BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
[ \
NGÔ HỒNG ĐIỆP
QUAN HỆ NHẬT BẢN - ASEAN
(1975 - 2000)
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới cận đại và hiện đại
Mã số: 62 22 50 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HUẾ - 2008
Công trình được hoàn thành tại Khoa Lịch sử
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.
NGUYỄN VĂN TẬN
Phản biện 1:
GS.TS
. Đỗ Thanh Bình
Phản biện 2:
PGS.TSKH
. Trần Khánh
Phản biện 3:
PGS.TS.
Lê Văn Anh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Nhà nước họp tại Đại học Huế vào hồi 8 giờ 00 ngày 27
tháng 9 năm 2008
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện trường Đại học Khoa học
- Đại học Huế, Thư viện Quốc gia, Hà Nội
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Ngô Hồng Điệp (2005), “Điểm tương đồng và dị biệt giữa ASEAN và
EU: Những thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Tạp chí Nghiên
cứu châu Âu, số 5 (71) / 2006, tr. 19 - 24.
2. Ngô Hồng Điệp (2005), “Những nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp
của Nhật Bản vào ASEAN giai đoạn từ 1973 đến 2003”, Tạp chí
Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 7 (67) / 2006, tr. 45 - 50.
3. Ngô Hồng Điệp (2007), “Xác l
ập vai trò an ninh chính trị của Nhật
Bản ở Đông Nam Á trong thập niên đầu thời kỳ sau Chiến tranh
lạnh” Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 5 (75) / 2007, tr. 24 - 29.
4. Ngô Hồng Điệp (2007), “Đầu tư trực tiếp (FDI) của Nhật Bản vào
Việt Nam giai đoạn 1986 -2006”, Tạp chí Khoa học và Giáo dục,
ĐHSP Huế, số 2 (02) / 2007, tr. 73 - 83.
5. Ngô Hồng Điệp (2007), “Học thuyết Fukuda - một góc nhìn từ phía
các nước ASEAN” Tạp chí Nghiên c
ứu Đông Bắc Á, số 9 (79) / 2007,
tr. 28 - 33.
1
MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Nhật Bản từ lâu đã có mối quan hệ chặt chẽ với các nước trong
hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Kể từ thập niên 70 thế
kỉ XX, khi Nhật Bản trở thành siêu cường kinh tế thế giới và ASEAN
hiện lên là một nhóm nước được cố kết bền vững và có những tiến
triển mới về kinh tế thì quan hệ Nhật Bản - ASEAN được tăng cường
cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu.
Đối với Nhật Bản, ASEAN luôn hiện lên là một khu vực có ý
nghĩa chiến lược quan trọng. Đây là thị trường thu nhiều lợi nhuận
kinh tế và là địa bàn phát huy vai trò chính trị của Nhật Bản.Vì thế,
trong chiến lược đối ngoại của mình, Nhật Bản đánh giá rất cao vị trí,
vai trò của ASEAN.
Đối với ASEAN, Nhật Bản là nguồn cung cấp vốn, công nghệ
hiệ
n đại hết sức quan trọng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Xuất
phát từ nhận thức về vai trò và vị trí của nhau trong khu vực và trên
trường quốc tế, từ sự thống nhất về mục tiêu coi sự liên kết hợp tác là
yêu cầu phát triển nên việc duy trì củng cố và đẩy mạnh quan hệ Nhật
Bản - ASEAN là hết sức cần thiết.
Việt Nam là một thành viên chính thức của ASEAN, mọ
i diễn
biến trong quan hệ Nhật Bản - ASEAN đều tác động trực tiếp đến Việt
Nam. Vì vậy, nghiên cứu đề tài này càng có ý nghĩa quan trọng nhất là
trong bối cảnh chúng ta đang thực hiện hội nhập khu vực và quốc tế.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn vấn
đề “Quan hệ Nhật Bản - ASEAN (1975 - 2000)” làm đề tài cho luận
án tiến sĩ thuộc chuyên ngành lịch sử thế giớ
i cận đại và hiện đại.
II . Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên cơ sở những tài liệu tiếp xúc được chúng tôi tạm thời
chia chúng thành ba nhóm như sau:
1. Nhóm các công trình nghiên cứu chung
Đây là nhóm công trình đa dạng nhất, điều này có thể tìm thấy ở
một số công trình sau đây: Vũ Dương Ninh “Một số vấn đề về sự phát
triển của các nước ASEAN”(1993), Nguyễn Duy Quý “Tiến tới một
ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển bền vững” (2001) , Qua các
công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề
2
rộng lớn từ kinh tế đến an ninh chính trị, ngoại giao, văn hóa, cả ở tầm
vĩ mô lẫn vi mô, song những vấn đề liên quan đến quan hệ Nhật Bản -
ASEAN chưa được các nhà nghiên cứu đề cập nhiều. Những vấn đề
được đề cập thì cũng chỉ dừng lại ở giác độ khái quát, những gợi ý và
phần nhiều nghiêng về khía cạnh kinh tế.
2. Nhóm công trình có tính chất chuyên khảo
Đây là những công trình nghiên cứu tương đối tập trung vào vấn
đề quan hệ Nhật Bản - ASEAN. Có thể nêu ra một số công trình tiêu
biểu như “Quan hệ Nhật Bản - ASEAN tình hình và triển vọng”
(1989),“Kinh tế học chính trị Nhật Bản” (1993), “Quan hệ Nhật Bản -
ASEAN: Chính sách và tài trợ ODA”(1999), “Chính sách đối ngoại
của Nhật Bản thời kì sau chiến tranh lạnh”(2000), “Japan and
Southeast Asia” (2003) , các công trình nêu trên, đã có những nghiên
cứu tương đối có hệ thống về quan hệ Nhậ
t Bản - ASEAN trên nhiều
phương diện kinh tế, an ninh, chính trị, văn hóa xã hội. Đưa ra những
nhận xét tương đối xác đáng về sự tương tác qua lại giữa Nhật Bản và
các nước ASEAN trên nhiều lĩnh vực đã đề cập. Như công trình “Quan
hệ Nhật Bản - ASEAN: chính sách và tài trợ ODA”, các tác giả đã
trình bày một cách chi tiết chính sách và dòng chảy ODA của Nhật
Bản tới các nước ASEAN qua từng giai đoạn lịch s
ử, phân tích những
tác động của nó đối với các nước ASEAN và Nhật Bản; hay công trình
“Kinh tế học chính trị Nhật Bản” có một phần đề cập đến quan hệ
Nhật Bản với các nước ASEAN trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa, và sự gia tăng vai trò của Nhật Bản đối với khu vực Tuy
nhiên, vấn đề quan hệ Nhật Bản với các nước ASEAN nhất là giai
đoạn sau năm 1975 thì các công trình
đề cập vẫn còn sơ lược, chưa
làm rõ mối quan hệ vốn rất phong phú và đang diễn ra sôi động giữa
Nhật Bản với ASEAN.
Mặc dù còn có những hạn chế song từ quan điểm tiếp cận riêng
của mình, tác giả vẫn xem các công trình trình nêu trên là những tư
liệu tham khảo hết sức quý báu và bổ ích cho việc thực hiện luận án.
3. Nhóm các bài nghiên cứu
Bao gồm những bài nghiên cứu được công bố trong các hội th
ảo
khoa học và đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Nghiên cứu Lịch
sử; Nghiên cứu Đông Nam Á; Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á;
Nghiên cứu Quan hệ quốc tế; Tạp chí Kinh tế thế giới Ưu điểm nổi
bật nhất của các công trình này là tập trung nghiên cứu vào nội dung
3
cụ thể của quan hệ Nhật Bản với ASEAN, lại cập nhật được những
thông tin, phản ánh kịp thời những chuyển biến mới nhất trong mối
quan hệ Nhật Bản - ASEAN.
Tóm lại, vấn đề “Quan hệ Nhật Bản - ASEAN (1975 – 2000)”
đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập ở dưới
nhiều góc độ khác nhau. Cho đến nay, vấn đề này đã thu được những
thành quả đáng kể trên các lĩnh vực lịch sử, kinh tế, ngoại giao, an
ninh chính trị, văn hoá xã hội. Tuy nhiên, vẫn thiếu vắng một công
trình nghiên cứu có tính tổng hợp về vấn đề được đặt ra. Từ tình hình
trên cho thấy việc nghiên cứu “Quan hệ Nhật Bản - ASEAN (1975 -
2000)” là rất quan trọng vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực
tiễn nhất là đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
III . Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một cách có hệ thống tiến trình phát triển mối
quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN từ năm 1975 đến năm 2000.
- Vạch ra những nguyên nhân thúc đẩy mối quan hệ qua hai giai
đoạn trong và sau Chiến tranh lạnh. Đánh giá sự tác động của quan hệ
Nhật Bản - ASEAN tới Nhật Bản, các nước ASEAN và Việt Nam.
- Rút ra một số nhận xét về quan hệ Nhậ
t Bản - ASEAN trong giai
đoạn 1975 - 2000.
- Thông qua những bài học thành công của các nước ASEAN
trong quan hệ với Nhật Bản nhằm đóng góp những luận cứ cho việc hoạch
định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong quan hệ với Nhật Bản,
ASEAN.
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan Nhật Bản -
ASEAN, trong đó Nhật Bản là chủ thể, ASEAN là nhóm nước đối tượng.
Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu quan hệ
trên các lĩnh vực an ninh chính trị và kinh tế còn các lĩnh vực khác như
văn hóa, xã hội, môi trường, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực
luận án chỉ điểm qua khi liên quan. Luận án cũng ch
ỉ chủ yếu
nghiên cứu quan hệ Nhật Bản với các thành viên ASEAN ban đầu
(ASEAN-5)
Về mặt thời gian, luận án sẽ nghiên cứu quan hệ Nhật Bản với
ASEAN trong khoảng thời gian 25 năm, từ năm 1975 đến năm 2000.
V. Các nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
1.Các nguồn tư liệu
4
- Các văn kiện chính thức của chính phủ Nhật Bản và các nước
ASEAN về chính sách đối ngoại.
- Các bài phát biểu, các văn bản chính thức, Hiệp định, các
tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo Nhật Bản và các nước ASEAN.
- Các sách chuyên khảo về lịch sử thế giới cận hiện đại, lịch sử
quan hệ ngoại giao, lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử Nhật Bản, lịch sử
Đ
ông Nam Á. Các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, các bài báo
của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bằng tiếng Việt, tiếng Anh.
- Các số liệu thống kê từ các nguồn của chính phủ Nhật Bản,
ASEAN và Việt Nam về đầu tư trực tiếp, viện trợ ODA, thương mại.
- Tài liệu mạng internet
2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi luôn
quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan đi
ểm của Đảng ta về các vấn đề quan hệ quốc tế.
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp lịch sử và phương
pháp logic, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so
sánh…
VI. Đóng góp của luận án
* Về mặt khoa học
- Cung cấp bổ sung những tư liệu mới liên quan đến đề tài và
coi đây là một đóng góp về mặt tư liệu trong công tác nghiên cứu,
giảng dạy lịch sử thế giới nhất là lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại.
- Qua những cứ liệu lịch sử chân thực, đề tài hệ thống hóa quá trình
phát triển mối quan hệ phong phú đa dạng giữ
a Nhật Bản và nước
ASEAN trong khoảng thời gian từ 1975 đến 2000.
- Tập trung nghiên cứu và lý giải những vấn đề cơ bản nổi lên
trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể của mối quan hệ Nhật Bản -
ASEAN. Xem xét quan điểm và phương pháp giải quyết vấn đề của
Nhật Bản và ASEAN, từ đó làm rõ bản chất của mối quan hệ này.
* Về mặt th
ực tiễn
- Làm rõ nhân tố Nhật Bản trong quá trình phát triển của ASEAN
cũng như những đóng góp tích cực của ASEAN trong sự phát triển của
Nhật Bản nhất là quá trình vươn lên cường quốc thành “bình thường”.
- Luận án phân tích làm rõ tính năng động, mềm dẻo của Nhật
Bản và ASEAN trong việc ứng phó trước những biến động của tình
5
hình thế giới và khu vực. Đánh giá tác động của quan hệ này đối với
Nhật Bản, các nước ASEAN và Việt Nam.
- Từ những bài học thành công của ASEAN trong quan hệ với
Nhật Bản, luận án đóng góp luận cứ cho việc hoạch định chính sách
đối ngoại của Việt Nam trong quan hệ với Nhật Bản, ASEAN.
VII. Bố cục của luận án
Luận án gồm 187 trang. Ngoài phần mở đầu và Kết luận, nội
dung luận án được kết cấu thành ba chương.
Chương 1: Quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ năm 1975 đến năm 1991
Chương 2: Quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ năm 1991 đến năm 2000
Chương 3: Nhận xét về quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ 1975
đến năm 2000
Chương 1
QUAN HỆ NHẬT BẢN - ASEAN TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1991
1.1. Những tiền đề của quan hệ Nhật Bản - ASEAN
1.1.1. Tiền đề lịch sử
Là một nước quần đảo, Nhật Bản sớm có tư duy về biển và cũng
sớm có quan hệ thương mại và bang giao với nhiều quốc gia châu Á nói
chung và Đông Nam Á nói riêng. Trong lịch sử đã có lúc quan hệ Nhật Bản
với các quốc gia Đông Nam Á rất “hữu hảo” như ở đầu thế kỉ XVII. Từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày nay
quan hệ Nhật Bả
n - ASEAN lại càng không ngừng được đẩy mạnh. Cả
Nhật Bản và ASEAN đều xác định mối quan hệ này là một trong những
mối quan hệ đối ngoại quan trọng nhất của họ. Đây chính là một trong
những tiền đề hết sức quan trọng cho quá trình xây dựng, bồi đắp và phát
triển quan hệ Nhật Bản - ASEAN trong hiện tại và ở cả tương lai.
1.1.2. Tiền đề an ninh - chính trị
Năm 1975, cuộc kháng chiến của ba nước Đông Dương giành
thắng lợi đã mở ra một cục diện mới ở Đông Nam Á. Môi trường an
ninh khu vực có sự thay đổi lớn. Mỹ rút quân không chỉ giảm sự bảo
trợ an ninh cho nhiều nước trong khu vực mà còn tạo ra “khoảng trống
quyền lực” kích thích các cường quốc gia tăng ảnh hưởng, trong đó
Nhật Bản là một trong những nước có nhiề
u tham vọng nhất.
Đây cũng là thời điểm ASEAN đạt được những thành tựu nhất
định trong phát triển kinh tế và trong việc kết dính các thành viên của
khối tạo khả năng độc lập, tự chủ hơn trong chính sách đối ngoại.
6
Trong bối cảnh đó, Nhật Bản và các nước ASEAN đều có nhu
cầu lớn trong việc mở rộng quan hệ hợp tác với nhau. Đây có thể xem
là một cơ sở quan trọng để Nhật Bản và ASEAN mở rộng và tăng
cường mối quan hệ với nhau trong tình hình mới.
1.1.3. Tiền đề về kinh tế
Bước vào thập niên 70 thế kỉ XX, Nhật Bản đã đạt được vị trí
cường quốc kinh tế thế giới và trở thành nhân tố hết sức quan trọng
trong việc ổn định tình hình và phát triển khu vực châu Á, đồng thời là
đối tác cực kỳ quan trọng của các nước ASEAN.
Nhằm khắc phục những “cú sốc lớn” đầu thập niên 70, Nhật
Bản đã thực thi ra nhiều biện pháp, chính sách cả
đối nội lẫn đối ngoại,
trong đó có biện pháp sống còn là tăng cường đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài nhất là đến các nước ASEAN.
Về phía các nước ASEAN, họ đã đặt nền móng cho hợp tác bền
vững trong khu vực và giữa khu vực với các đối tác bên ngoài. Hơn
nữa, đây là thời kỳ các nước ASEAN chuyển sang thực hiện chiến
lược công nghiệp hóa hướng ra xuấ
t khẩu nên nhu cầu về vốn, công
nghệ, thị trường đặt ra một cách gay gắt. Mở rộng giao lưu hợp tác, đa
dạng hóa quan hệ với các đối tác bên ngoài nhất là với các nước tư bản
phát triển như Mỹ, Nhật Bản trở thành vấn đề mang ý nghĩa chiến lược
của các nước này. Như vậy, nhu cầu hợp tác kinh tế với nhau đã trở thành
tiền đề quan trọ
ng thúc đẩy quan hệ Nhật Bản - ASEAN phát triển.
1.1.4. Học thuyết Fukuda – nhân tố mới cho sự phát triển
trong quan hệ Nhật Bản - ASEAN
Trước những thay đổi nhanh chóng của tình hình, năm 1977
Thủ tướng Nhật Bản Fukuda đã công bố chính sách Đông Nam Á mới
của Nhật Bản với ba nội dung cơ bản:
Thứ nhất, Nhật Bản một quốc gia tôn trọng hoà bình, không
chấp nhận vai trò của một cường quốc quân sự.
Thứ hai, Nhật Bản, sẽ
làm hết sức mình để củng cố mối quan hệ
cùng tin cậy lẫn nhau dựa trên sự hiểu biết thành thật với những nước này.
Thứ ba, Nhật Bản sẽ hợp tác để thúc đẩy mối quan hệ dựa trên sự
hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia Đông Dương và do vậy sẽ đóng góp
vào việc xây dựng hoà bình và thịnh vượng trên toàn khu vực Đông Nam Á.
Với Học thuyết Fukuda, lầ
n đầu tiên Nhật Bản đã hoạch định
một chính sách Đông Nam Á cụ thể, ở đó không chỉ đề cập đến kinh tế
mà cả chính trị, văn hóa. Nhật Bản đã khéo léo xây dựng niềm tin đối
7
với các nước Đông Nam Á vào vai trò của Nhật Bản trong tương lai
của khu vực.
ASEAN với học thuyết Fukuda
Dường như các quốc gia ASEAN dễ dàng chấp nhận “Học
thuyết Fukuda”. Đây là lần đầu tiên Nhật Bản đưa ra một chính sách
định hướng xây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện, trong đó có
những cam kết phù hợp với những mong muốn của ASEAN và các
quốc gia ASEAN được đặt ở vị trí bình
đẳng với Nhật Bản.
Tóm lại, với “Học thuyết Fukuda”, Nhật Bản đã hoạch định một
chính sách ngoại giao hoàn chỉnh và mở rộng, ở đó thể hiện đầy đủ sự
quan tâm đến cả lợi ích vật chất và tinh thần các đối tác của họ ở Đông
Nam Á. Với ý nghĩa đó, Học thuyết Fukuda đã thực sự phá vỡ những
ngăn cách trong quan hệ Nh
ật Bản và ASEAN, đồng thời mở ra giai đoạn
quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững và lâu dài trong tương lai.
1.2. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN giai đoạn 1975 - 1991
1.2.1. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN trên lĩnh vực an ninh
chính trị
Sau chiến tranh Việt Nam, sự bảo trợ an ninh của Mỹ giảm sút và
thật sự gây lo lắng cho các nước ASEAN. Chính phủ các nước này đã
nhanh chóng điều chỉnh chính sách đối ngoại cho phù hợp với tình hình
mới. Một mặt, họ tiếp tục chính sách an ninh truyền thống, mặt khác
quyết định tìm kiếm những phương cách mới, nguồn ủng hộ mớ
i để đảm
bảo an ninh quốc gia cũng như an ninh của Hiệp hội. Một trong những nội
dung quan trọng là ASEAN khẳng định quyết tâm tăng cường sự ổn định,
khả năng “tự cường dân tộc” và “tự cường khu vực”; bày tỏ mong muốn
có sự đồng tình ủng hộ của những nước trong khu vực mà chưa phải là
thành viên ASEAN và những quốc gia ngoài khu vực.
Là một đồng minh chiến l
ược của Mỹ và là một nước tư bản lớn
duy nhất không thể rút khỏi châu Á nên Nhật Bản phải có trách nhiệm
lớn hơn trong vai trò duy trì hòa bình và an ninh đối với khu vực. Nhật
Bản và ASEAN đã có những nỗ lực hợp tác trong lĩnh vực an ninh
chính trị. Nổi bật là việc phối hợp với nhau giải quyết vấn đề
Campuchia. Cùng nhau sáng lập Diễn đàn ARF, kiến tạo nền hoà bình
khu vực theo hướ
ng trong khuôn khổ “an ninh toàn diện”.
1.2.2. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN trên lĩnh vực kinh tế giai
đoạn 1975 - 1991
8
1.2.2.1. Viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho
ASEAN giai đoạn 1975 - 1991
Nhật Bản nhìn nhận quan hệ Nhật Bản - ASEAN là quan hệ
song phương. Song khi thực hiện chính sách viện trợ ODA thì Nhật
Bản lại thực thi đối với từng nước cụ thể. Sau những biến cố xảy ra
những năm đầu thập niên 70, Nhật Bản là tăng cường viện trợ ODA
cho các nước ASEAN với m
ột khối lượng lớn và ASEAN là khu vực
nhận viện trợ chính của Nhật Bản.
Nhật Bản viện trợ ODA cho các nước ASEAN hướng vào
những mục tiêu cơ bản sau:
Thứ nhất, nhằm xác lập mối quan hệ và tạo ra sự hiểu biết lẫn
nhau ngày càng tốt hơn giữa Nhật Bản và các nước ASEAN, thiết lập môi
trường thuận lợi để xúc tiến và phát triển các m
ối quan hệ song phương về
ngoại giao, kinh tế, an ninh chính trị, văn hoá.
Thứ hai, nhằm hỗ trợ cho các nước đang gặp khó khăn giải
quyết những nhu cầu cấp bách và lâu dài trên các lĩnh vực nhạy cảm
hay mang tính chiến lược, góp phần ổn định tình hình chính trị, xã hội tạo
môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế.
Thứ ba, xúc tiến giao lưu văn hoá tạo ra sự hiểu biế
t lẫn nhau
giữa Nhật Bản và các nước ASEAN.
Thứ tư, ODA hướng đến mục tiêu chính trị là cái “hàn thử biểu”
để đo mối quan hệ giữa hai nước. Bên cạnh đó, ODA còn là sợi dây
ràng buộc giữa nước cung cấp và các nước nhận các khoản vốn này.
Cơ cấu tài trợ ODA của Nhật Bản cho các nước ASEAN được
thực hiện chủ yếu dưới hai hình thức: Viện trợ không hoàn lại và tín
d
ụng. Trong đó, viện trợ không hoàn lại tiếp tục được thực hiện dưới
hình thức là hợp tác kỹ thuật và viện trợ về vốn.
Qua hoạt động ODA của Nhật Bản cho ASEAN giai đoạn 1975 -
1991, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
Một là, chính sách ODA của Nhật Bản cho ASEAN được thúc
đẩy từ nhu cầu của cả hai phía. Tỉ lệ viện trợ ODA tuỳ thuộc vào tầm
quan trọng c
ủa nước đó đối với Nhật Bản và tình trạng phát triển của
từng nước.
Thứ hai, ASEAN vẫn là nhóm nước được ưu tiên nhiều nhất trong
chiến lược viện trợ nước ngoài của Nhật Bản. ODA là một bộ phận hết
sức quan trọng, nó mở đường và thúc đẩy các quan hệ kinh tế khác.
Thứ ba, viện trợ ODA của Nhật Bản tăng nhanh cho các nước
ASEAN còn đượ
c thúc đẩy bởi các yếu tố chính trị.
9
1.2.2.2. Quan hệ thương mại Nhật Bản - ASEAN giai đoạn 1975
- 1991
Cơ cấu xuất khẩu trong quan hệ thương mại Nhật Bản - ASEAN
Hoạt động buôn bán của Nhật Bản với ASEAN cũng có sự khác
nhau tương đối theo từng nước thành viên ASEAN. Indonesia và
Malaysia, đóng vai trò là nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu. Indonesia
là nước xuất khẩu nhiều nhất, là bạn hàng quan trọng nhất của Nhật
Bản trong khối ASEAN. Hoạt động buôn bán của Philippines với Nhật
Bản khá bấp bênh, không ổn định. Thái Lan và Singapore là hai nước
xuất khẩu ít nhiều tới Nhật Bản.
Cơ cấu nhậ
p khẩu trong quan hệ thương mại Nhật Bản -
ASEAN
Khi các nước ASEAN đã chuyển sang chiến lược công nghiệp
hoá hướng ra xuất khẩu, do đó, trong thời kỳ này 80% tổng số xuất
khẩu từ Nhật vào các nước ASEAN là hàng công nghiệp nặng.
Cuối những năm 80, trong chính cơ cấu nhập khẩu của Nhật
Bản cũng có sự thay đổi quan trọng, Nhật Bản không chỉ gia tăng nhập
khẩ
u các hàng công nghiệp thành phẩm mà còn tăng cường nhập khẩu
các linh kiện, thiết bị máy móc.
Tóm lại, Nhật Bản luôn là bạn hàng chính của các nước
ASEAN. Chính cơ cấu bổ sung giữa nền kinh tế Nhật Bản và nền kinh
tế các nước ASEAN đã trở thành một nhân tố quan trọng vừa giúp
Nhật Bản tháo gỡ được những khó khăn sau giai đoạn phát triển cao,
vừa góp phần tạo nên sự thành công trong chiến lược công nghi
ệp hoá
hướng ra xuất khẩu của ASEAN.
1.2.2.3. Quan hệ hợp tác đầu tư phát triển Nhật Bản - ASEAN giai
đoạn 1975 -1991
Đối với Nhật Bản, những nguyên nhân trực tiếp và mạnh mẽ
nhất khiến nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài tăng mạnh là sự tăng giá
của đồng yên; khắc phục nạn thiếu lao động, khan hiếm nguyên liệu và
ô nhiễm môi trường trong nước; đối phó mâu thuẫn thương mại với
các nước tư bản phát triển Âu - Mỹ; môi trường đầu tư ở các nước
ASEAN khá phù h
ợp với các nhà đầu tư Nhật Bản …
Về phía các nước ASEAN: ngoài những lợi thế vốn có từ vị trí
địa lý, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào, giá rẻ thì
nhân tố có tính chất đòn bẩy thu hút đầu tư của Nhật Bản là chiến lược
công nghiệp hoá hướng ra xuất khẩu.
10
Cơ cấu đầu tư của Nhật Bản ở các nước ASEAN:
Nhật chú trọng đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều sức lao động
nhằm khai thác lợi thế so sánh trong sản xuất, hình thành sự phân công
lao động quốc tế. Từ sau năm 1985, có hiện tượng bùng nổ đầu tư của
Nhật Bản ở ASEAN, số vốn của Nhật Bản đã tăng lên nhanh chóng từ
10,1 tỉ USD n
ăm 1984 lên tới 67,5 tỉ USD năm 1989 và 56,9 tỉ USD năm
1990, trung bình tăng 54% mỗi năm trong thời gian 1985 đến 1989.
Cơ cấu đầu tư của Nhật Bản ở ASEAN cũng có nhiều thay đổi
theo hướng ngày càng thu hút nhiều công ty thuộc ngành chế tạo máy
móc, thiết bị và sản phẩm trung gian. Làn sóng đầu tư trực tiếp của
Nhật Bản vào châu Á tăng mạnh vào những năm 80 của thế kỉ XX, tạo
ra sự phân công lao độ
ng mới giữa Nhật Bản - NIEs - ASEAN.
Một số nhận xét được rút ra trong quan hệ đầu tư Nhật Bản -
ASEAN ở giai đoạn này:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp của Nhật Bản dễ dàng kết hợp hài
hoà với tư bản địa phương tạo ra các hợp doanh, trong quá trình triển
khai chiến lược công nghiệp hoá hướng ra xuất khẩu
Thứ hai, là tỷ lệ t
ương đối cao của các dự án đầu tư của Nhật
Bản vào các ngành chế tạo sản phẩm xuất khẩu.
Thứ ba, đầu tư của Nhật Bản ở ASEAN đã tác động tích cực tới
ASEAN và Nhật Bản.
1.3. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN trên các lĩnh vực khác
Ngoài các lĩnh vực an ninh chính trị, kinh tế, quan hệ Nhật Bản -
ASEAN còn được triển khai thúc đẩy trên nhiều lĩnh vực rộng lớn khác,
song ở đây chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đôi nét về quan hệ này trên
lĩnh vực văn hoá.
Các quan hệ trao đổi văn hoá giữa Nhật Bản - ASEAN chỉ
được đề cập chính thức khi Thủ tướng Fukuda công bố học thuyết của
mình năm 1977. Từ đây về sau hàng loạ
t các chương trình hỗ trợ cho
việc trao đổi văn hoá giữa Nhật Bản - ASEAN được liên tục xúc tiến
mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú như thành lập các Quỹ trao
đổi văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực cho ASEAN, hỗ trợ các chương
trình giao lưu, trao đổi văn hóa, du lịch… Những hoạt động đó đã thu
được nhiều kết quả to lớn, thúc đẩy các dân tộc Đông Nam Á và Nhật
Bản xích l
ại gần nhau, hiểu biết nhau hơn.
***
11
Qua quá trình nghiên cứu quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ sau
chiến tranh Việt Nam đến năm 1991 có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, quan hệ Nhật Bản - ASEAN tiếp tục được đẩy mạnh
trên những tiền đề vững chắc cả trong truyền thống lẫn hiện tại. Đó là tiền
đề lịch sử, tiền đề an ninh chính trị, tiền đề kinh tế và học thuyết Fukuda.
Thứ hai, quan hệ Nhật Bản - ASEAN trên lĩnh vực an ninh
chính trị. Bước đi đầu tiên và có lẽ là tham vọng lớ
n nhất của Nhật
Bản trong việc nâng cao vai trò chính trị đối với khu vực là việc công
bố Học thuyết Fukuda năm 1977. Đặc biệt, Nhật Bản tỏ ra rất tích cực
trong việc tìm kiếm giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia.
Nhật Bản và ASEAN nhấn mạnh đến vai trò hợp tác kinh tế và
chú ý đến các điều kiện phát triển bền vững, tăng cường tiềm lực quốc
gia và tự c
ường khu vực, xem đây là một biện pháp quan trọng để bảo
vệ nền an ninh toàn diện.
Thứ ba, quan hệ Nhật Bản - ASEAN trên lĩnh vực kinh tế đã
mang lại những thành tựu to lớn: ASEAN đã trở thành nhóm nước
được ưu tiên nhiều nhất trong chiến lược viện trợ nước ngoài của Nhật
Bản. Trong quan hệ buôn bán, đầu tư Nhật Bản là đối tác thương mại
quan trọng và nhà
đầu tư số một của khu vực.
Thứ tư, bên cạnh nhũng quan hệ trên các lĩnh vực cơ bản nêu
trên, Nhật Bản và các nước ASEAN còn có những quan tâm đến các
lĩnh vực khác, trong đó đáng chú ý nhất là quan hệ hợp tác giữa Nhật
Bản và ASEAN trên lĩnh vực văn hóa.
Chương 2
QUAN HỆ NHẬT BẢN - ASEAN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000
2.1. Tình hình quốc tế và khu vực sau Chiến tranh lạnh
2.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
Sau khi của trật tự thế giới hai cực Yalta sụp đổ, hòa bình, ổn
định và phát triển trở thành xu thế chủ yếu của thế giới. Nhân tố kinh
tế dần trở thành vị trí chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ đã làm cho xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế
và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước và các khu vực trên thế giới ngày
càng ch
ặt chẽ hơn. Ở Đông Nam Á, tình hình chuyển biến rất tích cực cho
nền hòa bình và môi trường hợp tác khu vực.
12
Trong bối cảnh mới, để thực hiện các mục tiêu của mình, Nhật
Bản và ASEAN đều điều chỉnh chính sách đối ngoại, thực hiện biện
pháp nhằm đưa quan hệ Nhật Bản - ASEAN phát triển phù hợp với
tình hình mới.
2.1.2. Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với ASEAN
sau Chiến tranh lạnh
Nhật Bản điều chỉnh chính sách phát triển của mình theo hướng
“thực thi một chính sách an ninh tự chủ về chính trị đối nội và về
chính trị đối ngoại thì khi có điều kiện, thời cơ, Nhật Bản đều cố gắng
phát huy tiềm lực kinh tế, kỹ thuật, quân sự đã có để s
ẵn sàng tham gia
vào các hoạt động bảo vệ an ninh chính trị và hòa bình của thế giới
mà trước hết là khu vực châu Á - Thái Bình Dương".
Sau Chiến tranh lạnh, chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối
với khu vực Đông Nam Á được thể hiện trong bài phát biểu của Thủ
tướng Miyazawa năm 1993 với nội dung cơ bản là chủ trương cùng
các nước Đông Nam Á tập trung hợp tác ổn định tình hình, thiết lập
trậ
t tự an ninh và bảo vệ hòa bình ở khu vực; Nhật Bản kêu gọi hợp
tác, phối hợp chặt chẽ với ASEAN để tái thiết Đông Dương, xác lập
diễn đàn phát triển toàn diện Đông Dương, tiếp tục thực hiện vai trò
“cầu nối” giữa ASEAN và Đông Dương.
Năm 1997, Thủ tướng Hashimoto điều chỉnh thêm một bước với
ba mục tiêu quan trọng: 1/ Thúc đẩy mạnh mẽ
hơn các quan hệ hợp tác
kinh tế thương mại và đầu tư phát triển; 2/ Xúc tiến tăng cường hơn nữa
các quan hệ hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực an ninh chính trị và
văn hoá xã hội; 3/ Thể hiện rõ nét một chính sách đối ngoại toàn diện
của Nhật Bản trong tình hình mới đối với ASEAN.
Nhật Bản xác định cả quan hệ Nhật Bản - châu Á lẫn quan hệ Nhật
- Mỹ đều là hòn đá t
ảng và tăng cường hợp tác với các nước châu Á. Xây
dựng quan hệ Nhật Bản - ASEAN một cách toàn diện
2.1.3. Những định hướng mới trong chính sách đối ngoại của
ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh lạnh
Hội nghị thượng đỉnh cấp cao ASEAN lần thứ IV tại Singapore
vào tháng 1/1992 đã cho ra đời Tuyên bố Singapore với những nội
dung quan trọng định hướng cho sự phát triển của ASEAN trong thời
kỳ mới:
Về hợp tác an ninh chính trị: kêu gọi tất cả các nước Đông Nam
Á tham gia vào Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác; ASEAN sẽ nỗ lực
thực hiện khu vực Hoà bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN) và khu
13
vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ); sử dụng các
diễn đàn đã có để thúc đẩy đối thoại với bên ngoài về tăng cường an
ninh trong khu vực.
Về hợp tác kinh tế: ASEAN tăng cường hơn nữa cố gắng chung
nhằm phát triển hợp tác kinh tế trong ASEAN, thông qua những biện
pháp kinh tế mới thích hợp nhằm duy trì tăng trưởng và phát triển kinh
tế của ASEAN, thiết lập Khu vực mậu dị
ch tự do trong ASEAN
(AFTA); tăng cường đầu tư, liên kết và bổ sung công nghiệp…
Về đối ngoại, Tuyên bố khẳng định:
ASEAN nhanh chóng đa dạng hóa và đa phương hóa các mối
quan hệ của mình bằng cách tham gia và đóng vai trò tích cực trong
APEC; tăng cường quan hệ sâu rộng hơn với các nước đối thoại, thông
qua Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng ASEAN (PMC), đẩy mạnh quan
hệ với cộng đồng châu Âu thông qua việ
c thiết lập Diễn đàn Hợp tác Á
- Âu (ASEM). Thiết lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF)
2.2. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ sau Chiến tranh lạnh
đến năm 2000
2.2.1. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN trên lĩnh vực an ninh
chính trị
2.2.1.1. Môi trường an ninh khu vực sau Chiến tranh lạnh
Sự chuyển biến các mối quan hệ từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác
của các quốc gia đã thúc đẩy quá trình hình thành một môi trường an ninh
mới ở khu vực. Có thể thấy môi trường an ninh Đông Nam Á sau Chiến
tranh lạnh bị tác động mạ
nh bởi các nhân tố sau:
Thứ nhất, là sự xuất hiện “khoảng trống quyền lực” và một số
cường quốc như Trung Quốc, Nhật Bản gia tăng ảnh hưởng vào khu vực.
Nhân tố thứ hai là Nhật Bản với động thái đòi hỏi phải có được
một vị thế chính trị của một cường quốc “bình thường”, tương xứng với
sức mạnh kinh tế
.
Nhân tố thứ ba là những yếu tố ảnh hưởng đến nền an ninh phi
truyền thống, đó là vấn đề cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi
trường sinh thái bị hủy hoại nghiêm trọng, chủ nghĩa khủng bố quốc tế
phát triển mạnh
Như vậy, sau Chiến tranh lạnh các nước trong khu vực phải đối
phó với nhiều nguy cơ, thách thức đối với nền an ninh cả truyền th
ống
lẫn phi truyền thống.
14
2.2.1.2. Nhật Bản - ASEAN xây dựng khu vực an ninh và một
nền hòa bình ở Đông Nam Á
Vì lợi ích chung, Nhật Bản và ASEAN đều thấy rằng cần có
những hoạt động phối hợp sâu rộng hơn trong lĩnh vực an ninh. Nhật
Bản bắt đầu tiến hành thăm dò khả năng hợp tác trên lĩnh vực an ninh
với các nước ASEAN. Nhưng Nhật Bản không thể trở thành một thế
lực quân sự mạ
nh ít nhất trong tương lai gần, còn các nước ASEAN
không đủ tiềm lực xây dựng được một lực lượng quân sự mạnh đủ sức
ứng phó với uy hiếp từ bên ngoài.
Xuất phát từ những khó khăn đó, nên Nhật Bản cam kết tăng
cường giúp đỡ ASEAN phát triển kinh tế để tăng cường khả năng phòng
thủ. Đồng thời, Nhật Bản chớp lấy thời cơ, tích cực tham gia và
đóng vai
trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề Campuchia nhằm nâng cao
vai trò và góp phần ổn tình tình hình khu vực.
2.2.1.3. Nhật Bản - ASEAN xây dựng nền an ninh tập thể Đông
Nam Á
Trụ cột thứ nhất đó là khía cạnh an ninh quân sự truyền thống
Ðể đạt được nền hòa bình và sự thịnh vượng của khu vực,
ASEAN không chỉ thúc đẩy tính cố kết trong Hiệp hội mà còn đẩy
mạnh hợp tác với các quốc gia ngoài khu vực. Nhưng để ý tưởng này
trở thành hiện thực cần phải tranh thủ, lôi kéo các nước có quan hệ ảnh
hưởng và tác động đến hòa bình và an ninh khu vực. Trong đó, phải kể
đến các quốc gia còn lại trong Đông Nam Á, các cường quốc bên
ngoài như Mỹ
, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga Bị thôi thúc từ tình hình
như vậy, ASEAN đã chủ động đưa ra sáng kiến hình thành cơ chế an
ninh khu vực bằng cách đề xuất thành lập Diễn đàn khu vực ASEAN
(ARF) để bàn luận về các vấn đề an ninh chính trị trong khu vực.
ARF ra đời không chỉ tạo cơ hội cho ASEAN và Nhật Bản đóng
góp vào hòa bình, ổn định và hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong
khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà còn tạo
điều kiện cho ASEAN
giữ vai trò lãnh đạo trong việc vạch ra các phương thức và cơ chế duy
trì an ninh trong khu vực.
Trụ cột thứ hai của nền an ninh hiện đại là những khía cạnh an
ninh phi quân sự và sự hợp tác của Nhật Bản và ASEAN trên lĩnh vực này
Trước tiên, do thể chế kinh tế mang tính toàn cầu, nên những rủi
ro về kinh tế của một nước rất dễ lan sang các nước khác, thậm chí lan
rộng ra toàn cầu.
15
Thứ hai, mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng sâu
sắc, điều đó dễ làm nảy sinh tình trạng dùng sức mạnh kinh tế làm công
cụ điều chỉnh và áp đặt đối với đối tác khi có bất đồng, tranh chấp.
Cuối cùng, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã làm suy yếu vai
trò của chính phủ các quốc gia có chủ quyền về mặt công nghệ và thể chế.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề, Nhật Bản và ASEAN rất
quan tâm đến một nền an ninh toàn diện, trong đó nổi bật là an ninh
kinh tế, coi đây là một trong những trụ cột cơ bản của an ninh quốc gia
và an ninh khu vực.
2.2.2. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN trên lĩnh vực kinh tế
2.2.2.1. Quan hệ viện trợ phát triển chính thức ODA
Cơ cấu hoạt động tài trợ ODA của Nhật Bản cho các nước ASEAN
Nhật Bản viện trợ cho các nước ASEAN dựa trên cơ sở định
hướng của chính sách ODA và Hiến chương ODA năm 1992. Cũng được
thực hiện dưới hai hình thức: viện trợ không hoàn lại và vay tín dụng.
Phần lớn viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản cho các nước
ASEAN tập trung vào các dự án sinh thái và cơ sở hạ tầ
ng mềm như
giáo dục, đào tạo phát triển nguồn lực con người. Cơ cấu tài trợ của
các chương trình này hết sức đa dạng, từ hạ tầng kinh tế xã hội, y tế,
văn hoá giáo dục đến sinh thái.
Tuy có sự khác nhau về số lượng và cơ cấu tài trợ, song so với các
quốc gia và khu vực khác, ASEAN vẫn nằm trong khu vực nhóm các
nước ưu tiên tài trợ lớn của Nhật Bản sau Chi
ến tranh lạnh.
Qua nghiên cứu quan hệ viện trợ phát triển chính thức ODA giữa
Nhật Bản và ASEAN giai đoạn 1991 - 2000, chúng tôi thấy ngoài những
đặc điểm như đã nêu ở mục 1.2.2.1 thì giai đoạn này nổi lên một số điểm
mới sau:
Thứ nhất, tính kinh tế và chính trị trong quan hệ ODA ngày
càng có sự gắn bó chặt chẽ hơn.
Thứ hai, ODA của Nhật Bản viện trợ cho ASEAN đặc biệt nhấ
n
mạnh đến mục đích chính trị.
Thứ ba, ASEAN đã có được một tư thế độc lập hợp tác bình đẳng
cùng có lợi với các nước lớn hơn, trong đó có quan hệ ODA với Nhật Bản.
Thứ tư, cơ cấu tài trợ ODA của Nhật Bản cho ASEAN rất đa
dạng phong phú về hình thức có cả viện trợ không hoàn lại, vay ưu đãi
và hỗ trợ k
ỹ thuật.
16
Thứ năm, trong hoạt động tài trợ ODA cho ASEAN, Nhật Bản
luôn có sự điều chỉnh linh hoạt.
Tóm lại, sự tăng trưởng của hoạt động tài trợ ODA sẽ góp phần
làm cho bức tranh kinh tế đối ngoại của ASEAN và Nhật Bản trong
những thập niên đầu thế kỉ XX sẽ trở nên sáng sủa hơn sau những khó
khăn trong thập niên cuối của thế kỉ XX.
2.2.2.2. Quan hệ hợp tác đầu tư phát triển Nhật Bản - ASEAN
Sau Chiến tranh lạnh, hoạt động đầu tư trực tiếp được bổ sung
thêm một số nhân tố mới. Đó là, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế
giới; sự phân công lao động mới giữa trung tâm và vùng ngoại vi tạo
nên sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa các nước phát triển với các
nước đang phát triển. Thông qua chương trình ODA, Nhật Bản đã
đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước này t
ạo ra
những tiền đề cần thiết cho việc thu hút FDI.
Các nước ASEAN tiếp tục hoàn thiện và sửa đổi một cách căn
bản hệ thống luật pháp đầu tư nước ngoài ngày càng thông thoáng, hấp
dẫn có những ưu đãi thỏa đáng đối với các nhà đầu tư. Đặc biệt, năm
1998, ASEAN thông qua Hiệp định chung về khu vực đầu tư ASEAN
để thu hút nhiều hơn đầu tư trực ti
ếp từ nước ngoài
Trong đó, Indonesia là nước nhận nhiều FDI từ Nhật Bản nhất,
tiếp theo là Thái Lan, thứ ba là Singapore, thứ tư là Malaysia và cuối
cùng là Philippines.Tuy có sự tăng giảm không đều, nhưng trong vòng
5 năm từ 1995 đến 1999, Nhật Bản tiến hành đầu tư vào 5 nước
ASEAN tới 2.266 dự án với số tiền lên đến 3056,3 tỷ yên và ASEAN
5
vẫn là địa bàn đầu tư quan trọng của Nhật Bản.
Một số đặc điểm nổi bật của FDI Nhật Bản ở giai đoạn này:
Thứ nhất, FDI của Nhật Bản vào ASEAN tăng mạnh, nguyên
nhân chính xuất phát từ cả phía nhà đầu tư và các nước nhận đầu tư.
Thứ hai, các dự án FDI của Nhật Bản vào ASEAN chỉ ở quy mô
vừa và nhỏ, lĩnh vực công nghệ chế tạo được đầu tư nhiều hơn các lĩnh
vực phi chế tạo.
Thứ ba, đầu tư Nhật Bản vào ASEAN có nhiều tác độ
ng tích
cực đến cả Nhật Bản và ASEAN.
2.2.2.3. Quan hệ thương mại Nhật Bản - ASEAN
17
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời năm 1995, có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đẩy nhanh sự trao đổi, buôn bán
giữa các quốc gia trên thế giới.
Dưới sức ép của làn sóng toàn cầu hóa và mâu thuẫn mậu dịch
từ các bạn hàng truyền thống, Nhật Bản buộc phải tiếp tục quốc tế hóa
sâu rộng hơn nữa nền kinh tế của mình hướng tới “hòa hợp quốc tế
”.
Về phía ASEAN, chính phủ các nước này đã đưa ra nhiều biện
pháp khuyến khích và da dạng hóa cơ cấu xuất khẩu. Ở khuôn khổ khu
vực, ASEAN đã tích cực xúc tiến cơ chế hợp tác ASEAN +1 và
ASEAN +3; ký “Tuyên bố chung hợp tác Đông Á”, tiến hành kế hoạch
“Hệ thống chung các điều khoản thuế ASEAN (GSP)”
Cơ cấu xuất nhập khẩu của Nhật Bản
Cơ cấu nhập khẩu của Nhật Bản từ ASEAN đã có sự thay đổi
lớn theo hướng giảm mạnh việc nhập khẩu các nguyên liệu thô, tăng dần
hàng hoá công nghiệp nhất là hàng công nghiệp chế tạo. Trong các sản
phẩm chế tạo tỷ lệ tăng mạnh nhất là các mặt hàng máy móc, thiết bị. Về
giá trị nhập khẩu các mặt hàng từ ASEAN của Nhật Bản trong những
năm 1990 là con số rất lớn trong tổng nhập khẩu của Nhật Bản.
Hoạt động xuất khẩu của Nhật Bản, trong cùng một thời kỳ cũng
diễn ra tương tự như nhập khẩu, nghĩa là xuất khẩu của Nhật Bản cũng
tăng liên tục. Xuất khẩu của Nhật Bản tới các nước ASEAN tăng với tỷ lệ
lớn h
ơn so với nhập khẩu, do đó tạo ra xu hướng thặng dư thương mại của
Nhật Bản trong quan hệ buôn bán với ASEAN.
Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Nhật Bản, gia tăng mạnh các sản
phẩm máy móc, thiết bị hiện đại, tinh vi. Từ năm 1985 đến nay, Nhật Bản
xuất khẩu các loại sản phẩm này sang thị trường Đông Á gia tăng mạ
nh.
Trong quan hệ mậu dịch với Nhật Bản, ASEAN lại là nước phải
nhập siêu. Mặc dù, Nhật Bản là một quốc gia tiêu thụ một khối lượng
lớn hàng xuất khẩu của ASEAN nhưng giá trị Nhật Bản nhập khẩu vào
ASEAN luôn lớn hơn giá trị mà ASEAN thu được qua việc xuất khẩu
hàng hoá đến Nhật Bản.
Tóm lại, dù có những biến động song Nhật Bản và ASEAN vẫn
là nhữ
ng bạn hàng cực kì quan trọng của nhau.
2.3. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á 1997 và
vai trò của Nhật Bản trong việc giúp đỡ các nước ASEAN khắc
phục hậu quả của cuộc khủng hoảng
18
2.3.1. Vài nét sơ lược về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền
tệ châu Á năm 1997
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997, chính
thức nổ ra ngày 2/7/1997 khi chính phủ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng
Baht. Vòng xoáy của cuộc khủng hoảng bao trùm lên toàn bộ nền kinh tế
Thái Lan và nhanh chóng lan sang các nước trong khu vực. Hầu hết, đồng
tiền các nước Đông Nam Á mất giá từ 12 -28%. Điều tệ hại hơn là sự
kh
ủng hoảng trên thị trường tài chính - tiền tệ đã nhanh chóng lan sang thị
trường chứng khoán, làm cho giá cổ phiếu châu Á giảm từ 30 -50% .
2.3.2. Những tác động của cuộc khủng hoảng tài - chính
tiền tệ châu Á 1997 đối với các nước ASEAN
Về kinh tế, do các đồng tiền bị phá giá đã làm cho giá các hàng
hóa nhu yếu phẩm tăng lên, lạm phát xảy ra ở mức cao hơn bình
thường ở tất cả các nước ASEAN. Sự phá sản hàng loạt các doanh
nghiệp, các công ty tài chính. Các nhà đầu tư nước ngoài mất niềm tin rút
vốn ra khỏi đất nước, làm xấu đi môi trường đầu tư…Nền kinh tế ASEAN
rơi vào khủng hoảng trầm trọng.
Về chính trị - xã hội, sự kiệt quệ về kinh tế, tài chính đã dẫn đến
những rối loạn về chính trị - xã hội được biểu hiện ở hàng loạt các
cuộc biểu tình chố
ng đối chính phủ của các tầng lớp nhân dân. Các
mâu thuẫn xã hội bị tích tụ lâu ngày ở các nước này thì nay bùng nổ
dữ dội đưa đến nhiều hệ quả hết sức tiêu cực.
Về tư tưởng, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997,
đã gây ra một cuộc khủng hoảng niềm tin của các nước trong khu vực.
2.3.3. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
châu Á năm 1997 đối với Nhật Bản
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 đã trực
tiếp làm cho hoạt động thương mại và đầu tư Nhật Bản vào khu vực
Đông Nam Á bị giảm sút. Số tiền các nước Đông Nam Á vay từ Nhật Bản
bằng đồng yên khó có khả năng thanh toán Tất cả những v
ấn đề đó
trở thành những sức ép thật sự lên nền kinh tế Nhật Bản vốn phải trải
qua một thời gian dài suy thoái và trì trệ.
2.3.4. Vai trò của Nhật Bản trong việc trợ giúp các nước
ASEAN khắc phục cuộc khủng hoảng
Nhật Bản là nước thể hiện vai trò tích cực nhất trong việc trợ
giúp các nước ASEAN vượt qua cơn khủng hoảng tài chính - tiền tệ
châu Á năm 1997: như v
ận động IMF cho các nước đang gặp khủng
hoảng vay khẩn cấp các khoản tiền để chống lại sự trượt giá của các
19
đồng tiền nội địa. Bản thân Nhật Bản đã trở thành nhà tài trợ lớn nhất.
Nhật Bản cũng đã chi 5 tỷ USD trong kế hoạch tài trợ song phương và
tham gia vào chương trình hỗ trợ cả gói 10,14 tỷ USD của IMF cho
Indonesia. Nhật Bản đã ủng hộ sáng kiến thành lập các thể chế tài
chính khu vực như sáng kiến thành lập “Quỹ Tín dụng Đông Á”,
“Ngân hàng Thanh toán bù trừ đa biên ASEAN”…
Ngoài ra, Nhật Bản còn thành lậ
p riêng Quỹ Miyazawa với số
tiền 30 tỷ USD nhằm mục đích giúp các nước Đông Á phục hồi nhanh
chóng nền kinh tế đã bị suy sụp bởi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền
tệ châu Á năm 1997.
2.4. Quan hệ Nhật Bản trên các lĩnh vực khác
Sau Chiến tranh lạnh, Nhật Bản nỗ lực vươn lên vị thế cường
quốc chính trị trên thế giới. Vì thế, ngoài các mối quan hệ kinh tế,
chính trị thì Nhật Bản còn thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác trên
những lĩnh vực khác nhất là trên lĩnh vực văn hoá xã hội nhằm nâng
cao sự hiểu biết lẫn nhau. Qua đó, tạo cơ sở củng cố niềm tin cho
ASEAN vào vai trò của Nhật Bả
n ở khu vực.
Năm 1997, Thủ tướng Hashimoto tiếp tục điều chỉnh chính
sách bằng học thuyết mang tên mình, trong đó nhấn mạnh đến tầm
quan trọng của các mối quan hệ văn hoá giữa Nhật Bản với ASEAN;
sự cần thiết phải làm sâu sắc thêm sự hiểu biết lẫn nhau và mở rông sự
hợp tác văn hoá, củng cố tình hữu nghị Nhật Bản - ASEAN.
Triển khai th
ực hiện những vấn đề trên, Nhật Bản và ASEAN
phối hợp hợp tác trên các vấn đề sau:
Một là, tiếp tục khai thác có hiệu quả các chương trình hợp tác văn
hoá; gia hạn những chương trình đang mang lại hiệu quả cho trao đổi văn
hoá; hỗ trợ tài chính cho các chương trình hợp tác giao lưu văn hóa.
Hai là, thông qua chiến lược viện trợ ODA để đẩy mạnh các
hợp tác văn hoá. Ngoài ra, Nhật Bả
n và ASEAN còn phối hợp chuyển
giao công nghệ trong việc bảo tồn và khôi phục các di sản văn hoá ở
Đông Nam Á; tổ chức các tuần lễ văn hóa của nhau.
***
Qua việc tìm hiểu quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ sau Chiến tranh
lạnh đến năm 2000, chúng tôi rút ra một số nhận xét quan trọng sau đây:
Trước hết, về hợp tác an ninh chính trị. Là một cường quốc
kinh tế thế giới, ý thức về sức mạnh của mình nên Nhật Bản luôn bày
tỏ tham vọng nâng cao vai trò chính trị lớn hơn trong khu vực và trên
20
thế giới, khắc phục tính “khập khiễng” trong quan hệ ở giai đoạn
trước. Nhật Bản đã chớp lấy cơ hội tham gia giải quyết vấn đề
Campuchia. Nhật Bản và ASEAN còn rất tích cực hợp tác cho việc
đảm bảo sự ổn định an ninh và nền hòa bình khu vực. Thành tựu nổi
bật nhất trong vấn đề này là ASEAN, Nhật Bản và các nước khác
thành lập Diễn đàn ARF để th
ảo luận những vấn đề liên quan đến an
ninh khu vực.
Hai là, về hợp tác kinh tế. ASEAN vẫn là nhóm nước được ưu
tiên nhận nhiều tài trợ từ Nhật Bản. Quan hệ thương mại, đầu tư giữa
Nhật Bản và ASEAN cũng có bước phát triển mạnh mẽ cho đến khi cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm 1997 nổ ra. Nhật Bản tiếp tục là
nhà đầu tư số
một và là bạn hàng thương mại quan trọng của ASEAN.
Ba là, vai trò của Nhật Bản trong việc trợ giúp các nước ASEAN
vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997. Nhật
Bản là một nước tích cực và có những trợ giúp to lớn, thiết thực nhất cho
ASEAN đối phó với những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng cho
dù lúc đó Nhật Bản cũng đang gặp nhiều khó khăn.
Chương 3
NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ NHẬT BẢN - ASEAN
TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2000
3.1. Nhận xét về quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ năm 1975
đến năm 2000
3.1.1. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN là một quá trình vừa hợp
tác vừa cạnh tranh lẫn nhau.
3.1.2. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN chịu ảnh hưởng chi phối và
tác động mạnh mẽ của tình hình quốc tế, khu vực và các cường quốc.
3.1.3. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN là quá trình mở rộng quan
hệ từ kinh tế đến an ninh chính trị và văn hóa xã hội.
3.1.4. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN là mối quan hệ đi từ quan
hệ bất bình đẳng đến quan hệ đối tác đôi bên cùng có lợi.
3.1.5. Nhật Bản và ASEAN đều tỏ ra nhạy cảm thích ứng
nhanh trước sự biến đổi của tình hình và cố gắng phát huy tối đa lợi
thế để thúc đẩy quan hệ phát triển
21
3.1.6. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN trong thời kỳ Chiến tranh
lạnh mục tiêu kinh tế giữa vai trò chủ đạo, mục tiêu an ninh chính trị
còn mờ nhạt.
3.1.7. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh
lạnh chuyển mạnh từ quan hệ kinh tế là chủ yếu sang tăng cường quan
hệ toàn diện.
3.2. Vai trò của Việt Nam trong quan hệ Nhật Bản - ASEAN
Thứ nhất, vai trò của Việt Nam trong mối quan hệ an ninh
chính trị Nhật Bản - ASEAN
Nhật Bản luôn đề cao tầm quan trọng của Việt Nam trong chính
sách Đông Nam Á của mình. Nhưng trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Nhật
Bản không thể xây dựng được mối quan hệ trọn vẹn với Việt Nam. Sau
Chiến tranh lạnh, đặc biệt khi Việt Nam gia nhập ASEAN đã tạo điều kiện
thuận lợ
i cho Nhật Bản triển khai chính sách đối ngoại trên toàn khu vực.
Về phần mình, Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong vấn
đề bảo vệ hoà bình và an ninh ở khu vực bằng nhiều nỗ lực và hoạt
động phong phú: tham gia sáng lập Diễn đàn ARF; thúc đẩy các xu
hướng hợp tác tích cực trong ASEAN, góp phần năng cao uy tín, sức
mạnh và vị thế quốc tế của ASEAN, tạo ra hình ảnh một ASEAN năng
động, thống nhất, đoàn kế
t. Việt Nam còn đóng vai trò thúc đẩy quan
hệ hợp tác giữa ASEAN với các nước lớn trên cơ sở cân bằng quyền lực.
Thứ hai, vai trò của Việt Nam trong quan hệ kinh tế Nhật Bản -
ASEAN
Việt Nam sẽ trở thành một nguồn bổ sung quan trọng vào chỉnh
thể kinh tế của khu vực. Góp phần làm cho ASEAN tăng thêm tính
hấp dẫn với các đối tác bên ngoài, nhất là với Nhật Bản trên các lĩnh
vực đầu tư, thương mại; tạo nên một mô thức hợp tác mới, tạo tiền đề
cho các nước có trình độ phát triển tương
đồng có thể tham gia vào
quá trình hội nhập khu vực.
Thứ ba,vai trò của Việt Nam trong việc góp phần làm tăng vị
thế của ASEAN trong các vấn đề khu vực, quốc tế và trong quan hệ với
Nhật Bản
Ý thức được vai trò, trách nhiệm của một thành viên, Việt Nam đã
không ngừng phấn đấu cho sự phát triển của ASEAN. Ngoài việc tích cực
tham gia vào các chương trình hợp tác nội bộ của ASEAN, Việt Nam còn
tham gia vào các quan hệ hợp tác qu
ốc tế của Hiệp hội. ASEAN từ khi có
22
sự tham gia của Việt Nam đã có những biến đổi vượt bậc. Từ một ASEAN
chỉ “một nửa” khu vực trở thành một tổ chức chung của khu vực, từ một
tổ chức nhỏ bé nhanh chóng trở thành một tổ chức phát triển năng động.
Cùng với quan hệ song phương Việt Nam - Nhật Bản đang phát
triển ngày càng tốt đẹp, Việt Nam sẽ tìm thấy nhiều cơ h
ội lớn từ quan
hệ Nhật Bản - ASEAN để phục vụ cho quá trình xây dựng và phát
triển đất nước.
Tóm lại, với tư cách là một thành viên chính thức của
ASEAN, Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong mối liên kết khu vực
và giữa khu vực với các cường quốc bên ngoài. Trong quan hệ Nhật
Bản - ASEAN, về an ninh chính trị Việt Nam đã góp phần làm cho
quan hệ Nhật Bản với Đông Nam Á phát triển toàn diện và sâu rộng.
Còn trong lĩ
nh vực kinh tế, Việt Nam làm cho ASEAN tăng tính hấp
dẫn hơn với Nhật Bản trên các lĩnh vực đầu tư và thương mại. Việt
Nam góp phần làm cho uy tín của ASEAN trên trường quốc tế ngày
càng nâng cao, vai trò của nó ngày càng quan trọng trong những vấn
đề quốc tế và khu vực cũng như trong quan hệ với Nhật Bản.
KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu đề tài “Quan hệ Nhật Bản - ASEAN (1975
– 2000)”, một số kết luận quan trọng liên quan đến cả lý luận lẫn thực
tiễn được rút ra như sau:
1. Trong 25 năm (từ 1975 - 2000) phát triển quan hệ Nhật Bản -
ASEAN, Nhật Bản và ASEAN luôn là những đối tác quan trọng của
nhau cho dù tình hình thế giới và khu vực có những chuyển biến lớn,
có tính chất bước ngoặc như trong và sau Chiến tranh lạnh. Sở dĩ, có
điều đó vì đây là thời kỳ Nhật Bản khẳng định được vị thế cường quốc
kinh tế thứ hai thế giới, là một trong những nhân t
ố quan trọng thúc
đẩy nền kinh tế các nước ASEAN phát triển, góp phần đảm bảo an
ninh và hòa bình khu vực. Còn ASEAN luôn là đối tác quan trọng của
Nhật Bản không chỉ vì vị trí địa - chiến lược, địa - chính trị của nó có ý
nghĩa đặc biệt đối Nhật Bản mà còn do chính sự tự biến đổi, tự phát
triển của nhóm nước này để có thể vươn lên trở thành một tổ chức khu
vực có tiếng nói quan trọng trong các v
ấn đề quốc tế.
2. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Nhật Bản và các nước
ASEAN đều nằm trong hệ thống đồng minh và bạn bè của Mỹ. Nên
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét