho đến nay, chúng ta lựa chọn sự phát triển song song với các
hoạt động bảo vệ mơi trường, lấy phát triển bền vững làm mục tiêu lâu dài.
b. Phát triển bền vững.
Từ những mẫu thuẫn giữa mơi trường và phát triển như vậy, người ta đã
tìm cách dung hồ cả hai mục tiêu bằng cách theo đuổi mục tiêu phát triển bền
vững. Trong những năm gần đây, thế giới ngày càng đề cập nhiều tới thuật ngữ
"phát triển bền vững" theo đó sự phát triển có ý nghĩa rộng hơn và bao hàm
nhiều khía cạnh khác nhau.
Những quan điểm rất khác nhau về "phát triển bền vững" được hình thành
dần dần trong nhiều thập kỷ qua. Vào những năm 80, khi ngày càng có nhiều
bằng chứng về sự xuống cấp nhanh chóng của mơi trường và vấn đề mơi trường
đã trở thành trở ngại đối với phát triển thì bảo vệ mơi trường đã trở thành mục
tiêu thứ ba của sự phát triển. Quan niệm về phát triển bền vững do đó bao gồm
ba yếu tố, ba cách tiếp cận: kinh tế, xã hội và mơi trường. Đây cũng chính là
quan điểm tiếp cận để đánh giá hiệu quả của các phương án quy hoạch ni tơm
trong đề tài này.
MỤC TIÊU KINH TẾ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Nguồn: Kỷ yếu hội nghị mơi trường tồn quốc lần thứ nhất.
Cho tới nay đã có nhiều định nghĩa và khái niệm về phát triển bền vững
được đưa ra trong những hội nghị quốc tế. Nhưng định nghĩa của Uỷ ban thế
giới về mơi trường và phát triển đưa ra trong báo cáo "Tương lai chung của
chúng ta" được sự hưởng ứng và thống nhất của nhiều tổ chức, nhiều quốc gia.
Đó là: "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của hiện tại
xong khơng xâm phạm tới khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai".
Định nghĩa này bao hàm cả ba yếu tố: Kinh tế, xã hội và mơi trường đã
được xem xét ở trên. Mặc dù đã có một định nghĩa thống nhất song cho tới nay
phần lớn các chính sách phát triển của các nước vẫn tiếp tục chỉ dựa vào tiêu
chuẩn hiệu quả kinh tế. Sở dĩ như vậy là vì chưa có được một chuẩn mực cho sự
kết hợp hài hồ ba cách tiếp cận trên trong thực tế.
Trước kia, khi người ta dựa vào thu nhập bình qn đầu người để đánh giá
mức độ phát triển thì rõ ràng thế giới ngày nay đã giàu lên rất nhiều. Tuy nhiên
sự tăng trưởng về kinh tế sẽ khó có thể được duy trì trước sức ép ngày càng tăng
đối với mơi trường về tài ngun. Dưới tác động của các hoạt động kinh tế, mơi
trường sẽ ngày càng bị suy thối, tài ngun ngày càng bị cạn kiệt. Như vậy các
thế hệ tương lai sẽ lâm vào tình trạng xấu hơn do phải đón nhận hậu quả đó,
cũng chính là các hậu quả của các quyết định kinh tế xã hội ngày hơm nay. Do
đó phải bảo đảm sự hài hồ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ mơi trường. Người
ta đã đề ra các ngun tắc để xây dựng xã hội phát triển bền vững đó là:
MỤC TIÊU MƠI TRƯỜNG
MỤC TIÊU XÃ HỘI
- Tăng trưởng
- Ổn định kinh tế
- Hiệu quả
+ Đánh giá tác động MT.
+ Tiền tệ hố tác động MT
+ Cân bằng thu nhập
+ Giảm đói nghèo
- Bảo vệ thiên nhiên
- Đa dạng hố sinh học
- Sử dụng hiệu quả
nguồn tài ngun
- Bảo tồn nền văn hố
và truyền thống dân
tộc
- Giảm đói nghèo
- Xây dựng thể chế
+ Cơng bằng giữa các thế hệ
+ Sự tham gia của quần chúng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
- Tơn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng,
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người,
- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất,
- Quản lý những nguồn tài ngun khơng tái tạo được,
- Tơn trọng khả năng chịu đựng của các hệ sinh thái,
- Để cho các cộng đồng tự quản lý mơi trường của mình.
Chiến lược phát triển bề vững do IUCN, UNEP và WWF soạn thảo xác
định "Đạo đức tạo nên một cơ sở cho phát triển bền vững. Nhu cầu mà con
người đòi hỏi được xác định trên cơ sở xã hội và văn hố. Sự phát triển bền
vững đề cao các giá trị, khuyến khích sự chấp nhận những tiêu chuẩn về tiêu
dùng ở trong giới hạn được chấp nhận về mặt sinh thái và ở trong phạm vi đó thì
mọi người đều có quyền mong muốn".
Cũng như nhiều nước phát triển khác trên thế giới Việt Nam đang đứng
trước nhiều vấn đề cấp bách về mơi trường. Tài ngun đang bị suy thối, nhiều
giống lồi có nguy cơ tuyệt chủng. Mơi trường ở đơ thị và khu cơng nghiệp bị ơ
nhiễm nặng. Tháng 12/1990 Chính phủ Việt Nam và Chương trình phát triển
của liên hiệp quốc (UNDP) tổ chức Hội thảo quốc tế về mơi trường và phát triển
bền vững ở Việt Nam. Phát triển bền vững là phương hướng cơ bản mà chiến
lược và kế hoạch hành động được kiến nghị. Chiến lược và kế hoạch có những
mục tiêu cơ bản sau:
- Duy trì các q trình sinh thái quan trọng, bảo vệ tài sản sinh vật và tính
đa dạng của các giống lồi,
- Đảm bảo việc sử dụng lâu bền tài ngun thiên nhiên,
- Đảm bảo chất lượng chung của mơi trường cần thiết cho cuộc sống tốt
đẹp của con người,
- Thực hiện kế hoạch hố tăng trưởng và phân bố dân số cho cân bằng với
năng xuất của sản xuất bền vững.
Tại Việt Nam, rút kinh nghiệm của các nước đi trước chúng ta nhất thiết
phải theo con đường cơng nghiệp hố hiện đại hố thân thiện với mơi trường.
Quan điểm này được thể hiện khơng những trong tiếp thu cơng nghệ, phát triển
cơng nghiệp, nơng nghiệp mà còn trong lối sống, nếp nghĩ, cách tiếp thu của
quảng đại quần chúng. Việt Nam đi theo con đường cơng nghiệp hóa sinh thái.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Và như vậy đến năm 2020 xã hội Việt Nam có thể chưa đạt mức cao của sự
phồn vinh, hiện đại nhưng sẽ đảm bảo được sự hồ hợp giữa con người và mơi
trường.
II. CÁC QUAN ĐIỂM ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ.
2.1. Quan điểm hiệu quả kinh tế cá nhân.
Cách tiếp cận hiệu quả kinh tế dựa vào luận điểm của Hick-Lindahl về tối
đa hố thu nhập và chi phí nhỏ nhất. Ngồi ra người ta còn dùng cách tiếp cận
sử dụng tối ưu và có hiệu quả những nguồn lực khan hiếm. Có thể nói, cách tiếp
cận kinh tế là nhằm tối đa hố lợi ích cá nhân của người sản xuất. Ví dụ như đối
với người ni tơm, theo cách tiếp cận này nhà kinh tế phải trả lời cho được câu
hỏi: sản xuất và đầu tư cho con tơm như thế nào để người nơng dân có lợi nhất
(mà khơng cần chú ý tới các hậu quả đối với mơi trường và xã hội).
Ta sẽ xem xét một cá nhân, doanh nghiệp hay một đơn vị sản xuất nào đó
(gọi chung là cá nhân) điều chỉnh hoạt động sản xuất của mình như thế nào. Cá
nhân này có mức sản lượng hàng năm là Q.
Các cá nhân đều có một mục tiêu chung là tối đa hố lợi nhuận từ hoạt
động sản xuất của mình. Căn cứ vào nhu cầu thị trường, vào chi phí sản xuất
người ta sẽ lựa chọn mức sản lượng sản xuất ra để có được lợi nhuận lớn nhất.
Kinh tế học vi mơ đã chứng minh mức sản lượng đem lại hiệu quả lớn nhất đó
tại điểm mà doanh nghiệp hay cá nhân có lợi ích cận biên bằng chi phí cận biên.
Trên đồ thị trục Ox biểu diễn mức sản lượng, trục Oy biểu diễn chi phí và
lợi ích. Hoạt động sản xuất này gây ơ nhiễm mơi trường. Chi phí biên của xã hội
do sự ơ nhiễm đó gây ra là đường MEC.
P
0
MPC
MEC
Ox
P
Q
0
O
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Tất nhiên, cá nhân khơng bao giờ tự nguyện bỏ chi phí để khắc phục sự ơ
nhiễm. Và để tối đa hố lợi nhuận cá nhân sẽ sản xuất ở mức sản lượng Q
0
. Trên
quan điểm cá nhân người ta khơng quan tâm tới MEC.
Áp dụng cho việc hạch tốn hiệu quả kinh tế cho người ni tơm ta thấy
chi phí cho hoạt động ni tơm bao gồm tiền mua thức ăn, mua giống, mua các
loại chế phẩm tạo mầu cho nước, tiền lương, tiền lãi vay vốn lưu động và các chi
phí khác. Chi phí cận biên MPC của người ni tơm là khoản chi phí để có thêm
một đơn vị sản lượng tơm. Lợi ích biên của người ni tơm là giá trị của phần
doanh thu tăng thêm do bán đơn vị sản lượng tơm cuối cùng. Việc ni tơm gây
ơ nhiễm mơi trường do khơng xử lý nước và bùn trước khi thải ra mơi trường.
Phần thiệt hại mơi trường do việc sản xuất ra đơn vị sản lượng tơm cuối cùng
chính là chi phí cận biên của xã hội MEC. Người ni tơm khơng chú ý đến chi
phí này nếu như nó khơng trực tiếp mang lại lợi ích thiết thực cho họ.
2.2. Quan điểm hiệu quả kinh tế xã hội và mơi trường.
Cách tiếp cận "xã hội": lấy con người làm trọng tâm trong những quyết
định về chính sách phát triển. Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế còn có quan
điểm phát triển mang tính xã hội nhằm bảo đảm duy trì sự ổn định hệ thống văn
hố và xã hội của đất nước, giảm bớt những tác động tiêu cực về xã hội của phát
triển kinh tế, đảm bảo tính cơng bằng xã hội với mục tiêu giảm tỷ lệ dân số sống
trong ngèo đói. Có nghĩa là trong khi đánh giá hiệu quả cho việc ni tơm, ngồi
lợi ích mang lại cho người ni tơm người ta còn phải chú ý tới các vấn đề mang
tính xã hội như sức khoẻ cộng đồng, giải quyết việc làm, tận dụng tài ngun.
Cách tiếp cận về mơi trường được phổ biến rộng rãi từ đầu những năm 80,
tập trung tới những vấn đề mơi trường đang ngày càng trở nên nóng bỏng ở trên
tồn thế giới. Quan điểm này lưu ý tới sự ổn định của hệ sinh thái và của mơi
trường sinh thái mà những yếu này đang chịu những tác động mạnh của các hoạt
động kinh tế tất cả các nước đã phát triển và những nước đang phát triển.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của các nhà hoạch định chính sách phát
triển của một quốc gia là phải nhận thức được những cách tiếp cận nói trên và
đưa chúng vào chính sách phát triển của đất nước.
Xét trên quan điểm kinh tế xã hội và mơi trường thì mọi chi phí và lợi ích
sinh ra bởi việc sản xuất và tiêu dùng một thứ hàng hố nào đó đều phải được
tính đến khi đánh giá hiệu quả. Trên quan điểm kinh tế xã hội và mơi trường
người ta khơng tách biệt giữa hai chủ thể là cá nhân người sản xuất và xã hội mà
có sự thống nhất giữa hai đối tượng này. Hoạt động sản xuất của cá nhân cũng
chính là của xã hội. Mọi chi phí - lợi ích thuộc cá nhân hay nằm ngồi phạm vi
của cá nhân khơng còn sự phân biệt và như vậy chúng đều được hạch tốn khi
tính tổng chi phí hay tổng lợi ích.
Trong hoạt động sản xuất đã nêu, chi phí biên của sản xuất sẽ khơng chỉ là
MPC mà sẽ là MSC = MPC + MEC.
P
P
0
O
Sản lượng (Q)
Bởi vì chi phí biên (của xã hội) là MSC do vậy để việc sản xuất mang lại
hiệu quả cao nhất cho xã hội, mức sản lượng sẽ là Q
*
(hình vẽ) được xác định
khi MSC=P. Như vậy khi sản xuất ở mức sản lượng Q
*
, xã hội đã "nội hóa"
được chi phí cho bảo vệ mơi trường vào tổng chi phí của hoạt động sản xuất.
Đối với vùng ni tơm sẽ được xem xét trong đề tài này, các chất thải sau mỗi
vụ ni (nước thải, bùn thải) có ảnh hưởng nhiều nhất đến mơi trường, gây hậu
quả giảm năng suất ở các vụ ni sau. Do vậy, những chi phí cho bảo vệ mơi
MSC
MPC
MEC
Q
0
Q
*
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét