Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Một số vấn đề về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nguyên tắc c trú để đánh thuế thu nhập cá nhân. Quan niệm về nơi c trú giữa
các quốc gia gần nh là tơng đồng. Nó có những nội dung cơ bản sau: (i) có
nơi ở chính tại quốc gia đó hoặc có thời gian sống ở đó từ 183 ngày trở lên
hoặc lâu hơn những nơi khác. Thời gian này có thể thay đổi theo qui định của
từng quốc gia (ii) Hành nghề chính tại quốc gia đó, tức là phần lớn thu nhập
của đối tợng đợc tạo ra từ những hoạt động này (iii) Có trung tâm lợi ích kinh
tế tại quốc gia đó, tức là có phần vốn đầu t chủ yếu hoặc có trụ sở hoạt động
ở quốc gia đó. Thu nhập chịu thuế bao gồm tất cả các khoản thu nhập theo
qui định của Nhà nớc sau đó đợc khấu trừ đi các khoản chi phí khác đợc phép
khấu trừ theo qui định của Nhà nớc. Nhà nớc sẽ có một danh mục các khoản
thu nhập mà phải tính vào thu nhập chịu thuế, đồng thời sẽ có một danh mục
khác liệt kê các chi phí đợc phép khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế trớc khi
tính thuế. Ví dụ ở Pháp thì ngời ta chia ra làm tám loại thu nhập. Ta có thể kể
tóm tắt ở đây: thu nhập từ cho thuê bất động sản; thu nhập từ tiền lơng ; thu
nhập từ hoạt động sản xuất công nghiệp và thơng mại; thu nhập từ hoạt động
sản xuất nông nghiệp; thu nhập của một số lãnh đạo doanh nghiệp; thu nhập
từ hoạt động phi thơng mại; thu nhập từ bán tài sản; thu nhập từ đầu t động
sản. Còn ở Việt Nam, ngời ta chia thu nhập chịu thuế ra làm hai loại là thu
nhập thờng xuyên và thu nhập không thờng xuyên; trong đó thu nhập thờng
xuyên có năm loại thu nhập chịu thuế và thu nhập không thòng xuyên có sáu
loại thu nhập chịu thuế. Ta sẽ trình bày chi tiết hơn về nội dung thuế của Việt
Nam ở chơng sau. Ngoài ra, có những trờng hợp các cá nhân có thu nhập
phát sinh ở nớc ngoài mà đã nộp thuế một phần ở nớc ngoài, thì khi đó việc
khấu trừ thuế nộp ở trong nớc sẽ phụ thuộc vào hiệp định kí kết giữa quốc gia
đó và bên nớc ngoài về việc tránh đánh thuế trùng. Các đối tợng không c trú
tại quốc gia đó thì sẽ chỉ có nghĩa vụ nộp thuế TNCN đối với phần thu nhập
phát sinh tại quốc gia đó.
Do đối tợng nộp thuế đồng thời cũng chính là đối tợng chịu thuế nên
thuế thu nhập cá nhân đợc xếp vào loại thuế trực thu. Phạm vi điều chỉnh
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
của luật thuế thu nhập cá nhân là rất rộng lớn và do đặc điểm đối tợng chịu
thuế trực tiếp phải nộp thuế nên sức ảnh hởng của nó đối với nền kinh tế và
thái độ của dân c là hết sức to lớn. Không giống nh các loại thuế gián thu, ví
dụ thuế tiêu dùng, khoản thuế đợc tính sẵn trong giá thanh toán nên nó không
ảnh hởng nhiều đến tâm lí của ngời mua về khoản thuế mình phải nộp, thuế
trực thu có thể hiểu bóng bẩy là Nhà nớc trực tiếp thò tay vào túi chúng ta và
lấy tiền của ta ra, điều đó chắc chắn sẽ có ảnh hởng mạnh về tâm lí của ngời
nộp thuế. Chính vì vậy, mỗi khi chính phủ có những thay đổi trong chính
sách thuế TNCN nh việc điều chỉnh thuế suất và thay đổi phạm vi các đối t-
ợng đợc miễn giảm thuế thì đều gây ra những phản ứng mạnh mẽ trong dân
c. Ví dụ ở Mỹ vừa qua, khi tổng thống George Bush quyết định giảm mức lãi
suất thuế TNCN từ nay cho đến năm 2006 và giảm dần các đối tợng đợc
miễn giảm thuế, nó lập tức đã gây ra những phản ứng rất gay gắt. Bởi vì họ
cho rằng sự giảm thuế suất thì chỉ nhằm vào các bậc thuế ở mức thu nhập
cao, tức là nó đem lại lợi ích cho tầng lớp giàu có và vó thu nhập cao trong xã
hội, còn đối với tầng lớp dân c có mức thu nhập trung bình và thấp thì chính
sách thuế của Tổng thống dờng nh không đem lại cho họ điều gì. Mà nó cũng
đồng nghĩa với việc nguồn thu ngân sách chính phủ có thể giảm đi, các hoạt
động mang tính phúc lợi xã hội mà chủ yếu nhằm hỗ trợ ngời nghèo do đó
cũng sẽ giảm đi. Hoặc ngay nh tại Việt Nam, khi Pháp lệnh thuế TNCN lần
đầu tiên đi vào thực hiện 1-4-1991, các cá nhân ngời nớc ngoài làm việc và
có thu nhập phát sinh tại Việt Nam phản ứng cũng khá quyết liệt khi thấy
rằng thuế suất thuế TNCN đối với họ là quá cao, do lúc đó thu nhập trung
bình của nớc ta vẫn còn thấp còn trong khi đó lơng trả cho các chuyên gia n-
ớc ngoài thì cao hơn nhiều so với trong nớc. Sau này,chúng ta đã phải liên tục
sửa đổi bổ sung nội dung pháp lệnh nhằm đảm bảo phù hợp hơn. Tuy nhiên
cho đến nay, sau năm lần sửa đổi bổ sung nội dung pháp lệnh thì chúng ta
vẫn còn nhiều điều phải bàn. ở đây, ta muốn khẳng định lần nữa là thuế
TNCN mang đặc điểm là loại thuế trực thu và phạm vi điều tiết rất rộng nên
nó có ảnh hởng rất mạnh đến tâm lí của dân c.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thuế thu nhập cá nhân thông thờng là loại thuế lũy tiến. Các nớc thờng
xây dựng một biểu thuế luỹ tiến, các bậc ứng với mức thu nhập càng cao thì
có mức thuế suất biên càng cao. Do đó những ngời có thu nhập càng cao thì
phải chịu mức thuế đóng góp cao hơn so với những ngời có mức thu nhập
thấp hơn. Nó góp phần đảm bảo tính chất công bằng trong phân phối xã hội,
công bằng ở đây là công bằng theo chiều dọc. Biểu thuế luỹ tiến đợc xây
dựng căn cứ vào nguyên tắc đánh thuế dựa vào khả năng nộp thuế của các cá
nhân khác nhau. Những ngời có thu nhập cao thì có nhiều khả năng nộp thuế
cao hơn những ngời có thu nhập thấp và ngợc lại. T tởng đánh thuế dựa vào
khả năng nộp thuế của Nhà vua Writ
3
- vị vua nớc Anh vào thế kỉ thứ 17- đã
là cơ sở cho sự phát triển rất sớm của các biểu thuế luỹ tiến. Khoảng cách t-
ơng đối giữa các bậc thuế suất sẽ quyết định tính chất luỹ tiến mạnh hay yếu
của biểu thuế. Khoảng cách này mà càng lớn thì mức độ lũy tiến của biểu
thuế càng cao và ngợc lại.
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp và mang tính trung lập
đối với cơ cấu kinh tế. Do đặc điểm là điều tiết lên thu nhập của dân c, phạm
vi điều tiết rất rộng nên việc quản lý đối với loại thuế này là hết sức khó
khăn. Nó dễ gây phản ứng của ngời nộp thuế. Đồng thời do tính chất phân
tán và động của đối tợng chịu thuế và nguồn thuế nên công tác quản lí thu rất
khó khăn. Chính vì đặc điểm này mà chi phí hành thu của thuế thu nhập cá
nhân rất cao.Ngoài ra, nó điều tiết lên thu nhập chứ không phải là lên tiêu
dùng nên nó không có tác động trực tiếp đối với một ngành kinh tế cụ thể nào
cả. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách sâu sắc thì thuế thu nhập cá nhân vẫn
có những tác động nhất định đối với cơ cấu nền kinh tế. Thuế thu nhập cá
nhân đợc sử dụng nh là một công cụ thuế đắc lực trong chính sách tài khóa
quốc gia, nó ảnh hởng đến tổng cầu nền kinh tế, do đó nó cũng có những ảnh
hởng nhất định đối với cơ cấu kinh tế.
3
Nguồn: www.taxworld.org: History of taxation
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.1.4 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Nền kinh tế ngày càng phát triển, mức sống ngời dân càng cao thì thuế
thu nhập cá nhân ngày càng góp phần quan trọng trong nguồn thu ngân
sách Nhà nớc. Chúng ta biết rằng thuế thu nhập cá nhân thu đợc dựa vào
mức thu nhập của dân c. Thu nhập của dân c càng cao thì nó cũng đồng nghĩa
với mức thu từ thuế TNCN sẽ tăng. Điều đó chỉ có thể có đợc khi nền kinh tế
có tốc độ tăng trởng kinh tế cao, GDP lớn. Thông thờng, ở những nớc càng
phát triển thì tỉ trọng đóng góp của thuế trực thu càng lớn, trong đó thuế
TNCN chiếm tỉ trọng khá cao. Ta có thể thấy đợc điều đó qua số liệu một số
nớc phát triển trong khối OECD năm 1980 tỉ lệ thuế thu nhập cá nhân của
các nớc trong khối OECD là 10,9% GDP, trong khi đó tỉ lệ này vào năm
1995 là 10,4%
4
. Ta cũng có thể xem cấu trúc thuế trong khối OECD từ năm
1980-1995 để từ đó thấy đợc vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong nguồn
thu ngân sách chính phủ hàng năm ở những nớc phát triển.
Bảng 1- Thay đổi cấu trúc thuế trong khối OECD từ 1980-1995
Đơn vị tính:%
Sắc thuế 1980 1985 1990 1995
Thuế thu nhập cá nhân 32 30 30 27
Thuế thu nhập công ti 7 8 8 8
Bảo hiểm xã hội 25 25 25 25
Thuế tài sản 5 5 5 5
Thuế tiêu dùng chung 14 16 17 18
Thuế hàng hóa và DV khác 17 16 15 15
(Nguồn OECD Revenue Statistic)
Còn ở những nớc đang phát triển, đời sống ngời dân cha cao, thu nhập
trung bình mới chỉ đủ cho các hoạt động sinh hoạt cần thiết của ngời dân và
tiết kiệm ra một phần nhỏ. Số lợng những ngời có thu nhập cao, giàu có trong
xã hội thì chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong xã hội, đại bộ phận dân c là có
thu nhập và mức sống còn thấp so với dân c các nớc phát triển. Chính vì vậy,
khả năng đóng góp thuế TNCN cho Nhà nớc ở các nớc đang phát triển vẫn
còn rất thấp. Ví dụ ở Trung Quốc là một nớc đang phát triển nhng có mức độ
4
Nguồn: Tài chính tháng 5/2001
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phát triển cao thì thuế TNCN chỉ chiếm 13,4% năm 1994 và 16,3% năm
1996 tổng số thu; trong khi đó nguồn thuế TNCN ở Mỹ đạt xấp xỉ 48% năm
1994 trên tổng số thu các loại thuế và phí; còn ở nớc ta thì con số này là
0,87% năm 1994
5
. Nhìn vào số liệu, ta có thể thấy rằng thuế TNCN thu đợc tỉ
lệ thuận với mức độ phát triển của nền kinh tế, với thu nhập trung bình của
dân c. Thuế TNCN do đó tất yếu sẽ dần trở thành một nguồn thu quan trọng
hàng đầu trong nguồn thu ngân sách nhà nớc.
Thuế thu nhập cá nhân góp phần tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia, tạo điều
kiện tăng đầu t và thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Ta biết rằng mỗi một đơn vị
thu nhập bao gồm hai phần: đơn vị tiêu dùng và phần còn lại là đơn vị tiết
kiệm. Khi bạn có thu nhập là một triệu đồng, bạn phải nộp thuế giả sử là
100.000, bạn còn lại 900.000 trong đó bạn tiêu dùng hết 800.000 còn
100.000 bạn dành tiết kiệm. Nếu nh không có thuế thu nhập cá nhân, bạn có
quyền tiêu dùng 850.000 và tiết kiệm 150.000; Nếu nh khoản thuế nộp không
sử dụng trong chi tiêu chính phủ thì có nghĩa là tiết kiệm quốc gia trong tr-
ờng hợp trớc là 200.000 (100.000+100.000); còn ở trờng hợp sau thì tiết kiệm
quốc gia chỉ là 150.000 bằng chính với tiết kiệm khu vực t nhân. Khi tiết
kiệm tăng thì sẽ có nhiều nguồn vốn hơn dành cho đầu t vào trang thiết bị
máy móc. Theo phân tích mô hình của nhà kinh tế học Solow thì tỉ lệ tiết
kiệm quốc gia có ảnh hởng vô cùng quan trọng trong tăng trởng và ổn định
kinh tế lâu dài. Nó cung cấp nguồn vốn để đầu t vào máy móc, thiết bị, nhà
xởng, hay nghiên cứu khoa học để có thể tăng sản lợng trong tơng lai. Nhật
Bản là minh chứng rõ nét nhất cho thấy ảnh hởng của tiết kiệm đối với sự
phát triển kinh tế. Việc sử dụng thuế TNCN là một công cụ điều tiết giữa tiêu
dùng và tiết kiệm, tránh những tiêu dùng xa hoa mà thay vào đó là đầu t vào
t bản và con ngời, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế lâu dài. Tuy
nhiên, điều đó không có nghĩa là càng tăng thuế TNCN thì sẽ càng tăng tỉ lệ
tiết kiệm quốc gia. Chúng ta cũng đã đề cập ở trên là thuế thu nhập cá nhân
5
Nguồn: Nghiên cứu Tài chính kế toán số 52
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
có ảnh hởng mạnh đến tâm lí và phản ứng của dân c. Nếu chúng ta cố gắng
duy trì mức thuế suất thuế TNCN cao thì sẽ không khuyến khích ngời lao
động tham gia sản xuất kinh doanh. Sở dĩ nh vậy là vì ngời lao động cảm
thấy khi họ lao động vất vả để kiếm tiền thì ngay sau khi nhận tiền họ đã phải
trả một phần lớn thu nhập đó cho Nhà nớc. Do đó họ sẽ không còn động lực
cao trong lao động và kiếm tiền. Đây cũng là một nguyên nhân để giải thích
tại sao một số nớc Bắc Âu nh Thụy Điển, nơi mà có mức điều tiết thu nhập
giữa ngời giàu và ngời nghèo cao, trong xã hội có mức phúc lợi cao trên thế
giới thì hiện nay lại tụt hậu về kinh tế hơn so với một số nớc Tây Âu, nơi mà
sự điều tiết về thu nhập không mạnh mẽ bằng; điều tơng tự cũng xảy ra giữa
Mỹ và Canada. Theo các nhà kinh tế giải thích thì một phần nguyên nhân là
do việc điều tiết thu nhập của ngời có thu nhập cao quá lớn đã dẫn đến mất
động lực của ngời lao động hoặc ngời lao động sẽ chuyển sang làm việc ở
những nớc khác có mức thuế TNCN thấp hơn. Do đó, năng suất lao động đã
không tăng mạnh nh đáng lẽ nó có thể. Chúng ta cần có một mức thuế suất
vừa phải và hợp lí để đảm bảo việc tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia nhng đồng
thời vẫn duy trì đợc nỗ lực và động cơ làm việc của ngời lao động.
Thuế thu nhập cá nhân góp phần đảm bảo tính công bằng và giảm bớt
sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Một chức năng quan trọng của thuế là
nhằm đảm bảo tính công bằng và giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo trong xã
hội. Trong các loại thuế thì thuế TNCN thể hiện rõ nét nhất vai trò này. Do
đặc điểm là thuế đánh trên thu nhập của các cá nhân cùng với tính chất luỹ
tiến của thuế TNCN đã thu hẹp đợc khoảng cách về thu nhập giữa các cá
nhân có mức thu nhập cao và các cá nhân có mức thu nhập thấp. Đây là quan
điểm công bằng theo chiều dọc, những ngời có khả năng nộp thuế càng cao
thì sẽ nộp nhiều thuế hơn và ngợc lại. Nó khác so với quan điểm công bằng
theo chiều ngang là tất cả mọi ngời sẽ nộp thuế cùng với một tỉ lệ nh nhau.
Các khoản thuế thu đợc sau đó có thể đợc chính phủ sử dụng để trợ giúp lại
những ngời có mức thu nhập thấp. Trên lí thuyết đây là một loại thuế rất u
việt trong việc điều hòa thu nhập giữa ngời giàu và ngời nghèo. Tuy nhiên
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trên thực tế nó vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi giữa các nhà kinh tế. Khoảng
cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng mở rộng hơn. Ngời ta đặt ra câu hỏi
là liệu chính sách thuế TNCN có thực sự đem lại sự phân phối công bằng hơn
cho xã hội hay là nó không có tác dụng gì cả hay nếu có thì là không đáng
kể. Và một vấn đề nữa cũng đợc đem ra tranh cãi giữa các nhà kinh tế về tính
công bằng của chính sách thuế. Ngời ta đặt câu hỏi là liệu hiệu quả công
bằng mà chính sách thuế đem lại có xung đột với hiệu quả kinh tế hay không.
Chúng ta đã biết rằng bất cứ một hoạt động nào cũng chứa đựng trong nó hai
tác dụng; tác dụng hiệu quả kinh tế và tác dụng về hiệu quả công bằng. Hiệu
quả kinh tế là việc sử dụng tối u nhất các nguồn lực của xã hội mà từ đó có
thể tạo ra tổng lợi ích cho xã hội là lớn nhất, còn hiệu quả công bằng quan
tâm đến việc phân phối tổng lợi ích xã hội đã thu đợc cho các thành viên
trong xã hội. Giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả công bằng thờng xảy ra
những mâu thuẫn đối nghịch, đợc cái này thì phải hi sinh cái còn lại. Chính vì
vậy, đối với các nớc đang phát triển, bài toán đợc đặt ra là nên đa vấn đề nào
lên u tiên, hiệu quả kinh tế hay công bằng. Các nớc chấp nhận một cái bánh
to và chia không đều hay một cái bánh nhỏ và chia đều? Để đánh giá hiệu
quả kinh tế thì ngời ta có nhiều công cụ để tính toán, nhng để đánh giá hiệu
quả công bằng thì là một vấn đề hết sức khó khăn vì bản thân nó đã là một
khái niệm trừu tợng. Thế nào là công bằng? Rất khó có thể đa ra một định
nghĩa hoàn chỉnh để tất cả mọi ngời thống nhất. Bạn trồng trong vờn của
mình một vờn hoa rất đẹp và rất thơm, rất nhiều ngời trầm trồ khen ngợi vờn
hoa của bạn và mỗi buổi chiều thờng sang vờn hoa nhà bạn để thởng thức.
Nhng có một ngời hàng xóm của bạn bị bệnh về đờng hô hấp sang phàn nàn
với bạn rằng hơng hoa nhà bạn làm anh ta cảm thấy khó chịu và đòi bạn phá
vờn hoa đó đi. Câu hỏi đặt ra là bạn nên để nguyên đó hay phá vờn hoa đi, có
cách lựa chọn nào là công bằng không? Vấn đề công bằng càng trở nên phức
tạp hơn khi phân tích về chính sách thuế TNCN. Ngời có thu nhập cao thắc
mắc tại sao họ phải đóng thuế nhiều hơn những ngời có thu nhập thấp hơn
họ. Họ nói rằng bởi vì tôi lao động nhiều hơn, hoặc trớc đây tôi phải vất vả
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
học hành, bỏ chi phí thời gian và tiền của để có thể làm đợc những công việc
đòi hỏi trình độ hơn, do đó tôi có thu nhập cao hơn những ngời lời lao động
hoặc không chịu khó vơn lên là điều tất nhiên. Do đó tiền thuế thu nhập mà
mọi ngời phải đóng phải là nh nhau. Cách giải thích này cũng hoàn toàn có
cơ sở của nó. Nhng ngợc lại, ngời có thu nhập thấp lại lí luận rằng vì tôi
không có cơ hội nhận đợc việc làm tốt, vì trớc đây gia đình tôi khó khăn nên
tôi không có điều kiện đi học đại học những ngời có thu nhập cao hơn là do
họ có những điều kiện thuận lợi và may mắn hơn tôi, do đó cần phải lấy một
phần thu nhập của họ để hỗ trợ chúng tôi bù đắp vào sự không may mắn và
không thuận lợi mà chúng tôi đã gặp phải. Lí luận của những ngời này cũng
không sai. Nếu cho họ mọi điều kiện y hệt nh ngời có thu nhập cao thì họ
chắc sẽ cũng có một mức thu nhập tơng tự. Vậy cách đánh thuế nh thế nào là
công bằng? Liệu chính sách thuế thu nhập theo biểu thuế lũy tiến đã là công
bằng với những ngời có thu nhập cao hay cha? Và biểu thuế lũy tiến với các
bậc thuế nh vậy đã là công bằng hay cha? Các chính phủ đều chấp nhận và
coi một biểu thuế lũy tiến là công bằng hơn cho tất cả, tất nhiên nó cũng phải
hi sinh quyền lợi của một số ít để đảm bảo quyền lợi số đông. Việc điều
chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập sẽ là công cụ để chính phủ điều chỉnh mức
công bằng lệch về phía nào, ngời có thu nhập cao hay ngời có thu nhập thấp.
Chúng ta cần phải hiểu ở đây ý nghĩa công bằng chỉ là mang tính tơng đối,
nó công bằng cho một bộ phận dân c nhng nó cũng là không công bằng cho
một bộ phận dân c khác. Chính sách thuế TNCN đợc xây dựng nhằm mục
đích là đem lại sự công bằng cao nhất cho xã hội trong điều kiện có thể, tất
nhiên là nó cũng cần phải đảm bảo các mục tiêu khác của xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế đợc các Chính phủ ở các nớc phát
triển sử dụng rộng rãi trong việc điều hành chính sách tài khoá và các
chính sách kinh tế khác. Do thuế TNCN chiếm một phần lớn nguồn thu ngân
sách Nhà nớc, đồng thời nó ảnh hởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng và
tiết kiệm của dân c nên nó có vai trò hết sức quan trọng trong chính sách tài
khóa của chính phủ các nớc. Chính sách tài khóa của chính phủ là chính sách
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sử dụng chi tiêu chính phủ và thuế là hai công cụ cơ bản để điều chỉnh tổng
cầu của nền kinh tế, khi nền kinh tế suy thoái thì chính phủ có thể tăng chi
tiêu hoặc giảm thuế để từ đó kích cầu và đa nền kinh tế tăng trởng trở lại; còn
khi nền kinh tế đang ở thời kì phát triển quá nóng so với mức bình thờng thì
chính phủ lại giảm chi tiêu của mình hoặc tăng thuế để làm giảm tổng cầu.
Chính phủ có thể điều chỉnh các loại thuế khác nhau căn cứ theo diễn biến
chu kì kinh doanh, nhng loại thuế đợc điều chỉnh chủ yếu vẫn là thuế thu
nhập, có thể là thuế thu nhập công ti hoặc thuế thu nhập cá nhân. Mức sản l-
ợng của nền kinh tế tơng ứng với tổng mức thu nhập của chính nó, do đó để
điều chỉnh mức sản lợng ngời ta có thể điều chỉnh mức thu nhập của dân c, từ
đó điều chỉnh tổng cầu và đa nền kinh tế đến mức sản lợng mong muốn. Khi
tăng thuế thu nhập thì thu nhập thực tế của dân c giảm đồng nghĩa với việc
giảm chi tiêu của dân c do đó tổng cầu giảm, sản lợng cân bằng của nền kinh
tế giảm; còn khi giảm thuế thì điều ngợc lại sẽ xảy ra. Mức độ ảnh hởng của
thuế thu nhập cá nhân sẽ phụ thuộc vào độ co giãn của thu nhập đối với sự
thay đổi của thuế suất. Nếu độ co giãn là nhạy cảm thì chỉ cần thay đổi thuế
suất một tỉ lệ nhỏ cũng có thể làm thay đổi tổng cầu một lợng đáng kể; ngợc
lại nếu là không nhạy cảm thì tổng cầu sẽ thay đổi không đáng kể. Thuế thu
nhập cá nhân cũng là loại thuế đợc sử dụng chủ yếu trong việc thanh toán nợ
của chính phủ. Nếu thế hệ chúng ta chi tiêu nhiều hơn so với mức thu thì
đồng nghĩa với việc thế hệ sau chúng ta sẽ phải gánh chịu thuế thu nhập cá
nhân cao hơn để thanh toán các khoản nợ nần đó. Bên cạnh chức năng là một
công cụ đắc lực trong việc thực hiện chính sách tài khoá của chính phủ, việc
quản lí thuế TNCN cũng giúp Nhà nớc trong quản lí giám sát thu nhập của
dân c, từ đó có thể đánh giá chính xác hơn về mức sống và thu nhập của dân
c nhằm đa ra các chính sách kinh tế phù hợp hơn. Để tiến hành thu thuế thu
nhập của dân c thì chính phủ cũng phải xây dựng một hệ thống thuế để tiến
hành thu và cũng là để giám sát việc thu nộp. Vì vậy chính phủ có thể nắm rõ
đợc tình hình thu nhập của toàn bộ dân c. Khi làm đợc điều này, chính phủ sẽ
có thể đánh giá chính xác hơn về thực trạng nền kinh tế, sự phân bố thu nhập
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trong dân c và còn rất nhiều yếu tố khác nữa, từ những đánh giá này mà
chính phủ có thể đa ra các chính sách kinh tế phù hợp hơn nh là các chính
sách về việc làm, chính sách bảo hiểm trợ cấp xã hội
Thuế thu nhập cá nhân làm cho mỗi ngời dân có ý thức hơn về nghĩa vụ
và quyền của mình đối với Nhà nớc. Điều này ta có thể thấy rõ nét khi đem
so sánh về ý thức con ngời giữa các nớc phát triển nh Mỹ, Pháp, Đức với
các nớc đang phát triển nh Indonesia, Lào hay nh bản thân Việt Nam. Do ở
các nớc phát triển, hệ thống thuế trực thu đã phát triển và hầu hết mọi ngời
dân đều phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình, do đó quan niệm về thuế của
họ rất rõ ràng, họ cảm thấy mình có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nớc của
mình. Họ cảm thấy tự hào khi nộp thuế vì biết mình đã đóng góp cho Nhà n-
ớc. Tất nhiên cũng có nhiều trờng hợp trốn thuế nhng đây chỉ là những trờng
hợp cá biệt. Còn ở những nớc đang phát triển thì sao? Khái niệm nộp thuế
cho Nhà nớc còn là điều hết sức mới lạ đối với rất nhiều ngời. Họ không biết
mình phải nộp thuế. Hàng ngày chúng ta vẫn phải nộp thuế, nhng do là thuế
gián thu nên chúng ta không biết. Khi phải tính và nộp thuế trực thu thì nhiều
ngời không hề thấy thoải mái chút nào. Chính vì không phải tự tính thuế và
nộp thuế cho mình nên ý thức thuế của ngời dân ở những nớc đang phát triển
là rất thấp. Minh chứng đơn giản là việc dân c đi qua cầu phải nộp phí, lệ phí;
có phải ai cũng nộp không, nếu trốn nộp đợc thì họ cũng sẽ sẵn sàng làm
ngay cho dù đó chỉ là một khoản tiền rất nhỏ. Nhìn những nớc phát triển, dù
không có ngời thu tiền phí và lệ phí thì ngời đi qua những nơi mà phải nộp
phí và lệ phí vẫn tự giác bỏ đồng xu vào chỗ thu tiền rồi mới đi qua. Cũng
chính vì sự nhận thức về nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nớc của ngời dân
những nớc đang phát triển thấp hơn ngời dân những nớc phát triển cho nên ý
thức về quyền con ngời của họ cũng thấp hơn. Những ngời càng có ý thức về
nghĩa vụ của mình đối với Nhà nớc càng cao thì họ càng có ý thức về quyền
của mình đối với Nhà nớc cao hơn, họ đòi hỏi Nhà nớc cũng phải thực hiện
lại những nghĩa vụ đối với họ. Chính vì vậy, ta có thể thấy rằng sự phát triển
của thuế thu nhập cá nhân cũng là một bớc đánh dấu sự phát triển về nhận
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét