Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các Lâm trường quốc doanh trong giai đoạn đến 2010

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Những đổi mới quan trọng trong đường lối của Đảng mang tính đột phá
về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế có đặc điểm như
4
:
 Thực hiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi thành phần có
vị trí quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế; mỗi doanh nghiệp cũng đan xen
nhiều hình thức sở hữu; thực hiện bình đẳng và cạnh tranh để phát triển.
 Sở hữu nhà nước có thể tồn tại ở nhiều hình thức tổ chức kinh tế, kinh
tế nhà nước có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế vì chiếm lĩnh một số ngành
và một số lĩnh vực cơ bản.
 Hợp tác là tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở người lao động
tự nguyện góp sức, góp vốn và quản lý dân chủ, với mọi qui mô và mức độ
tập thể hoá tư liệu sản xuất khác nhau; phát huy vai trò tự chủ của xã hội viên.
Hợp tác xã chủ yếu là dịch vụ, hỗ trợ và hướng dẫn, giúp đỡ xã viên; đồng
thời phát triển nhiều hình thức kinh tế hợp tác đa dạng.
 Kinh tế cá thể có vai trò quan trọng; có thể tham gia nhiều hình thức
liên kết, hợp tác khác nhau để có thể tiếp tục phát triển lớn hơn.
 Kinh tế tư bản tư nhân là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế
của nền kinh tế quốc dân, có khả năng góp phần xây dựng đất nước, được
phát triển không hạn chế trong những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không
cấm, được khuyến khích như mọi thành phần kinh tế khác.
 Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, phân phối dựa trên mức độ đóng góp của các nguồn
lực vào sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Tuy nhiên việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện
nay không phải là bằng bất cứ cách nào, mà Đảng ta chủ trương phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần phải dựa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. “Nền
kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế
4
Kinh tế Nhà nước và quá trình đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước, Ngô Quang Minh, NXB chính trị quốc
gia,1998.
5
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
vận động theo hướng Kinh tế Nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo và cùng
với Kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng”
5
.
Nền kinh tế nhiều thành phần được hình thành ở nước ta là nền kinh tế
dựa trên nhiều hình thức sở hữu. Yêu cầu khách quan của nền kinh tế nhiều
thành phần đặt ra cho tất cả các hình thức sở hữu là phải xác định và xác nhận
rõ quyền sở hữu đối với tài sản, tiền vốn, chất xám; làm rõ quyền sở hữu
thuộc về ai và xác định ai đó có bao nhiêu quyền sở hữu dưới dạng tiền tệ
nhằm mục đích định lượng hoá quyền sở hữu của từng người. Không có sở
hữu chung chung, vô chủ và cũng không có quyền sở hữu như nhau cho tất cả
mọi người.
Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta vừa chịu sự điều tiết theo cơ
chế thị trường vừa chịu sự điều tiết của Nhà nước. Thị trường và Nhà nước
đều đóng vai trò là người phân bổ nguồn lực cho sự phát triển của nền kinh tế.
Đề cao quá mức vai trò của thị trường và coi nhẹ hay phủ nhận vai trò của
Nhà nước hoặc ngược lại đều không thể đạt được sự tăng trưởng và phát triển
của nền kinh tế.
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một
chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Từ khi được khẳng định, chủ
trương này đã đi vào cuộc sống, góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo ra sự
chuyển biến mạnh mẽ trong nền kinh tế nước ta, khắc phục căn bản khủng
hoảng kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh, cải thiện
đời sống nhân dân. Tuy nhiên bên cạnh mặt được, tích cực, trong sự vận
động, phát triển các thành phần kinh tế đã bộc lộ hạn chế. Kinh tế Nhà nước
chưa phát huy hết vai trò chủ đạo của mình, vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp
còn nhiều lúng túng trong quá trình triển khai. Kinh tế hợp tác chậm đổi mới
và phát triển, Kinh tế tư nhân, cá thể, liên doanh chưa được quản lý chặt chẽ.
5
Tập thể tác giả, Kinh tế chính trị Mác- Lênin, Học viện Hành chính Quốc gia, 2001.
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Vấn đề đặt ra là cần phải làm rõ vai trò vị trí, thực trạng và xu thế vận động
của mỗi thành phần kinh tế. Trên cơ sở đó lựa chọn những hình thức kinh tế
thích hợp, những giải pháp thoả đáng thúc đẩy các thành phần kinh tế tiếp tục
phát triển.
1.1.1 Khái niệm và vai trò của Kinh tế Nhà nước, Doanh
nghiệp Nhà nước.
1.1.1.1 Khái niệm Kinh tế Nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước
Kinh tế Nhà nước là khu vực kinh tế do nhà nước nắm giữ, dựa trên cơ
sở quan trọng là sở hữu Nhà nước. Hay nói cách khác Kinh tế Nhà nước là
toàn bộ hoạt động kinh tế thuộc sở hữu của Nhà nước, trên cơ sở đó Nhà
nước có quyền quản lý, sử dụng hiệu quả kinh tế do lực lượng kinh tế của
Nhà nước mang lại. Kinh tế Nhà nước phải là và bao gồm những hoạt động
kinh tế mà Nhà nước là chủ thể, có quyền tổ chức, chi phối hoạt động theo
hướng đã định.
Kinh tế Nhà nước được thể hiện dưới nhiều hình thức hoạt động khác
nhau với các hình thức tổ chức tương ứng, như hoạt động trong các lĩnh vực
sản xuất, dịch vụ, các hoạt động đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội mà
ở đó Nhà nước biểu hiện như một chủ sở hữu, chủ thể kinh doanh, người
tham gia. Nghĩa là kinh tế Nhà nước có nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ
phận hợp thành kinh tế Nhà nước có chức năng và nhiệm vụ khác nhau.
Nếu xét theo lĩnh vực hoạt động, thì khu vực kinh tế Nhà nước bao gồm
các hoạt động kinh tế của Nhà nước trong:
- Hoạt động trực tiếp sản xuất- kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
- Hoạt động kinh tế nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội.
Về hình thức tổ chức, khu vực kinh tế Nhà nước bao gồm nhiều bộ phận
hoạt động trong các lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế quốc dân. Cụ
thể:
7
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
- Ngân sách Nhà nước.
- Ngân hàng Nhà nước.
- Kho bạc Nhà nước.
- Các quỹ dự trữ quốc gia.
- Các tổ chức sự nghiệp có thu.
- Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước.
Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995, thì “Doanh nghiệp Nhà
nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý,
hoạt động kinh doanh hoặc công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã
hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, có các
quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh
doanh trong phạm vi do doanh nghiệp quản lý”
6
.
Tuy nhiên, theo cách hiểu hiện nay của Luật Doanh nghiệp Nhà nước
được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp
thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, và có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 7 năm 2004; thì “Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà
nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ
chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn”
7
. Doanh nghiệp Nhà nước là bộ phận chính yếu của khu vực kinh
tế Nhà nước- một lực lượng vật chất cơ bản, đảm bảo cho việc thực hiện các
mục tiêu kinh tế- xã hội của Nhà nước.
Một doanh nghiệp được coi là Doanh nghiệp Nhà nước khi có đủ 3
điều kiện:
 Nhà nước là cổ đông chính.
 Doanh nghiệp có nhiệm sản xuất ra hàng hoá dịch vụ để bán.
6
Luật Doanh nghiệp Nhà nước, 1995. Chương I, Điều 1.
7
Luật Doanh nghiệp Nhà nước, 2004, chương I, Điều 1.
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
 Có hạch toán lãi lỗ.
Nếu xét theo mục tiêu hoạt động thì các doanh nghiệp Nhà nước chia
làm 3 nhóm:
 Nhóm các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích. Theo Luật
Doanh nghiệp Nhà nước sửa đổi đã loại bỏ loại hình thức doanh nghiệp công
ích và thay bằng hoạt động công ích, các sản phẩm, dịch vụ công ích được
Nhà nước thực hiện bằng cách “đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá
hoặc phí do Nhà nước quy định”
8
.
 Nhóm các doanh nghiệp Nhà nước bán công ích- sản xuất kinh doanh
hàng hoá công ích.
 Nhóm các doanh nghiệp Nhà nước thuần tuý kinh tế.
1.1.1.2 Vai trò của Kinh tế Nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước.
Kinh tế Nhà nước là bộ phận quan trọng, có tác động thiết thực trong
cơ cấu kinh tế của mỗi nước. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn chủ
trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa và thành phần kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân tức là nó phải có khả năng chi phối xu thế phát triển kinh tế- xã hội
của đất nước. Vai trò đó được thể hiện trên các mặt:
9
 Kinh tế Nhà nước trở thành lực lượng vật chất và công cụ sắc bén để
Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và quản lý vĩ mô nền
kinh tế.
 Hoạt động của khu vực kinh tế Nhà nước là nhằm mở đường, hướng
dẫn, hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế khác.
 Kinh tế Nhà nước là lực lượng xung kích chủ yếu thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
8
Luật Doanh nghiệp Nhà nước, 2004, chương I, điều 3, Khoản 12.
9
Ngô Quang Minh, Kinh tế Nhà nước và quá trình đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước, NXB chính trị quốc
gia,1998.
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
 Kinh tế Nhà nước nắm giữ các vị trí then chốt trong nền kinh tế nhằm
đảm bảo các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cũng như tạo đà tăng trưởng lâu
dài, bền vững và hiệu quả cho nền kinh tế.
 Kinh tế Nhà nước trực tiếp tham gia khắc phục mặt trái của cơ chế thị
trường và điều chỉnh nó.
 Kinh tế Nhà nước phải là hình mẫu về ứng dụng tiến bộ khoa học-
công nghệ, về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế- xã hội và chấp hành
pháp luật.
 Thực hiện dự trữ quốc gia nhằm đảm bảo hành lang an toàn cho nền
kinh tế.
 Giải quyết các vấn đề xã hội.
 Kinh tế nhà nước là nền tảng cho chế độ xã hội mới.
Vai trò của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước gắn liền với việc tham gia
vào hoạt động kinh tế của Nhà nước. Các doanh nghiệp Nhà nước vừa là chủ
thể kinh doanh, vừa là lực lượng trực tiếp tạo cơ sở vật chất cho xã hội, vừa là
lực lượng nòng cốt để Nhà nước dẫn dắt, mở đường cho các thành phần kinh
tế khác cùng phát triển. Vai trò này được thể hiện trên 3 khía cạnh: kinh tế,
chính trị, xã hội. Cụ thể là
10
:
 Là công cụ chủ yếu tạo ra sức mạnh vật chất để Nhà nước giữ vững
sự ổn định xã hội, điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
 Mở đường dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự
tăng trưởng nhanh và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế.
10
Ngô Quang Minh, Kinh tế Nhà nước và quá trình đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước, NXB chính trị quốc
gia,1998.
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
 Đảm nhận các lĩnh vực hoạt động có tính chiến lược đối với sự phát
triển kinh tế- xã hội: cung ứng các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu (giao thông,
thuỷ lợi, điện, nước…, an ninh quốc phòng, xã hội (giáo dục, y tế,…)
 Góp phần quan trọng khắc phục những khiếm khuyết của cơ chế thị
trường.
 Là lực lượng xung kích tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ nhằm thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
 Là lực lượng đối trọng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước,
chống sự lệ thuộc vào nước ngoài về kinh tế.
 Thực hiện một số chính sách xã hội.
 Là lực lượng tạo nền tảng cho xã hội mới.
Tóm lại, khu vực kinh tế Nhà nước và hệ thống doanh nghiệp Nhà
nước là những phạm trù kinh tế có cùng bản chất tuy khác nhau về cấp độ.
Vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước rộng hơn và bao hàm cả vai trò quan
trọng cả hệ thống doanh nghiệp Nhà nước. Nói đến vai trò chủ đạo là nói đến
vai trò của cả hệ thống kinh tế Nhà nước trong đó các doanh nghiệp Nhà nước
là bộ phận chính yếu, là phương tiện, công cụ, lực lượng đi đầu mở đường
cho sự phát triển kinh tế.
1.1.2 Sự cần thiết phải đổi mới các Doanh nghiệp Nhà nước
Trong điều kiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, doanh nghiệp Nhà nước
(trước đây là xí nghiệp quốc doanh) chiếm vị trí độc tôn trong nền kinh tế. Đó
là những doanh nghiệp hạch toán kinh tế theo nguyên tắc thu đủ chi đủ được
bao cấp. Về mặt sở hữu, đó là những doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn
100% và trực tiếp quản lý.
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc
đổi mới cơ chế quản lý luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Việc đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước là sự vận dụng của Đảng và Nhà
nước Việt Nam, là quy luật tất yếu và cũng xuất phát từ thực trạng hoạt động
không hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong cơ chế thị
trường, được nuôi dưỡng bằng chế độ bao cấp nên nhiều xí nghiệp quốc
doanh rơi vào tình trạng trì trệ, lãng phí nguồn tài lực xã hội, làm ăn thua lỗ
kéo dài, tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, chậm trễ trong các khoản nộp
ngân sách Nhà nước,… đã làm cho khu vực kinh tế này kém hiệu quả trở
thành gánh nặng cho nền kinh tế quốc dân.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng Kinh tế
Nhà nước hoạt động chưa hiệu quả là do chậm tháo gỡ các vướng mắc về cơ
chế, chính sách để tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Nhà
nước nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân.
Từ thực tế đó, mà Nhà nước ta đã tiến hành cải cách các doanh nghiệp
Nhà nước, chuyển đổi sở hữu nhằm khắc phục từng bước tình trạng yếu kém.
Vấn đề quan trọng để các doanh nghiệp tiếp tục phát triển và đổi mới là người
lao động phải được đảm bảo lợi ích, khắc phục tình trạng doanh nghiệp Nhà
nước, tài sản Nhà nước không có người làm chủ cụ thể, làm chủ trực tiếp, làm
chủ một cách có trách nhiệm. Các giải pháp chung nhất là chuyển đổi sở hữu
làm tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp như cổ phần hoá, bán, khoán,
cho thuê doanh nghiệp Nhà nước, giảm sự can thiệp của Nhà nước, cải cách
cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, hình thành các tổng công ty, … Muốn vậy,
Nhà nước phải kiên quyết sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, xử lý đúng
đắn những xí nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, xây dựng một số mô hình doanh
nghiệp Nhà nước mới năng động và có hiệu quả.
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của các Lâm trường quốc
doanh.
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Lâm trường quốc doanh.
1.2.1.1 Khái niệm Lâm trường quốc doanh.
Thuật ngữ “Lâm trường quốc doanh” xuất hiện ở nước ta vào những
năm cuối cùng của thập kỷ 50 của thế kỷ XX, cùng với quá trình chuyển đổi
các Trạm trồng rừng Nam Quảng Bình và các Chi nhánh Quốc doanh Lâm
khẩn thành các đơn vị kinh tế, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập,
được giao làm nhiệm vụ trồng rừng hoặc khai thác gỗ. Trước đây, do xác định
khái niệm và nhiệm vụ của lâm trường không rõ nên đã từng tồn tại thời kỳ
mà ngành lâm nghiệp xác định nhiệm vụ chủ yếu nhất của Lâm trường quốc
doanh là khai thác gỗ hoặc trồng rừng theo nhu cầu vốn đầu tư của Nhà nước.
Do đó rừng còn gỗ thì còn Lâm trường quốc doanh, rừng hết gỗ khai thác thì
giải tán Lâm trường quốc doanh. Trên phạm vi hoạt động của Lâm trường
quốc doanh nếu còn đất trống và Nhà nước cấp vốn xây dựng cơ bản thì Lâm
trường quốc doanh còn trồng rừng. Nếu không còn đất trống hoặc Nhà nước
không cấp vốn nữa thì giải tán Lâm trường quốc doanh.
Theo tinh thần đổi mới, Nghị Quyết số 28 của Bộ Chính trị về tiếp tục
sắp xếp, đổi mới và phát triển Nông, Lâm trường quốc doanh ngày 16 tháng 6
năm 2003, Lâm trường quốc doanh được thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là
khai hoang mở rộng diện tích canh tác ở các vùng đất mới, phát triển sản xuất
lâm sản hàng hoá cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu;
sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
nông, lâm nghiệp; làm trung tâm xây dựng một số vùng kinh tế mới, nông
thôn mới; kết hợp phát triển với bảo đảm an ninh, quốc phòng ở những vùng
xung yếu, khó khăn.
11
11
Ban Chấp hành Trung uơng, Nghị quyết số 28 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển
Nông, Lâm trường quốc doanh.
13
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Như vậy, tổ chức quá trình sản xuất hợp lý trong lâm trường là kết hợp
chặt chẽ cả quá trình từ tạo rừng đến khai thác, chế biến và tiêu thụ lâm sản.
Có như vậy lâm trường mới thực sự là doanh nghiệp, thực hiện hạch toán
kinh doanh độc lập, tự chịu trách nhiệm lỗ, lãi.
Hiện nay, Lâm trường quốc doanh được hiểu là một tổ chức kinh tế do
Nhà nước thành lập, là một loại hình doanh nghiệp Nhà nước, được thực hiện
chế độ hạch toán kinh tế độc lập, là nơi có một tập thể công nhân viên chức
được Nhà nước giao vốn, được sử dụng một diện tích rừng và đất lâm nghiệp
thuộc sở hữu Nhà nước theo qui hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt để
thực hiện các kế hoạch nuôi trồng rừng, khai thác lâm sản, chế biến lâm sản
và các kế hoạch kinh doanh sản xuất khác do Nhà nước giao
12
. Lâm trường
quốc doanh được Nhà nước đầu tư vốn ban đầu, là đơn vị cơ sở của ngành
lâm nghiệp được Nhà nước giao quản lý và sử dụng một bộ phận quan trọng
là tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; được đầu tư tập trung về nhân lực, vốn,
kỹ thuật, là lực lượng chủ yếu thực hiện các kế hoạch của Nhà nước trong lĩnh
vực lâm nghiệp, góp phần vào phát triển kinh tế- xã hội an ninh quốc phòng ở
vùng miền núi, dân tộc
13
.
Nhiệm vụ cơ bản của Lâm trường quốc doanh thường được xác định
là:
- Nâng cao diện tích rừng và trữ lượng gỗ và lâm sản.
- Nâng cao chất lượng rừng.
- Bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên rừng.
- Tích cực mở rộng kinh doanh, đa dạng hoá các ngành nghề và sản
phẩm.
- Nâng cao các hiệu ích của rừng.
12
Bộ Kế hoạch và đầu tư, Đề tài: Tổ chức và chính sách đối với Lâm trường quốc doanh: Thực trạng và giải
pháp , 2001.
13
Nguyễn Văn Đẳng, Lâm nghiệp Việt Nam 1945-2000,, NXB nông nghiệp, 2001.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét