Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THU HÚT FDI VÀO PHÁT TRIỂN LĨNH
VỰC DỊCH VỤ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT FDI VÀO PHÁT
TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC
1.1.Những vấn đề lý luận về thu hút FDI
1.1.1.Khái luận chung về FDI
1.1.1.1.Khái niệm FDI và dự án FDI
Theo IMF, FDI là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó,
một tổ chức trong nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ
một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực
tiếp là muốn có những ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền
kinh tế đó. Lợi ích lâu dài ở đây ngụ ý sự tồn tại của mối quan hệ dài hạn giữa
nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp có vốn FDI và tác động đáng kể của nhà
đầu tư đối với việc quản lý doanh nghiệp đó.
Hội nghị Liên hợp quốc tế về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) cũng
đưa ra một định nghĩa về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung
cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp
nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư nước ngoài nhận
được từ doanh nghiệp FDI. FDI có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư
và các khoản vay trong nội bộ công ty.
Theo Luật Đầu tư của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam số 59/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005 và bắt đầu có hiệu lực từ
ngày 1/7/2006 thì “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào
Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động
đầu tư”. Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư
vào Việt Nam.
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau:
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
“FDI là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài tự
mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng
nhất định, trực tiếp quản lý điều hành để thu lợi nhuận trong kinh doanh. Hoạt
động FDI được thực hiện thông qua dự án gọi là dự án FDI”.
Dự án FDI là những dự án đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân ở
nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở nước tiếp
nhận đầu tư bỏ vốn đầu tư, trực tiếp quản lý điều hành để thu lợi nhuận trong
kinh doanh.
1.1.1.2.Đặc điểm của dự án FDI
Các dự án FDI trước hết cũng là dự án đầu tư nên cũng có đầy đủ các đặc
trưng cơ bản của một dự án đầu tư nói chung, đó là:
• Đầu tư là một hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường và trước
hết là quyết định tài chính.
• Đầu tư là hoạt động có tính chất lâu dài (chiến lược).
• Đầu tư là hoạt động luôn cần có sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi
ích lâu dài.
• Đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.
Ngoài các đặc trưng chung nói trên, các dự án FDI còn có các đặc trưng
mang tính chất đặc thù so với các dự án đầu tư nước ngoài. Đó là các đặc trưng
sau:
• Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc tự mình quản lý điều
hành đối tượng bỏ vốn.
• Các bên tham gia vào dự án FDI có quốc tịch khác nhau, đồng thời
sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau.
• Dự án FDI chịu sự tác động đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật,
bao gồm luật pháp của quốc gia nước sở tại và pháp luật, thông lệ quốc tế.
Quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế đòi hỏi các quốc gia
phải tiến hành cải tiến hệ thống pháp luật của mình cho phù hợp với thông
lệ quốc tế.
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
• Có sự gặp gỡ, cọ xát giữa các nền văn hóa khác nhau trong quá
trình hoạt động của dự án.
• Các dự án FDI được thực hiện thông qua nhiều hình thức đầu tư có
tính chất đặc thù. Đó là việc hình thành các pháp nhân mới có yếu tố nước
ngoài, hoặc là sự hợp tác có tính đa quốc gia trong các hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh hoặc BOT, hoặc là tạo ra các khu vực đầu tư tập trung
đặc biệt có yếu tố nước ngoài.
• “Cùng có lợi” là phương châm chủ đạo của các bên, là nguyên tắc
cơ bản để giải quyết quan hệ giữa các bên trong mọi giai đoạn của dự án
FDI.
Tóm lại, các đặc trưng cơ bản trên của các dự án FDI đã cho thấy, dự án
FDI về bản chất là sự hợp tác theo nguyên tắc thỏa thuận của nhiều quốc gia với
quốc tịch, ngôn ngữ, văn hóa, trình độ phát triển khác nhau. Chính sự khác nhau
nhiều mặt trong quá trình hợp tác đầu tư giữa các Bên đã làm cho dự án FDI trở
nên phức tạp trong quá trình soạn thảo, triển khai và vận hành. Các đặc trưng
này đòi hỏi các Bên trực tiếp hợp tác đầu tư và các quốc gia cần chuẩn bị các
điều kiện cần thiết để tham gia kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài một
cách hữu hiệu nhất và hạn chế ở mức cao nhất những rủi ro có thể xảy ra trong
quá trình hợp tác đầu tư với các quốc gia khác.
1.1.1.3.Các hình thức của FDI
Để thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài, các nhà đầu tư có
thể xây dựng một cơ sở sản xuất hoàn toàn mới hay mua lại các cơ sở sản xuất
đang hoạt động tại nước sở tại. Trong thực tiễn, FDI được thực hiện theo nhiều
hình thức khác nhau, trong đó có những hình thức áp dụng phổ biến, bao gồm:
• Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
• Doanh nghiệp liên doanh
• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
• BT, BOT, BTO
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
Tùy vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, các hình thức đầu tư trên
được áp dụng ở mức độ khác nhau.
1.1.2.Những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút FDI
1.1.2.1.Khái niệm thu hút FDI
Thu hút FDI có thể coi là quá trình xây dựng môi trường đầu tư trực tiếp
nước ngoài nhằm tạo điều kiện không những cho vốn đầu tư nước ngoài mà cả
vốn đầu tư trong nước cũng được đưa vào thực hiện một cách thuận lợi với tư
cách là phần vốn góp của nước sở tại trong liên doanh. Về bản chất, thu hút FDI
là hình thức nhập khẩu tư bản (đối với nước tiếp nhận đầu tư) và xuất khẩu tư
bản (đối với nhà đầu tư ra nước ngoài), một hình thức cao hơn xuất nhập khẩu
hàng hóa. Cùng với hoạt động ngoại thương, thu hút FDI trên thế giới ngày càng
phát triển mạnh mẽ, hợp thành dòng chảy chính trong trào lưu có tính quy luật
liên kết hợp tác kinh tế thế giới.
1.1.2.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
1.1.2.2.1.Nhóm nhân tố kéo
Sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia là nhân tố đầu tiên mà các nhà
đầu tư xem xét trước khi quyết định đầu tư hay không đầu tư vào một quốc gia
nào đó do nhân tố này đảm bảo cho tính mạng và tài sản của các nhà đầu tư khỏi
những rủi ro chính trị.
Sự thân thiện của chính quyền địa phương qua các thủ tục hành chính đối
với nhà đầu tư. Hệ thống dịch vụ công minh, minh bạch, hiệu quả và công bằng
qua việc cấp giấy phép, thủ tục hải quan, mức thu thuế có hiệu quả và không
tham nhũng.
Sự ổn định, nhất quán, bình đẳng của các chính sách quản lý đối với các
dự án đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài.
Kế hoạch, quy hoạch các vùng, các ngành nghề, lĩnh vực địa bàn của
bên nhận đầu tư để hoạch định chương trình, kế hoạch cho công ty khi đầu tư.
Nhu cầu về vốn FDI để tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
đất nước của các nước đang phát triển là rất lớn, tạo nên lực hút mạnh mẽ đối
với vốn FDI.
1.1.2.2.2.Nhóm nhân tố đẩy
Sự phát triển của xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa thúc đẩy quá trình
tự do hóa thương mại và đầu tư. Quá trình hội nhập của các nền kinh tế quốc gia
đã làm cho các nước dỡ bỏ sự kiểm soát chặt chẽ đối với hàng hóa, nhân công,
luồng vốn lưu chuyển trên thị trường của mình. Nền kinh tế thế giới, khu vực
dần trở thành một chỉnh thể thống nhất. Nguồn vốn được vận động theo đúng
quy luật của nó, chảy vào những nơi có khả năng sinh lợi cao.
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin
đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước tạo nên sự
dịch chuyển vốn giữa các quốc gia.
Sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo nên
lực đẩy đối với vốn FDI.
Quan hệ cung cầu về vốn đầu tư là quan hệ cơ bản chi phối mức độ cạnh
tranh giữa các quốc gia, khu vực về vốn FDI. Hiện nay đang diễn ra một cuộc
cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia để tìm kiếm nguồn vốn. Quốc gia nào có
môi trường đầu tư hấp dẫn hơn và có khả năng sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả
hơn thì sẽ có lợi thế hơn trong cuộc cạnh tranh này.
1.1.2.3.Nội dung thu hút FDI trên giác độ vĩ mô
1.1.2.3.1.Xác định mục tiêu thu hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo dục
Hợp tác giáo dục với các nước trong khu vực và thế giới là nhu cầu hướng
tới nền giáo dục hiện đại và hội nhập. Trong thời đại ngày nay, tri thức nhân loại
đã ở giai đoạn phát triển cao và lan tỏa nhanh trên toàn cầu. Giáo dục là cầu nối
truyền tải mọi tri thức và công nghệ tiên tiến giữa các quốc gia. Ngày nay, trên
thế giới đã có nhiều hình thức dịch vụ giáo dục đa quốc gia phát triển mang lại
lợi ích to lớn cho các nền kinh tế thế giới. Để thụ hưởng được tri thức nhân loại
nhanh chóng, chúng ta không thể bỏ rơi cơ hội hợp tác với các trường, các
chương trình quốc tế chất lượng cao để phát triển nền giáo dục nước nhà. Do
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
vậy, tăng cường lựa chọn hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới về giáo
dục một cách tối ưu, chất lượng và hiệu quả đang là đòi hỏi của dân tộc ta trong
tiến trình hội nhập và cạnh tranh quốc tế. Để tăng cường và mở rộng hợp tác
quốc tế, chúng ta cần có chiến lược hiện đại hóa giáo dục trên cơ sở quy hoạch
lại mạng lưới trong hệ thống giáo dục quốc dân và đầu tư xây dựng các cơ sở vật
chất kỹ thuật cần thiết cho nền giáo dục hiện đại. Thu hút FDI vào phát triển
dịch vụ giáo dục là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược hiện
đại hóa giáo dục. Mục tiêu thu hút FDI là tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm
quản lý giáo dục của các nước phát triển nhằm phát triển dịch vụ giáo dục của
Việt Nam.
1.1.2.3.2.Xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư thuận lợi cho việc phát
triển dịch vụ giáo dục
Đây là vấn đề có tính then chốt trong việc tổ chức thu hút FDI. Môi
trường đầu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau
và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư, buộc các nhà đầu tư phải tự điều
chỉnh các mục đích, hình thức, phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo điều kiện
cho hoạt động kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong kinh doanh. Khi xem
xét môi trường đầu tư, các nhà kinh doanh và nhà quản lý cần phải thấy một số
đặc điểm cơ bản trong quá trình tạo dựng và đánh giá môi trường đầu tư.
Thứ nhất, môi trường đầu tư không phải là cố định mà luôn biến đổi
không ngừng do sự thay đổi của các yếu tố cấu thành tức là môi trường thành
phần. Do đó, khi phân tích đánh giá môi trường đầu tư phải đứng trên quan điểm
rộng. Tính chất của môi trường đầu tư luôn thay đổi là do mối tương quan giữa
môi trường đầu tư trong nước và môi trường đầu tư của các nước khác. Không
có một môi trường đầu tư cố định.
Thứ hai, sự thay đổi trong từng môi trường thành phần kéo theo và tác
động đến sự thay đổi trong môi trường đầu tư. Điều này đòi hỏi khi phân tích
đánh giá môi trường đầu tư phải xem xét một cách tổng thể trong mối quan hệ
chặt chẽ và với một mối tương quan cụ thể giữa các môi trường thành phần.
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
Thứ ba, ngày nay, xu thế hội nhập không ngừng gia tăng, các doanh
nghiệp không chỉ kinh doanh trong nước mà còn hướng ra nước ngoài. Các nhà
đầu tư cần đánh giá cả môi trường đầu tư trong nước và môi trường đầu tư của
những nước bên ngoài và tương quan giữa môi trường đầu tư các nước. Môi
trường đầu tư phải là một sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà đầu tư.
Đối với dịch vụ giáo dục thì càng cần xây dựng một môi trường đầu tư
công bằng, bình đẳng, lành mạnh với khung pháp lý rõ ràng nhằm tạo điều kiện
cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào dịch vụ giáo dục – lĩnh vực không
nằm ngoài quỹ đạo của xu hướng toàn cầu hóa.
1.1.2.3.3.Xác định các yêu cầu cần thiết đối với việc phát triển dịch vụ giáo
dục
Hội nhập quốc tế về giáo dục phải làm cho giáo dục Việt Nam phát triển
nhanh về số lượng, vững chắc về chất lượng, đảm bảo yêu cầu phát triển của đất
nước, phục vụ mục tiêu chính trị cơ bản của Đảng và nhân dân ta là giữ vững
chủ quyền quốc gia, định hướng xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Bảo đảm mục tiêu phát triển con người toàn diện, có năng lực thích ứng
với tình hình mới. Đồng thời phải xem giáo dục là quyền và lợi ích của nhân
dân. Nhà nướcphải bảo đảm để mọi người dân có điều kiện học tập, có cơ hội
phát triển, quan tâm đến nhân dân lao động và người nghèo. Giáo dục là sự
nghiệp của toàn dân. Hội nhập về giáo dục cũng là công việc của nhân dân, vì
vậy, cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân
dân trong nước cũng như của kiều bào ở nước ngoài.
Phát huy tối đa nội lực, độc lập và chủ động trong quá trình hội nhập giáo
dục. Mở rộng hợp tác đi đôi với quản lý chặt chẽ. Tích cực chuẩn bị tốt các điều
kiện để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Cần
mạnh dạn phát huy các lợi thế, tận dụng các cơ hội, đồng thời phải quản lý tốt
quá trình hội nhập.
Cạnh tranh trong hội nhập quốc tế xét đến cùng là cạnh tranh về giáo dục
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
đào tạo. Đây là cuộc đấu tranh gay go phức tạp nhưng có ý nghĩa rất quan trọng.
Nắm vững cam kết, tham khảo kinh nghiệm các nước, đồng thời căn cứ vào chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xác định nội dung và lộ trình hội
nhập quốc tế, làm rõ cái gì phải tích cực khai thác, cái gì phải bảo vệ, cái gì cần
ngăn chặn.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò quản lý
của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân trong phát triển hội nhập giáo dục
quốc tế.
1.1.2.3.4.Xét duyệt và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các nhà đầu tư vào
dịch vụ giáo dục
Việc xét duyệt và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các nhà đầu tư vào dịch
vụ giáo dục cũng tương tự như việc xét duyệt và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho
các dự án có vốn FDI, cụ thể: Dự án đầu tư có quy mô vốn dưới 300 tỷ đồng
Việt Nam và không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện sẽ thuộc diện được đăng
ký cấp giấy chứng nhận đầu tư. Nội dung và thủ tục đăng ký đầu tư:
Hồ sơ đăng ký đầu tư trong trường hợp không gắn với thành lập tổ chức
kinh tế: Trong trường hợp đăng ký dự án có vốn đầu tư nước ngoài không gắn
với thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư phải nộp một bộ hồ sơ đến cơ quan nhà
nước quản lý đầu tư, bao gồm các tài liệu sau:
• Bản đăng ký/đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư
• Hợp đồng hợp tác kinh doanh đối với hình thức đầu tư theo Hợp đồng hợp
tác kinh doanh;
• Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư (do nhà đầu tư lập và chịu trách
nhiệm).
Hồ sơ đăng ký đầu tư trong trường hợp gắn với thành lập tổ chức kinh tế:
Trong trường hợp đăng ký dự án có vốn đầu tư nước ngoài có gắn với thành lập
tổ chức kinh tế, nhà đầu tư phải nộp một bộ hồ sơ đến cơ quan nhà nước quản lý
đầu tư, bao gồm các tài liệu sau:
• Bản đăng ký/đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với trường hợp gắn
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
với thành lập tổ chức kinh tế
• Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư (do nhà đầu tư lập và chịu
trách nhiệm).
• Hồ sơ đăng ký kinh doanh tương ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp theo
quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật có liên quan
• Hợp đồng liên doanh đối với hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án
đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan quan nhà
nước quản lý đầu tư để cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Thủ tục đăng ký đầu tư: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được hồ sơ đăng ký đầu tư và hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ, cơ quan nhà
nước quản lý đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký đầu tư, hồ sơ đăng
ký kinh doanh (đối với trường hợp thành lập tổ chức kinh tế gắn với dự án đầu
tư) và cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
1.1.2.3.5.Xúc tiến đầu tư nhằm thu hút FDI vào lĩnh vực dịch vụ giáo dục
Xúc tiến đầu tư thực chất là hoạt động đối ngoại nhằm quảng bá hình ảnh
môi trường đầu tư hấp dẫn trong nước ra các nước trên thế giới, qua đó kêu gọi
đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
1.1.2.3.6.Các chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động thu hút FDI
Có nhiều chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động thu hút FDI. Sau đây là các
chỉ tiêu cơ bản:
Quy mô vốn FDI: Đây là tổng vốn FDI đã thu hút được trong một khoảng
thời gian nhất định. Chỉ tiêu này thường được xem xét trước tiên khi đánh giá
kết quả thu hút FDI. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
Số lượng các dự án FDI: Hoạt động FDI được thực hiện thông qua các dự
án FDI. Vì thế, về cơ bản, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Tuy nhiên, việc xem
xét chỉ tiêu này cần phải đi kèm với việc đánh giá quy mô, tính khả thi và hiệu
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
quả của dự án.
Số vốn bình quân của một dự án FDI: Chỉ tiêu này cho biết quy mô bình
quân của mỗi dự án. Mặc dù có được nhiều dự án FDI nhưng nếu số vốn bình
quân của một dự án nhỏ thì tổng lượng vốn FDI thu hút được sẽ không lớn và
hiệu quả kinh tế xã hội tạo ra sẽ không nhiều. Do vậy, bất kỳ quốc gia nào cũng
mong muốn chỉ tiêu này cao.
Tốc độ thu hút FDI: Chỉ tiêu này cho biết quy mô vốn FDI tăng hay giảm
và tăng, giảm nhanh hay chậm. Dựa vào chỉ tiêu này có thể so sánh được kết quả
thu hút FDI ở thời kỳ này so với thời kỳ khác.
Cơ cấu FDI: Có nhiều loại cơ cấu FDI: cơ cấu FDI theo lĩnh vực, theo
vùng, theo đối tác đầu tư và theo hình thức đầu tư. Cơ cấu FDI cho biết sự phân
bố, xu hướng vận động, phát triển của FDI, từ đó nước sở tại có những điều
chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và quy hoạch của đất nước.
Trên đây là một số chỉ tiêu cơ bản dùng để đánh giá kết quả thu hút FDI.
Việc tính toán các chỉ tiêu trên cho từng quốc gia qua các năm cho thấy quy mô,
tốc độ, xu hướng FDI thu hút được vào các ngành, các vùng, hình thức đầu tư,
đối tác đầu tư Cần phải xem xét tất cả các chỉ tiêu để có được cái nhìn toàn
diện về hiệu quả hoạt động thu hút FDI cả về mặt chất và mặt lượng.
1.1.3.Những cam kết đối với việc phát triển lĩnh vực dịch vụ nói chung và dịch
vụ giáo dục nói riêng của WTO
Theo cam kết, Việt Nam phải mở cửa 110 phân ngành thuộc 11 ngành
dịch vụ cho các thành viên WTO. Những cam kết này liên quan đến chế độ đầu
tư, hình thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất, các biện pháp về thuế, trợ cấp
cho doanh nghiệp trong nước Riêng về giáo dục thì tại khoản 3, điều 10 Hiệp
định chung về thương mại dịch vụ của WTO có nói về giáo dục: trừ hoạt động
giáo dục có nguồn tài trợ triệt để của Quốc gia; còn lại tất cả các hoạt động giáo
dục có thu học phí, hoặc mang tính thương mại đều thuộc phạm trù thương mại
giáo dục. Trong 12 nhóm thương mại dịch vụ, thì dịch vụ giáo dục thuộc nhóm
thứ 5. Dịch vụ nhóm này bao gồm: dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ giáo dục
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét