Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ



4

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DNNVV
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Những vấn đề chung về DNNVV trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế
1.1.1 Khái niệm và tiêu chí xác định DNNVV
Việc xác định quy mô DNNVV chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu
tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành
nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích
phân loại DN trong từng thời kỳ nhất định. Nhìn chung, trên thế giới việc xác
định một DN là DNNVV chủ yếu căn cứ vào hai nhóm tiêu chí phổ biến là
tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng.
Tiêu chí định tính được xây dựng dựa trên các đặc trưng cơ bản của các
DNNVV như trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ
phức tạp của quản lý thấp Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản
chất của vấn đề nhưng trên thực tế thường khó xác định. Do đó, chúng chỉ
được sử dụng để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để xác định quy
mô DN.
Tiêu chí định lượng được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như số lượng
lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của
DN. Số lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao
động thường xuyên thực tế của DN. Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá
trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản (hay vốn) còn lại của DN.
Các tiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác
định quy mô DN. Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác
nhau giữa các ngành nghề mặc dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định.


5

Các nước trên thế giới có các tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV.
Các tiêu chí đó thường không cố định mà thay đổi tùy theo ngành nghề và
trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Ví dụ như Đài Loan chẳng hạn. Các DN
trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo có từ 1 tới 200 lao động được coi là DNNVV,
trong khi các DN trong ngành thương mại-dịch vụ có từ 1-50 lao động [91]. Ở
Nhật Bản, các DNNVV trong ngành sản xuất chế tạo có từ 1-300 lao động và
số vốn kinh doanh không vượt quá 300 triệu Yên, còn các DNNVV trong
ngành thương mại dịch vụ có số lao động không quá 100 người với số vốn
kinh doanh không quá 100 triệu Yên. Ngược lại ở Mỹ chỉ có một tiêu chí xác
định chung cho các DNNVV là số lao động không quá 500 người [93] (xem
thêm phụ lục số 1)
Ở Việt Nam, trước năm 1998, chưa có một văn bản pháp luật chính thức
nào quy định tiêu chuẩn cụ thể của DNNVV. Do đó, mỗi một tổ chức đưa ra
một quan niệm khác nhau về DNNVV nhằm định hướng mục tiêu và đối
tượng hỗ trợ hoạt động của tổ chức mình. Ngân hàng Công thương Việt Nam
đưa ra tiêu chuẩn DNNVV là những DN có giá trị tài sản dưới 10 tỉ đồng, vốn
lưu động dưới 8 tỉ đồng, doanh thu dưới 8 tỉ đồng và số lao động thường
xuyên dưới 500 người, tồn tại dưới bất kỳ hình thức sở hữu nào. Thành phố
Hồ Chí Minh lại xác định những DN có vốn pháp định trên 1 tỉ đồng, doanh
thu hàng năm trên 10 tỉ đồng và lao động thường xuyên có trên 100 người là
những DN có quy mô vừa. Những DN dưới mức tiêu chuẩn đó là các DN
nhỏ. Tổ chức UNIDO tại Việt Nam lại đưa ra tiêu thức xác định DN nhỏ là
DN có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu dưới 1 tỉ đồng, DN vừa là
các DN có số lao động từ 51 đến 200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 tỉ
đến 5 tỉ đồng [14].
Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính
phủ về trợ giúp phát triển DNNVV thì DNNVV là các cơ sở sản xuất kinh


6

doanh độc lập đã đăng k ý kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn
đăng ký không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không
quá 300 người.
Theo nghị định này, đối tượng được xác định là DNNVV bao gồm các
DN thành lập và hoạt động theo Luật DN và Luật DN nhà nước; Các hợp tác
xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã; Các hộ kinh doanh cá thể đăng
ký theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.
Như vậy, theo định nghĩa này, tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh
tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức lao động hoặc
vốn đưa ra trong nghị định này đều được coi là DNNVV. Theo cách phân loại
này, năm 2003, số DNNVV chiếm 96,14% trong tổng số các DN hiện có tại
Việt Nam (theo tiêu chí lao động) và chiếm 88,27% (theo tiêu chí vốn đăng
ký kinh doanh).
Các tiêu chí phân loại này tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên việc dùng hai tiêu chí lao động bình quân
hàng năm và vốn đăng ký kinh doanh còn quá chung chung. Lao động bình
quân ở đây cần làm rõ là lao động thường xuyên, hay bao gồm cả lao động
thời vụ; gồm những lao động thực tế của DN hay chỉ gồm những lao động ký
hợp đồng và có đóng bảo hiểm? Theo tác giả luận án nếu sử dụng chỉ tiêu lao
động nên dựa vào số lao động làm việc thường xuyên hay số lao động làm
việc từ 1 năm trở lên.
Yếu tố vốn đăng ký cũng cần xem xét. Thực tế cho thấy số vốn đăng ký
của các DN khi thành lập DN khác xa so với số vốn thực tế đưa vào kinh
doanh. Số lượng lao động của các DN thay đổi hàng năm tuỳ thuộc vào kết
quả kinh doanh của từng DN. Trong khi đó, vốn đăng ký của các DN là cố
định khi đăng ký kinh doanh và thực tế số DN thay đổi vốn đăng ký là không
nhiều và không thường xuyên. Do đó nếu lấy tiêu chí vốn đăng ký để xác định


7

DNNVV sẽ không đảm bảo phản ánh đúng thực trạng quy mô của DN. Trong
khi đó, chỉ tiêu doanh số cho thấy chính xác hơn quy mô DN, về thực trạng
hoạt động kinh doanh của các DN thay vì chỉ là các DN có đăng ký. Luận án
cho rằng chỉ tiêu doanh số hàng năm của các DN sẽ phản ánh chính xác hơn
quy mô của DN trong từng giai đoạn thay vì tiêu chí vốn đăng ký.
Mặt khác, ở góc độ thống kê về DNNVV, việc sử dụng cả hai chỉ tiêu
lao động và vốn đăng ký đã tạo ra sự khác biệt đáng kể về số liệu thống kê
các DNNVV. Theo tiêu chí lao động, khoảng 95,8% các DN Việt Nam là
DNNVV. Trong khi đó nếu theo số vốn đăng ký kinh doanh thì chỉ có 87,5%
là các DNNVV. Như vậy đã tạo ra sự khác biệt về số liệu thống kê các
DNNVV theo từng tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chỉ sử
dụng một chỉ tiêu lao động hoặc một chỉ tiêu vốn đăng ký/doanh số để xác
định DNNVV.
Việc sử dụng cả hai tiêu chí lao động và vốn/doanh thu sẽ khuyến khích
các DN vừa sử dụng nhiều lao động lại vừa tập trung tích tụ vốn để phát triển.
Sử dụng một tiêu chí lao động để xác định DNNVV, đồng nghĩa với việc tất
cả các DN dù có vốn kinh doanh/doanh số lớn hay nhỏ đều được hưởng các
chính sách ưu đãi của Chính phủ dành cho các DNNVV. Điều đó sẽ không
hạn chế các DN đầu tư vốn lớn kinh doanh trong lúc vẫn muốn hưởng ưu đãi
từ các chính sách dành cho DNNVV. Tương tự như vậy, nếu sử dụng tiêu chí
vốn kinh doanh/doanh số thì các DN sử dụng nhiều lao động cũng vẫn được
hưởng lợi từ các chính sách phát triển DNNVV.
Vì vậy, việc xác định DNNVV cần dựa trên cả hai tiêu chí là doanh số
và số lao động thường xuyên trung bình hàng năm của các DN.
1.1.2 Đặc điểm của DNNVV [27], [57]
Các DNNVV là các DN có quy mô vốn nhỏ và hầu hết hoạt động trong
các ngành thương mại, dịch vụ sử dụng nhiều lao động. Cũng như các loại hình


8

DN khác, DNNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và
phát triển. Có thể nhận thấy DNNVV có một số đặc điểm cơ bản sau:
* Về các điểm mạnh:
- DNNVV dễ khởi sự. Hầu hết các DNNVV chỉ cần một lượng vốn ít, số
lao động không nhiều, diện tích mặt bằng nhỏ với các điều kiện làm việc đơn
giản đã có thể bắt đầu kinh doanh ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh. Loại
hình DN này gần như không đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn ngay trong giai
đoạn đầu. Việc tạo nguồn vốn kinh doanh thường là một khó khăn lớn đối với
các DN, nhưng do tốc độ quay vòng vốn nhanh nên DNNVV có thể huy động
vốn từ nhiều nguồn không chính thức khác nhau như bạn bè, người thân để
nhanh chóng biến ý tưởng kinh doanh thành hiện thực.
- Tính linh hoạt cao. Vì hoạt động với quy mô nhỏ cho nên hầu hết các
DNNVV đều rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của
môi trường. Trong một số trường hợp các DNNVV còn năng động trong việc
đón đầu những biến động đột ngột của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã
hội, hay các dao động đột biến trên thị trường. Trên góc độ thương mại, nhờ
tính năng động này mà các DNNVV dễ dàng tìm kiếm những thị trường
ngách và gia nhập thị trường này khi thấy việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi
nhuận hoặc rút khỏi các thị trường này khi công việc kinh doanh trở nên khó
khăn và kém hiệu quả. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế
đang chuyển đổi hoặc các nền kinh tế đang phát triển.
- Có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống.
So với các DN lớn thì DNNVV có lợi thế hơn trong việc khai thác, duy trì và
phát triển các ngành nghề truyền thống. Đó là khả năng khai thác và sử dụng
có hiệu quả những nguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên hay vốn tại
chỗ của từng địa phương. Có rất nhiều DNNVV của Việt Nam và thế giới đã
từng bước trưởng thành và lớn mạnh khi khai thác các nguồn lực sẵn có của


9

địa phương. Bên cạnh đó, các DN nhỏ còn có nhiều lợi thế hơn các DN lớn
trong việc nắm bắt kịp thời nhu cầu và thị hiếu thường xuyên thay đổi của
người tiêu dùng, qua đó tạo ra nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mới đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng. Theo khía cạnh này, các
DNNVV có lợi thế trong việc định hướng và làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới
từ phía người tiêu dùng. Nhờ sự phát triển cuả các DNNVV mà nhiều loại sản
phẩm và dịch vụ mới đã ra đời.
- DNNVV có lợi thế về sử dụng lao động. Quan hệ lao động trong các
DNNVV thường có tính chất thân thiện, gần gũi hơn so với các DN lớn. Do
đó người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích
hơn trong công việc. Đặc biệt là mối quan hệ gần gũi, thân thiện đó rất phù
hợp với văn hoá của người Châu á nói chung và của Việt Nam nói riêng.
Ngoài ra, với lợi thế trong việc khai thác các nguồn lực sẵn có của địa
phương, đặc biệt là ngành sử dụng nhiều lao động, DNNVV có những tác
động tích cực trong việc tạo ra việc làm cũng như nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho dân cư tại địa phương hoặc duy trì và bảo vệ các giá trị văn
hóa truyền thống. Bên cạnh đó, việc phát triển các DNNVV còn có lợi ích
như giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự các biệt giữa
thành thị và nông thôn, qua đó cũng góp phần làm giảm tệ nạn xã hội và giúp
Chính phủ giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội khác.
* Về các điểm yếu
Bên cạnh các điểm mạnh được chỉ ra ở trên thì các DNNVV còn có các
điểm yếu nhất định như:
- DNNVV thiếu các nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn,
hoặc các dự án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng.
- DNNVV không có các lợi thế kinh tế theo quy mô và ở một số nước
thì loại hình DN này thường bị yếu thế trong các mối quan hệ với ngân hàng,


10

với Chính phủ và giới báo chí cũng như thiếu sự ủng hộ của đông đảo công
chúng. Nhiều DNNVV bị phụ thuộc rất nhiều vào các DN lớn trong quá trình
phát triển như về thương hiệu hàng hoá, thị trường, công nghệ, tài chính
- Các DNNVV do rất dễ khởi nghiệp nên cũng phải chịu nhiều loại rủi ro
trong kinh doanh. Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy, càng nhiều
DNNVV ra đời thì cũng có càng nhiều DNNVV bị phá sản. Có những DN bị
phá sản sau một thời gian hoạt động rất ngắn. Theo kết quả nghiên cứu thực
nghiệm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thì các DNNVVcó tỉ lệ phá sản
và thất bại cao trong năm hoạt động thứ tư. Và các DN do nam giới quản lý
thường có tỉ lệ thất bại cao hơn so với các DN được điều hành và quản lý bởi
các chủ DN nữ.
- Bên cạnh các tác động ngoại lai tích cực thì DNNVV cũng gây ra
không ít những ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực trong nền kinh tế như do ít vốn,
hầu hết các DN không quan tâm đầy đủ đến việc bảo vệ môi trường hoặc khi
nhiều DNNVV bị phá sản do hoạt động không hiệu quả gây ra sự thiếu tin
tưởng của dân chúng với loại hình DN này, gây khó khăn cho người tiêu dùng
khi chọn các sản phẩm tiêu dùng cũng như khi chọn các nhà cung cấp dịch
vụ. Điều này làm giảm uy tín của loại hình DNNVV đối với công chúng và
người lao động.
1.1.3 Vai trò của DNNVV đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
[25], [28], [57]
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, các DNNVV đóng
vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và có vai trò
quan trọng trong mạng sản xuất toàn cầu và chuỗi cung ứng hàng hóa và dịch
vụ. Các DNNVV có khả năng tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp; cung cấp
cho xã hội khối lượng đáng kể hàng hóa và dịch vụ và làm tăng GDP cho nền
kinh tế; tăng cường kỹ năng quản lý và đổi mới công nghệ; góp phần giảm


11

bớt chênh lệch về thu nhập trong xã hội, xóa đói nghèo; tăng nguồn tiết kiệm
và đầu tư của dân cư địa phương làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả
hơn; cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau. Mức độ đóng
góp vào sự phát triển kinh tế quốc gia của DNNVV được thể hiện ở mức độ
thu hút lao động, vốn đầu tư, tạo ra giá trị gia tăng trong nền kinh tế. Theo số
liệu thống kê của các nước, tỉ trọng thu hút lao động tạo ra giá trị gia tăng của
các DNNVV rất đáng kể (xem phụ lục số 2).
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay vai trò của các DNNVV
được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau.
1.1.3.1 Về khía cạnh kinh tế
* Đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm tăng
GDP
Cũng như DNNVV ở tất cả các nước, DNNVV ở Việt Nam cung cấp ra
thị trường nhiều loại hàng hóa khác nhau đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu
dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho các ngành sản
xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như các hàng hóa tiêu
dùng khác. Theo số liệu thống kê trong những năm vừa qua DNNVV đã đóng
góp từ 25%-28% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của cả nước. Ngoài ra,
DNNVV Việt Nam còn cung cấp hầu hết sản phẩm trong nhiều ngành công
nghiệp truyền thống thu hút nhiều lao động như giầy dép, chiếu cói, Việc
mở rộng và phát triển các DNNVV sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm
tăng GDP.
* Thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẵn có trong dân cư
Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Vốn là yếu tố cơ
bản để khai thác và phối hợp các yếu tố sản xuất khác như lao động, đất đai,
công nghệ và quản lý để tạo ra lợi nhuận cho các chủ DN. Vốn có vai trò to
lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao


12

trình độ tay nghề cho công nhân cũng như trình độ quản lý của chủ DN. Tuy
nhiên, một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều DN đang thiếu vốn trầm
trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhiều nhưng không huy động được.
Khi chính sách tài chính tín dụng của Chính phủ và các ngân hàng chưa thực
sự gây được niềm tin đối với những người có vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp
dân cư thì nhiều DNNVV đã tiếp xúc trực tiếp với người dân và huy động
được vốn để kinh doanh, hoặc bản thân chính người có tiền đứng ra đầu tư
kinh doanh, thành lập DN. Dưới khía cạnh đó, DNNVV có vai trò to lớn trong
việc huy động vốn để phát triển kinh tế.
* Nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn
Trong quá trình kinh doanh, nhiều DNNVV có thể hỗ trợ cho các DN
lớn kinh doanh một cách hiệu quả hơn như làm đại lý và vệ tinh cho các DN
lớn, cung cấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho DN lớn
hoặc thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường mà DN lớn khó có thể với tới
để phân phối các sản phẩm của DN lớn. Bên cạnh đó, khi số DNNVV tăng
lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng số lượng các sản phẩm và dịch vụ
mới trong nền kinh tế. Nhờ hoạt động với quy mô nhỏ và vừa, các DNNVV
có ưu thế là chuyển hướng kinh doanh nhanh từ những ngành nghề kém hiệu
quả sang các ngành khác hiệu quả hơn, thỏa mãn nhu cầu linh hoạt của dân
cư. Chính sự phát triển đó của các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính
linh hoạt và giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế.
* Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế.
Trước tiên, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng nhờ sự phát triển của các
khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công


13

nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh.
Các DN được phân bổ đều hơn về lãnh thổ ở cả vùng nông thôn, đô thị, miền
núi, đồng bằng. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh các DNNVV còn có tác
dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng mạnh của các cơ
sở kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các DN nhà nước. Sự phát
triển các DNNVV cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông
qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo.
Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát triển
của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các sản phẩm mang bản sắc
văn hóa dân tộc, khai thác thế mạnh của đất nước.
* Góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế
Các DNNVV hình thành và phát triển trong những ngành nghề khác
nhau luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các DN
lớn. Nhiều DN nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích làm vệ tinh cung cấp
các sản phẩm cho các DN lớn. Mối quan hệ giữa DNNVV và các DN lớn
cũng chính là nguyên nhân thành công của nền kinh tế Nhật Bản trong nhiều
thập kỷ qua. Do đó, khi các DNNVV Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng
cường các mối quan hệ liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNNVV và giữa
DNNVV với các DN lớn. Nhờ đó mà các rủi ro kinh doanh sẽ được chia sẻ và
góp phần tăng hiệu quả kinh tế xã hội chung.
* Tạo cơ sở để hình thành các DN lớn.
Kinh nghiệm phát triển kinh tế ở nhiều nước cho thấy hiện nay phần lớn
các công ty và các tập đoàn kinh tế đa quốc gia đều trưởng thành từ các
DNNVV. Với cách xem xét đó DNNVV chính là nguồn tích luỹ ban đầu và là
"lồng ấp" cho các DN lớn. Hầu hết các cơ sở dân doanh ở Việt Nam khi mới
ra đời do thiếu kinh nghiệm và chưa thật hiểu biết về thị trường nên họ
thường lựa chọn quy mô kinh doanh vừa và nhỏ để bắt đầu sự nghiệp kinh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét