Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
tập trung và bao cấp của Nhà nớc, nên pháp luật lúc đó không có chế định phá
sản.
Sau khi đất nớc thống nhất nền kinh tế vẫn duy trì cơ chế quản lý tập
trung quan liêu bao cấp nên cũng không có chế định về phá sản. Sau Đại hội
Đảng VI nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng với cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần. Thừa nhận phá sản là hậu quả tất yếu của thị trờng và phải đợc điều chỉnh
bằng pháp luật. Ngày 30/12/1993 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá IX đã thông
qua Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam.
2. Khái niệm phá sản doanh nghiệp :
ở nhiều nớc hiện nay, do đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của mỗi nớc
mà mỗi quốc gia có các quan niệm rộng hẹp khác nhau về khái niệm phá sản.
Luật phá sản Australia năm 1966 quy định doanh nghiệp hay cá nhân
bị tuyên bố phá sản là doanh nghiệp không thể thanh toán đợc các khoản
nợ của mình và đang ở trong tình trạng tài chính bi đát khiến không có
khả năng thanh toán nợ đến hạn.
Luật phá sản Trung Quốc thi hành 1986, tại Điều 3 đã quy định: Xí
nghiệp thua lỗ nghiêm trọng vì quản lý kinh doanh không giỏi, không
thể thanh toán các món nợ đến hạn, bị tuyên bố phá sản
Pháp luật phá sản Pháp trớc 1985 để định nghĩa một doanh nghiệp
mất khả năng thanh toán nợ. Toà án thờng nhận xét thấy tình trạng tài
chính của doanh nghiệp đó đã lâm vào tình trạng nguy hại không có cách
nào cứu chữa đợc. Vì vậy dù cho tài sản của doanh nghiệp có đủ để thanh
toán tất cả các khoản nợ nhng không có khả năng trả các món nợ chắc
chắn đã đến hạn thì cũng bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Nói cách
khác khi tất cả tiền và tài sản sẵn có của doanh nghiệp không đủ để trả nợ
đến hạn thì doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ.
Luật phá sản cũ của Singapore năm 1985 quy đinh, đơn yêu cầu tuyên
bố phá sản dựa trên một số tình trạng đặc biệt nh chuyển tài sản doanh
nghiệp cho ngời khác hởng lời, có tạo ra các khoản chi mà pháp luật coi
là bất hợp lý khi doanh nghiệp bị đề nghị phá sản, cố ý lẩn tránh hoặc trì
hoãn nợ bằng cách bỏ trốn khỏi Singapore hoặc nằm lỳ ở nớc ngoài, bỏ
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
5
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
trốn khỏi nhà hoặc đóng cửa nhà, cửa hiệu, không kinh doanh để giấu
mặt, con nợ bị toà án xét xử bằng cách tịch thu tài sản.
Luật phá sản Vơng quốc Anh quy định một doanh nghiệp mất khả
năng thanh toán nợ khi có một chủ nợ số tiền trên 50 bảng đã:
Gửi đơn đòi nợ sau 3 tuần doanh nghiệp đã không trả đợc hoặc
không thơng lợng xong với chủ nợ hay không tìm đợc các biện pháp bảo
đảm cho số nợ.
Có án lệnh hoặc doanh nghiệp trả nợ nhng không thi hành đợc.
Khiếu nại số nợ không xong.
Tại Việt Nam khái niệm phá sản là vấn đề đợc bàn cãi rất nhiều trong
quá trình soạn thảo luật doanh nghiệp. Có quan điểm cho rằng chỉ định
nghĩa: Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp mất
khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn quan điểm này có phần máy
móc, phải có quy định về định lợng các khoản nợ không có khả năng
thanh toán; quan điểm khác cho rằng ngoài mất khả năng thanh toán và
còn phải mất khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; có quan
điểm cho rằng tình trạng phá sản là tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn
hoặc bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh đến mức tại thời điểm
nào đó, tổng số nợ của doanh nghiệp lớn hơn tổng số giá trị tài sản của nó.
Những quan điểm trên đây có những quan điểm không phù hợp với điều
kiện nớc ta. Nếu lấy tiêu chí tổng số nợ đến hạn lớn hơn tổng số tài sản doanh
nghiệp có mà tuyên bố phá sản thì sẽ tuyên bố phá sản tràn lan vì những doanh
nghiệp rơi vào tình trạng này không nhất thiết là không hồi vực đợc, thông qua
các biện pháp khất nợ, hoãn nợ, cải tiến quản lý sản xuất- kinh doanh, một
doanh nghiệp có thể hồi vực đợc để vừa có thể thanh toán nợ và phát triển bình
thờng.
Nếu lấy tiêu chí doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp
mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì khá trìu tợng, vì không thanh toán đợc
các khoản nợ đến hạn có thể chỉ có tính chất nhất thời trong một giai đoạn ngắn
nào đó, quan niệm này chỉ bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, nhng quyền lợi của
doanh nghiệp mắc nợ không đợc bảo đảm.
Ngợc lại nếu lấy tiêu chí bằng cách quy định về định lợng các khoản nợ
không có khả năng thanh toán, trên thực tế sẽ khó áp dụng vì phụ thuộc số lợng
nợ nhiều hay ít, phải so với cả quy mô, quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
6
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
Quy định tiêu chí này sẽ hạn chế quyền đệ đơn của các chủ nợ vì chủ nợ khó
biết đợc tổng số mất khả năng thanh toán của con nợ là bao nhiêu.
ở Anh, về vấn đề này đã phân biệt hai khái niệm khác nhau, đó là không
có khả năng chi trả và phá sản. Doanh nghiệp không có khả năng chi trả là việc
doanh nghiệp không có khả năng thoả mãn yêu cầu thanh toán nợ đến hạn cho
các chủ nợ bằng tài sản hiện có. Việc doanh nghiệp không đủ khả năng chi trả
hoàn toàn không phải lúc nào cũng có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản
chi trả, vì có thể doanh nghiệp không đủ tài sản để chi trả nhng bằng các khoản
vay, doanh nghiệp có thể còn khả năng chi trả. Doanh nghiệp có thể không có
khả năng chi trả nhng không bị coi là phá sản. Doanh nghiệp không có khả năng
chi trả không mang tính tạm thời mới là cơ sở cho việc tuyên bố phá sản doanh
nghiệp.
Trên cơ sở tham khảo Luật phá sản của các nớc vận dụng vào hoàn cảnh
Việt Nam, thích hợp hơn cả là khái niệm phá sản doanh nghiệp căn cứ hai điều
kiện:
Điều kiện thứ nhất: Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn.
Điều kiện thứ hai: Hiện tợng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
không phải là hiện tợng nhất thời mà đã lâm vào tình trạng trầm trọng.
Với ý nghĩa này, Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam đã đợc Quốc hội
thông qua ngày 30/12/1993, có hiệu lực thi hành từ 01/07/1994 đa ra khái niệm:
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn
hoặc bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi đã áp dụng các
biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.
(Điều 2 Luật phá sản doanh nghiệp).
3. Dấu hiệu đánh giá doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản:
Phá sản là một hậu quả tất yếu của nền kinh tế thị trờng, pháp luật Việt
Nam đã phản ánh hiện tợng phá sản doanh nghiệp trong Điều 17 Luật doanh
nghiệp t nhân và Điều 24 Luật công ty ban hành cùng ngày 21/12/1990 (cha sửa
đổi) đã nêu: Luật công ty (hay Luật doanh nghiệp t nhân) gặp khó khăn hoặc
bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh đến mức tại một thời điểm
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
7
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
tổng số trị giá các tài sản còn lại của công ty (hay doanh nghiệp t nhân) lâm
vào tình trạng phá sản.
Nhng sau ngày 30/12/1990, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật phá
sản doanh nghiệp, thì định nghĩa trên đã đợc sửa đổi. Điều 2 Luật phá sản doanh
nghiệp năm 1994 đã quy định rằng: Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau
khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh
toán nợ đến hạn .
Nh vậy cốt lõi của vấn đề phá sản là: mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn và khi xem xét trong luật ta thấy các dấu hiệu đã nêu ở Điều 2 Luật phá
sản doanh nghiệp còn có các dấu hiệu sau đây:
1. Ba mơi ngày sau khi nhận đợc giấy đòi nợ đến hạn mà doanh nghiệp
vẫn cha thanh toán (Điều7 Luật phá sản doanh nghiệp).
2. Doanh nghiệp không trả đợc lơng cho ngời lao động 3 tháng liên tiếp
(Điều 8 Luật phá sản doanh nghiệp).
Tuy nhiên việc định nghĩa các số nợ đến hạn còn là điều khó khăn, chẳng
hạn nếu doanh nghiệp mắc nợ vì vi phạm một điều kiện nào đó với chủ nợ nên
khi cha đến hạn thì xếp nợ này là loại đến hạn hay không? Bản án Toà đã cho
phép doanh nghiệp mắc nợ đợc trả nợ làm nhiều phân kỳ, việc không trả đúng
hạn một phần nợ hay phân kỳ thứ nhất có làm cho toàn thể khoản nợ phải trả
trở thành nợ đến hạn hay không?
Đối với trờng hợp nợ lơng của ngời lao động. Luật không nói rõ trờng hợp
doanh nghiệp chỉ có khả năng trả một phần lơng cho ngời lao động trong ba
tháng liên tiếp thì giải quyết ra sao, điều này đợc giải thích tại Khoản 1 Điều 3
Nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 của Chính phủ, hớng dẫn thi hành Luật phá
sản doanh nghiệp, là doanh nghiệp dù chỉ trả một phần lơng trong ba tháng liên
tiếp vẫn bị coi là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Dù Nghị định chỉ nói đến
khoản nợ lơng, tuy nhiên cần phải hiểu các khoản nợ, ngoài lơng ra thì các
khoản mang tính phụ cấp kể cả các lợi ích khác nh bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi
việc, tiền thởng đã đợc quy định trong thoả ớc lao động đều đợc xem nh là nợ
lơng.
Cũng theo Nghị định 189/CP, điều quan trọng cần phải xem xét là việc
không trả đủ lơng cho ngời lao động chỉ đợc xem là dấu hiệu doanh nghiệp lâm
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
8
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
vào tình trạng phá sản khi việc không trả đủ lơng là hậu quả của việc doanh
nghiệp kinh doanh thua lỗ trong hai năm liên tiếp (Điều 3 Nghị đinh 189/CP).
3. Nh vậy một dấu hiệu thứ 3 nữa cho thấy là doanh nghiệp phải rơi vào
tình trạng thua lỗ trong hai năm liên tiếp. Dấu hiệu này là cốt lõi, là
nguyên nhân, còn hai dấu hiệu kia là hậu quả bổ sung cho dấu hiệu thứ
3.
Ba dấu hiệu này là một thể thống nhất, không thể chia cắt trong việc đánh
giá doanh nghiệp có lâm vào tình trạng phá sản hay không? Thực tế, có doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ hàng năm liền nhng vẫn đủ tài chính để thanh toán nợ đến
hạn và ngợc lại dù thiếu nợ nhng doanh nghiệp vẫn làm ăn phát triển, tài chính
vẫn đầy đủ: Việc không trả đúng hạn có thể do việc cố ý trả chậm để dùng tiền
vào việc kinh doanh hoặc tiền từ các tổ chức tín dụng hay con nợ của doanh
nghiệp chậm chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp.
Điều 9 Luật phá sản doanh nghiệp nêu biện pháp hoãn nợ là một trong
các biện pháp tài chính cần thiết, Nghị định 189/CP tại Khoản 2 Điều 2 đã nêu
cụ thể 5 biện pháp tài chính cần thiết mà doanh nghiệp mắc nợ phải áp dụng:
1.Có phơng án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các
khoản chi phí tìm kiếm thị trờng tiêu thụ sản phẩm.
2. Có biện pháp sử lý hàng hoá, sản phẩm, vật t tồn đọng.
3.Thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng.
4. Thơng lợng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ, giảm xoá
nợ.
5. Tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay để trang trải các khoản
nợ đến hạn và đầu t đổi mới công nghệ.
Các biện pháp tài chính này phải thực hiện trong khoảng thời gian 2 năm,
theo niên độ kế toán tính theo năm dơng lịch từ ngày 01/01 đến hết ngày 31/12
mà trong thời gian đó doanh nghiệp đang hoạt động thua lỗ, vì đòi hỏi doanh
nghiệp áp dụng biện pháp tài chính sau hai năm thua lỗ sẽ hạn chế quyền đệ đơn
tuyên bố phá sản tại Toà án của các chủ nợ, mà còn tạo điều kiện cho các con
nợ trì hoãn bất hợp lý việc trả nợ bằng cách loại ra lý do cha áp dụng các biện
pháp tài chính cần thiết. Hơn nữa nếu cho phép doanh nghiệp sau hai năm thua
lỗ mới áp dụng các biện pháp tài chính thì việc đó sẽ tuỳ thuộc phơng án hoà
giải do hội nghị chủ nợ thông qua.
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
9
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
Vấn đề còn lại ở đây là phải có các biện pháp bắt buộc mà tất cả các
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải thực hiện thì toà án mới xem xét
giải quyết hay không theo Điều 3 Khoản 3 (Nghị định 189/CP) đòi hỏi một
doanh nghiệp khi kinh doanh hợp pháp thông thờng khi lâm vào tình trạng phá
sản tìm mọi biện pháp tài chính hợp pháp để cứu vãn doanh nghiệp nhằm thanh
toán đợc nợ. Do đó việc doanh nghiệp áp dụng các biện pháp tài chính sẽ thể
hiện ý chí không muốn chiếm đoạt tài sản và do việc này sẽ đợc luật pháp cho
phép hởng sự khoan hồng bằng các thủ tục phá sản luật định - việc doanh
nghiệp mắc nợ không bắt buộc các biện pháp cứu vãn, thể hiện sự vô trách
nhiệm của doanh nghiệp đối với các khoản nợ và trong ý nghĩ nào đó doanh
nghiệp đã cố tình chiếm đoạt tài sản ngời khác, điều này sẽ đợc xem là phá sản
gian trá và có thể sẽ bị điều chỉnh bằng pháp luật về hình sự để buộc con nợ có
trách nhiệm cao nhất trong việc khắc phục hậu quả do mình gây ra.
4.Phân biệt phá sản với giải thể:
Phá sản là một thủ tục t pháp đặc biệt, đặc trng quan trọng này giúp ta
phân biệt dễ dàng phá sản và giải thể góp phần giải quyết triệt để hơn những
hậu quả xấu do doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đem lại.
Xét về hiện tợng thì phá sản và giải thể nói chung đều dẫn đến chấm dứt
sự tồn tại của doanh nghiệp và phân chia tài sản còn lại của các chủ nợ, giải
quyết quyền lợi cho ngời làm công. Nhng xét về bản chất chúng có sự khác
nhau cơ bản đó là:
- Nguyên nhân của phá sản là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn do thua lỗ trong kinh doanh, còn lý do giải thể thì rộng hơn nhiều. Ví dụ nh
cơ sở sản xuất kinh doanh có thể chấm dứt hoạt động khi mục tiêu đề ra không
đạt đợc thậm chí có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động vì lý do vi phạm pháp
luật nghiêm trọng.
- Thủ tục tiến hành giải thể là thủ tục mang tính chất hành chính gắn liền
với hình thức tổ chức doanh nghiệp, do doanh nghiệp tự tiến hành. Các quy định
về giải thể đợc ghi nhận trong các văn bản pháp luật về thành lập, tổ chức và
hoạt động các loại hình doanh nghiệp. Còn thủ tục phá sản là thủ tục t pháp, do
toà án tiến hành theo quy định riêng của pháp luật phá sản.
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
10
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
Việc giải thể cơ sở sản xuất kinh doanh có thể tiến hành do ý chí tự
nguyện của chủ doanh nghiệp sau khi đã đợc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy
phép thành lập chấp nhận ( đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh) hoặc do
cơ quan quản lý nhà nớc đã ra quyết định thành lập doanh nghiệp cho phép (đối
với doanh nghiệp Nhà nớc).
Trái lại việc tuyên bố phá sản chỉ thuộc thẩm quyền của toà án.
- Về nguyên tắc, cả phá sản và giải thể phải giải quyết triệt để chấm dứt
mọi quan hệ pháp lý mà doanh nghiệp đã thiết lập và cam kết thực hiện, xong
cách thức thực hiện lại khác nhau:
Giải thể doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và thanh
lý hết hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết (Điều 23 Luật công ty và Điều 16
Luật doanh nghiệp t nhân), còn phá sản không bắt buộc phải nh vậy, doanh
nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trên cơ sở trị giá tài sản thực có tức
là doanh nghiệp mắc nợ đợc Nhà nớc cho phép phân chia rủi ro với những ngời
mình mang nợ trên cơ sở tài sản còn lại của doanh nghiệp (tài sản phá sản).
-Về hậu quả pháp lý giải thể bao giờ cũng dẫn đến việc chấm dứt hoạt
động và xoá tên cơ sở kinh doanh, trong khi đó phá sản bao giờ cũng dẫn đến
kết cục nh vậy. Chẳng hạn khi có ngời mua lại toàn bộ doanh nghiệp bị phá
sản, họ vẫn có thể giữ nguyên tên hoặc thậm chí cá nhân, mác thơng phẩm để
tiếp tục duy trì sản xuất kinh doanh. Trờng hợp này chỉ có chủ doanh nghiệp bị
phá sản mà thôi.
Thái độ của Nhà nớc đối với chủ sở hữu hoặc ngời điều hành doanh
nghiệp cũng hoàn toàn khác nhau:
Pháp luật nhiều nớc quy định cấm chủ sở hữu hay ngời quản lý, điều hành
sản xuất kinh doanh bị phá sản không đợc hành nghề trong một thời gian nhất
định.
Điều 50 Luật phá sản quy định: Giám đốc, Chủ tịch và các thành viên
trong Hội đồng quản trị doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản không đợc đảm đ-
ơng chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nào trong thời hạn từ 1- 3 năm kể từ
ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản .
Tuy nhiên luật cũng quy định một số trờng hợp đặc biệt không bị hạn chế
quyền điều hành sản xuất kinh doanh đó là:
- Doanh nghiệp bị phá sản vì lý do bất khả kháng do Chính phủ quy định.
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
11
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
- Giám đốc, Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng quản trị không trực
tiếp chịu trách nhiệm về lý do doanh nghiệp bị phá sản.
- Giám đốc hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị đã tự nguyện đệ đơn xin phá
sản doanh nghiệp đúng pháp luật và trả đủ nợ cho các chủ nợ.
Tất cả những quy định này nhằm khuyến khích ý thức trách nhiệm cao
của các chủ doanh nghiệp và những ngời quản lý doanh nghiệp đối với những
món nợ trong kinh doanh. Ngợc lại trờng hợp doanh nghiệp bị giải thể thì vấn đề
hạn chế quyền kinh doanh không đặt ra.
II.Pháp luật về phá sản doanh nghiệp:
1. Khái niệm pháp luật về phá sản doanh nghiệp:
Phá sản là hiện tợng khách quan phản ánh hậu quả của cuộc cạnh tranh
sinh tồn trong nền kinh tế thị trờng. Pháp luật về phá sản là yếu tố thuộc thợng
tầng kiến trúc phản ánh hiện tợng khách quan đó và tác động lại đối với nền
kinh tế thị trờng. Nếu phản ánh đúng, phù hợp với pháp luật phá sản thì sẽ phát
huy tác dụng sắp xếp lại doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngợc lại,
nếu phản ánh sai lệch pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế. Vì vậy
pháp luật phá sản phải không ngừng hoàn thiện cho phù hợp với sự thay đổi của
hiện tợng phá sản và phản ánh đúng hiện tợng, bản chất của phá sản nhằm đa ra
pháp luật phá sản vào thực tế cuộc sống.
Pháp luật phá sản là tổng thể các quy phạm pháp luật đợc Nhà nớc ban
hành có liên quan đến việc giải quyết một vụ yêu cầu tuyên bố phá sản. Trong
pháp luật kinh tế pháp luật về phá sản doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng
trong hệ thống pháp luật về phá sản doanh nghiệp thì Luật phá sản giữ vai trò
chủ đạo.
ở nhiều nớc vấn đề xử lý phá sản thuộc đối tợng điều chỉnh của nhiều
loại văn bản khác nhau. Ví dụ ở Anh bên cạnh Luật phá sản 1986 còn có luật
đình chỉ hoạt động giám đốc công ty, Luật mất khả năng thanh toán. ở Thuỵ
Điển thứ tự u tiên thanh toán đợc quy định tại một đạo luật riêng.
ở Việt Nam phá sản là một vấn đề còn rất mới mẻ, do vậy hệ thống pháp
luật phá sản còn nhiều hạn chế. Sau khi Luật phá sản doanh nghiệp đợc Quốc
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
12
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
hội thông qua ngày 30/12/1993 và đợc công bố vào ngày 30/12/1993, có hiệu
lực thi hành từ 01/07/1994. Các văn bản dới luật hiện có rất ít bao gồm: Nghị
định 189/CP ngày 23/12/1994 hớng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp và
Nghị định số 92/CP ngày 19/12/1995 của Chính phủ hớng dẫn quyền lợi giải
quyết của ngời lao động ở doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Để hớng dẫn cách
thức hoạt động của các chủ thể trong quá trình tham gia giải quyết phá sản còn
có Quyết định 426/QĐ ngày 01/07/1994 của Toà án nhân dân tối cao về Quy
chế hoạt động của tập thể thẩm phán; Quyết định số 528/QĐ của Bộ trởng Bộ T
pháp về Quy chế làm việc của Tổ quản lý, Tổ thanh toán tài sản. Nghị định
117/CP (07/09/1994) về án phí toà sán. Thậm chí quá trình làm việc của chúng
ta còn sử dụng các văn bản hớng dẫn nội bộ của Toà án tối cao cho các Toà án
địa phơng nh Công văn 457/KHXX về việc áp dụng một số quy định của Luật
phá sản doanh nghiệp.
Ngoài ra còn một số văn bản pháp luật đợc ban hành trớc đây về vấn đề
phá sản đã đợc đề cập nhng còn rất mờ nhạt. Ví dụ nh: Luật doanh nghiệp t
nhân, Luật công ty ban hành ngày 21/12/1990. Hiện tại các quy định này không
phù hợp nữa nên sau khi Luật phá sản đợc ban hành thì một số điều của Luật
doanh nghiệp t nhân và Luật công ty đã đợc sửa đổi.
Nh vậy theo thông lệ chung quốc tế pháp luật về phá sản của Việt Nam là
một hệ thống những quy phạm pháp luật chứa đựng những nội dung chủ yếu nh-
: Khái niệm phá sản, lý do điều kiện phá sản, các cơ quan có thẩm quyền giải
quyết phá sản, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giải quyết yêu cầu
phá sản, trình tự giải quyết phá sản và những quy phạm hớng dẫn xử lý các vấn
đề có liên quan đến phá sản.
2. Mục đích của pháp luật về phá sản:
Pháp luật về phá sản trớc hết và chủ yếu nhằm đáp ứng những mục tiêu
cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Bảo vệ quyền về tài sản của các chủ nợ.
Về mặt lịch sử pháp luật, ban đầu Luật phá sản chủ yếu chỉ bảo về lợi ích
của chủ nợ thơng gia bị vỡ nợ ngoài bị phát mãi tài sản còn phải bị bắt bán
làm nô lệ để trừ nợ hay bị giam cầm dù là phá sản đơn thuần hay gian trá.
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
13
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
Quan điểm pháp luật hiện đại nh hệ thống Pháp Mỹ Nhật có phần
khoan dung hơn, xem doanh nghiệp phá sản vì sa cơ thất thế, vì gặp vận không
may nên lâm vào tình trạng phá sản.
Luật phá sản Việt Nam trên tinh thần bảo vệ lợi ích chính đáng của cả
chủ nợ và con nợ, đã có những điều khoản cụ thể nhằm bảo vệ lợi ích không
những của chủ nợ mà cả lợi ích của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Nh chúng ta đã biết kinh doanh là một quá trình mạo hiểm mà nguy cơ
phá sản có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Khi cái chết của một doanh nghiệp
không phải bàn cãi gì nữa thì cái đáng quan tâm là phải bảo vệ sự sống còn của
các doanh nghiệp có quan hệ với nó. Cho nên mặc dù Luật phá sản ở các nớc là
rất khác nhau nhng tất cả các Luật phá sản đều tìm cách giải quyết các vấn đề
giống nhau. Vấn đề cơ bản nhất là nên giành thuận lợi thế nào cho chủ nợ. Sự
phá sản của một doanh nghiệp có thể gây ra sự phá sản tiềm năng của doanh
nghiệp khác. Do vậy, việc bảo vệ các doanh nghiệp chủ nợ là cần thiết.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình luật cho phép các chủ nợ
có thể gửi đơn yêu cầu đến cơ quan nhà nớc có thẩm quyền tuyên bố phá sản
doanh nghiệp mà mình cho rằng đã lâm vào tình trạng phá sản. Luật phá sản đã
quy định trình tự gửi đơn và tạo điều kiện cho các chủ nợ bảo vệ lợi ích chính
đáng của mình. Tuy nhiên, một doanh nghiệp phá sản sẽ có nhiều chủ nợ cùng
đòi, cho nên việc thanh toán giải quyết phá sản rất phức tạp. Để đảm bảo quyền
bình đẳng giữa các chủ nợ Luật phá sản quy định hội nghị chủ nợ có quyền giải
quyết vấn đề về tài sản, ở đó mọi vấn đề tài sản đợc đặt ra bàn bạc, quyết định
theo đa số, thoả thuận hoặc quyết định cuối cùng của hội đồng chủ nợ có giá trị
pháp lý.
Để tránh hiện tợng bừa bãi gây thiệt hại danh dự, lợi ích của doanh
nghiệp, Luật phá sản cũng quy định chủ nợ khi nộp đơn phải có đầy đủ bằng
chứng về số nợ của doanh nghiệp-Toà xem xét rất kỹ lỡng và toàn diện mọi
chứng cứ mới quyết định mở hay không mở thủ tục giải quyết phá sản và phải
nêu rõ lý do.
Đối với con nợ, việc tuyên bố phá sản còn là hình thức giải phóng cho
họ khỏi những ràng buộc về mặt pháp lý cũng nh đạo lý, tạo điều kiện và cơ hội
để đa cho họ trở lại môi trờng kinh doanh. Luật cho phép doanh nghiệp có thể
đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, từ thời điểm đó không một chủ
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét