Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Vận dụng một số phương pháp Thống kê phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp thời kỳ 2000-2007

NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hiệu quả
sản xuất kinh doanh
1.1. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.1 Khái niệm:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế thể hiện sự phát triển
kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực trong quá trình
tái sản xuất của đơn vị cơ sở. Nguồn lực ở đây bao gồm 3 yếu tố lao động,
vốn và đất đai.
Quan diểm 1: Hiệu quả kinh tế là biểu hiện của kết quả sản xuất bao gồm
: số lượng sản phẩm, GO, GDP, VA, lợi nhuận….
Quan điểm 2: Hiệu quả kinh tế là đại lượng được xác định bằng cách so
sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
đó. Hay nói cách khác hiệu quả kinh tế là đại lượng so sánh giữa kết quả đầu
ra so với chi phí đầu vào .
Quan điểm 3: Hiệu quả kinh tế là quan hệ tỉ lệ giữa phần tăng thêm của
kết quả sản xuất kinh doanh so với phần tăng thêm của chi phí.
Hiện nay chúng ta thường sử dụng quan điểm 2 để tìm hiểu và đánh giá
về hiệu quả kinh tế. Cũng theo quan điểm này ta có 2 cách hiểu khác nhau về
quan hệ so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào, tương ứng là 2 loại
chỉ tiêu hiệu quả kinh tế khác nhau:
- Nếu so sánh kết quả đầu ra và chi phí đầu vào bằng phép trừ thì ta có
hiệu quả tuyệt đối:
2
CPDVKQDRHQKT
−=
- Nếu so sánh kết quả đầu ra và chi phí đầu vào bằng phép chia thì ta có
hiệu quả tương đối:
CPDV
KQDR
HQKT
=
(chỉ tiêu dạng thuận)
hoặc
KQDR
CPDV
HQKT
=
(chỉ tiêu dạng nghịch)
1.1.2. Phân loại chỉ tiêu hiệu quả:
- Theo phạm vi tính toán ta có thể phân thành :
+ Hiệu quả kinh tế.
+ Hiệu quả xã hội.
+ Hiệu quả đầu tư.
+ Hiệu quả môi trường…
- Theo hình thức tính toán bao gồm:
+ Hiệu quả dạng thuận
+ Hiệu quả dạng nghịch
- Theo phạm vi tính các chỉ tiêu:
+ Hiệu quả đầy đủ
+ Hiệu quả tăng thêm
+ Hiệu quả cận biên
- Theo hình thái biểu hiện bao gồm:
+ Hiệu quả ẩn
+ Hiệu quả hiện
3
Hiện nay hầu hết các đơn vị mới chỉ tính toán được các chỉ tiêu hiệu quả
sản xuất kinh doanh dưới dạng hiện (hiệu quả hiện) mà chưa thể tính toán
được hiệu quả ẩn. Nguyên nhân chủ yếu là do không thể xác định được các
thiệt hại ẩn.
1.1.3 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh( Phân bieetk kết qur với
hiệu quả)
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù phản ánh mặt lượng cuả
các hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu
vào.
- Nếu như kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu
quả là phương tiện để đạt được mục tiêu đó.
1.2. Sự cần thiết phải tính và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.Ý
nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
* Sự cần thiết phải tính hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Có thể nói mục tiêu lâu dài, mục tiêu bao trùm của mọi doanh nghiệp là
tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành
sản xuất các sản phẩm nhằm cung cấp cho thị trường. Muốn sản xuất sản
phẩm, doanh nghiệp phải sử dụng các yếu tố đầu vào như: lao động, vốn, đất
đai…Khi doanh nghiệp càng tiết kiệm các yếu tố này bao nhiêu thì lợi nhuận
thu được càng lớn bấy nhiêu.
Mặt khác để tiết kiệm các nguồn lực, doanh nghiệp phải có chiến lược
sản xuất kinh doanh cụ thể, đúng đắn; phải phân bổ nguồn lực hợp lý, thường
xuyên điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. Để làm được điều đó càn phải đo
lường hiệu quả. Thông qua kết quả đo lường này mà ta có thể xác định được
hiệu quả sử dụng từng nguồn lực nói riêng và của toàn bộ các nguồn lực nói
4
chung. Từ đó mới biết được chiến lược sản xuất kinh doanh đúng ở mức nào,
phân bổ nguồn lực hợp lý và chưa hợp lý ở chỗ nào….Vì vậy việc tính toán
để đánh giá nhằm đưa ra các thông tin phục vụ cho việc đưa ra các quyết
định trong doanh nghiệp.
*) Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Chúng ta ngày càng sử dụng nhiều các nguồn lực cảu xã hội để sản xuất
ra sản phẩm. trong khi các nguồn lực sản xuất ngày càng khan hiếm thì nhu
cầu của con người lại ngày càng đa dạng, phong phú và dường như không có
giới hạn.Vì thế mà khi một doanh nghiệp tham gia thị trường thì phải đặt ra 3
câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Nếu doanh
nghiệp không tìm ra được phương án trả lời chính xác thì sẽ sử dụng sai
nguồn lực sản xuất xã hôi để sản xuất ra sản phẩm không có khả năng tiêu thụ
trên thị trường thì sẽ không thể tồn tại được.
Khi đã có khả năng tham gia vào thị trường, doanh nghiệp phải tìm cách
đứng vững và phát triển. Đặc biệt với nền kinh tế mở như hiện nay, doanh
nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh: về chất lượng, về giá cả,
về sự khác biệt hóa, ….Để duy trì lợi thế về giá cả, doanh nghiệp phải sử
dụng tiết kiệm nguồn lực hơn so với các doanh nghiệp khác.
Có thể nói hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù phản ánh tính
chất tương đối của việc sử dụng tiết kiệm nguồn lực, nó là điều kiện để thực
hiện mục tiêu lâu dài, bao trùm của doanh nghiệp. Ví thế nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình.
*) Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp tận dụng và
tiết kiệm được các nguồn lực hiện có.
5
- Thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ, tạo cơ sở thực hiên công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của cả nước.
- Nâng cao năng suất lao động, giúp giảm giá thành tạo ra lợi thế cạnh
tranh giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường.
- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thân cho ngưòi lao động.
Đặc biệt nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ có ý nghĩa
quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng mà còn quan trọng
trong sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Đó là cơ sở vật chất để
nâng cao mức sống dân cư. Ở nước ta hiện nay, khi tình trạng thiếu vốn trầm
trọng không cho phép phát triển nền kinh tế theo chiêu rộng (tăng nguồn lao
động, tăng nguồn vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh…) thì tăng hiệu quả sản
xuất kinh doanh là một trong các yếu tố làm tăng sự cạnh tranh, tạo ra lợi thế
trong quan hệ quốc tế.
1.3. Một số phương hướng phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh
Việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ
dừng lại ở việc tính toán các chỉ tiêu hiệu quả và so sánh chúng với một tiêu
chuẩn nào đó để xem xét doanh nghiệp đó có hiệu quả hay không và hiệu quả
ở mức nào. Quan trọng hơn cả là việc tính toán và so sánh các số liệu để thấy
được sự phát triển, tính đúng đắn cũng như sai lầm phạm phải trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
Để đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
một cách hiệu quả, cần tính toán các chỉ tiêu hiệu quả trong một thời gian dài
(nhiều tháng, nhiều quý, nhiều kỳ, nhiều năm…). Sau đó dùng các tiêu chuẩn
về hiệu quả để khẳng định xem có hay không có tính hiệu quả, phân tích xu
6
hướng các chỉ tiêu đó cũng như có thể tính toán được cho tương lai. Muốn
vậy cần tính toán và so sánh:
- So sánh theo thời gian: Ta có thể biết xu hướng vận động của chỉ tiêu
năng suất đó theo trong một thời gian dài, có thể phát hiện được xu thế vận
động qua thời gian. Tuy nhiên nhược điểm của cách so sánh này là ta chỉ so
sánh được “nó với chính nó” mà không so sánh được với tổng thể, dễ so sánh
cái “chưa tốt này” với cái “chưa tốt” khác.
- So sánh theo không gian: Càng so sánh ở phạm vi rộng thì việc đánh
giá càng chính xác. Mặc dù vẫn còn hàm chứa việc so sánh những cái chưa tốt
với nhau nhưng đây vẫn là cách so sánh tốt nhất.
- So sánh giữa thực tế và kế hoạch, định mức: Nhờ đó ta thấy được từng
chỉ tiêu ở từng thời kỳ là hơn hay kém so với kế hoạch hoặc định mức. Tuy
nhiên phương pháp này chỉ có ý nghĩa khi mà các kế hoạch đề ra sát với thực
tế, được tính toán dựa trên cơ sở khoa học.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Khi một doanh nghiệp tham gia thị trường nó luôn phải chịu tác động
của một loạt các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài lên hoạt động sản xuất
kinh doanh. Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng cho tha cái nhìn khách
quan về điểm mạnh cũng như điểm yếu trong bản thân doanh nghiệp, thấy
được các nguy cơ thách thức cũng như các cơ hội mà thị trường đem lại.
1.4.1 Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài:
Đây là các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Môi
trường kinh doanh của là tổng thể các yếu tố, các điều kiện khách quan và chủ
quan bên ngoài doanh nghiệp, luôn vận động biến đổi và có quan hệ tương tác
7
lẫn nhau; có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên các hoạt động của doanh
nghiệp.
Các nhân tố bên ngoài là các nhân tố mà doanh nghiệp không thể tác
động biến đổi được, nó tồn tại khách bên ngoài doanh nghiệp. Mỗi biến đổi
của nó ảnh hưởng rất mạnh mẽ lên doanh nghiệp. Tác động đó có thể theo
hướng tích cực hoặc tiêu cực. Vì thế đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên
quan tâm, tìm hiểu, phân tích để đưa ra các kế hoạch, chiến lược phù hợp với
sự thay đổi của môi trường.
Các yếu tố ảnh hưởng đó là:
• Yếu tố kinh tế
• Yếu tố chính trị- pháp luật
• Yếu tố công nghệ
• Các yếu tố tự nhiên
• Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng
1.4.2. Các nhân tố bên trong:
Đây là các nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể
tác động điều chỉnh các nhân tố này sao cho có thể phát huy hết khả năng
cũng như năng lực của mình, phát huy điểm mạnh, hạn chế các điểm yếu. Các
nhân tố bên trong ảnh hưởng đến hiệu suất lao động bao gồm:
• Lao động
• Cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật
• Quan điểm của nhà quản trị
• Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
8
1.5. Các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.5.1. Lựa chọn quyết định sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất
a) Quyết định mức sản xuất và phân bổ các yếu tố đầu vào
Tại một thời điểm nào đó doanh nghiệp có thể theo đuổi rất nhiều mục
tiêu ngắn hạn nhưng mục tiêu lâu dài và bao trùm của doanh nghiệp chính là
tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này, trong mọi thời kỳ doanh
nghiệp phải quyết định chính xác mức sản xuất của mình. Theo lý thuyết tối
ưu thì điều kiện thỏa mãn là doanh thu cận biên thu được từ sản phẩm cuối
cùng phải bằng chi phí cận biện bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó. Ngoài ra để
sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hiệu quả tối đa thì phải sử dụng mỗi
nguồn lực sao cho chi phí bỏ ra để có đơn vị sản phẩm cuối cùng bằng với
doanh thu mà nó đem lại.
b) Xác định điểm hòa vốn
Khi tham gia thị trường, để sản xuất một loại sản phẩm nào đó doanh
nghiệp cần phải tính toán để biết được số lượng cần sản xuất ra với mức giá
đầu vào cụ thể là bao nhiêu, bán với giá nào để hòa vốn và bắt đầu có lãi. Hay
nói cách khác là phải xác định và phân tích điểm hòa vốn.
Điểm hòa vốn là số lượng sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra, tại đó
tổng doanh thu bằng tổng chi phí. Tại đó lợi nhuận của doanh nghiệp bằng 0.
Phân tích điển hòa vốn chính là việc phân tích mối quan hệ tối ưu giữa
chi phí kinh doanh, doanh thu, sản lượng và giá cả sản xuất kinh donah của
doanh nghiệp.
1.5.2. Tăng cường quản trị chiến trong kinh doanh
Chiến lợc kinh doanh được coi là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và
điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Nói cách
9
khác đó là một nghệ thuật thiết kế tổ chức các phơng tiện nhằm đạt tới các
mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, đảm bảo phù hợp với sự biến đổi của môi
trờng kinh doanh.
Chiến lược kinh doanh phải được xây dựng theo một quy trình khoa học,
thể hiện được tính linh hoạt với thị trường. Đó không phải là bản thuyết trình
chung chung mà phải thể hiện qua các mục tiêu cụ thể, mục tiêu ngắn hạn; thể
hiện được sự nắm bắt tận dụng những cơ cũng như hạn chế được những nguy,
thách thức hôị mà thị trường mang lại; phát huy tối đa các điểm mạnh, giảm
tối thiểu các điểm yếu của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạch định chiến
lược phải đảm bảo tính hài hòa, thống nhất giữa chiến lược tổng quát và chiến
lược các bộ phận.
1.5.3. Đào tạo, phát triển và tạo động lực cho đội ngũ người lao động
Lao động là yếu tố đầu vào có tính chat quyết định trong việc sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp . Và lao động sáng tạo của con người là nhân tố
quyết định trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì thế vấn đề
tuyển dụng, đào tạo, bối dưỡng để nâng cao trình độ tay nghề, chất lượng lao
động là vấn đề hết sức quan trọng, được ban quản trị rất quan tâm.
Tuy nhiên không phải có một đội ngũ lao động giỏi là đã thành công.
Nhà quản trị phải biết cách sử dụng hợp lý nguồn nhân lực đó thì mới đem lại
hiệu quả cao. Phải biết phân bố hợp lý, phù hợp với yêu cầu của công việc
cũng như trình độ, năng lực, nguyện vọng của mỗ người. Phải đảm bảo sự cân
đối thường xuyên trong sản xuất, sự phù hợp với những thay đổi của môi
trường. Khi giao việc phải xác định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
cũng như trách nhiệm cụ thể của các cá nhân. Tránh hiện tượng chồng chéo
trong phân công nhiệm vụ: một người không làm nhiều công việc, một công
10
việc hay một loạt các công việc có liên quan đến nhau không nên xé lẻ ra và
phân công cho quá nhiều người.
Trong công việc, động lực cá nhân và tập thể là yếu tố quyết định khả
năng sáng tạo, là sợi dây liên kết mọi người lại với nhau. Và yếu tố tác động
mạnh mẽ nhất đén động lực là việc khuyến khích người lao động bằng các lợi
ích vật chất cũng như tinh thần: thưởng bằng tiền, thưởng bằng hiện vật,
thăng chức, tổ chức đi nghỉ mát, đi du lịch…
1.5.4. Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh
Không ai có thể phủ nhận tác động to lớn của công nghệ kỹ thuật tới
hiệu quả hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì thế nhu cầu
đổi mới khoa học, kỹ thuật là tất nhiên. Song, việc đầu tư các máy móc thiết
bị đòi hỏi một nguồn đầu tư lớn về cả nhân lực và vốn đầu tư, đòi hỏi thời
gian, kinh nghiệm. Hiện nay nước ta chủ yếu đổi mới và phát triển khoa học
kỹ thuật theo các hướng sau:
• Nâng cao chất lượng quản trị khoa học kỹ thuật, từng bước hoàn thiện
quản trị .
• Nghiên cứu, đánh giá chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả, tiến
tới làm chủ công nghệ, nghiên cứu và sáng tạo các công nghệ mới.
• Nghiên cứu, đánh giá và nhập các thiết bị máy móc phù hợp với trình
độ kỹ thuật, khả năng tài chính; sử dụng có hiệu quả các thít bị đó.
• Ngiên cứu sử dụng vật liệu mới và các vật liệu thay thế theo nguyên
tắc: nguồn lực dễ kiếm hơn, rẻ hơn nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng sản
phẩm.
11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét