Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương I
Cơ sở lý luận về tập đoàn kinh tế
I. Quan niệm, đặc điểm và vai trò của tập đoàn kinh tế
1. Quan niệm về TĐKT
Hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau về TĐKT, tuy nhiên chưa có một
định nghĩa nào được xem là chuẩn mực. Tập đoàn kinh tế ở các nước khác
nhau được gắn với tên gọi khác nhau như tại các nước Tây Âu và Bắc mỹ
thường sử dụng với tên gọi là “Consortium”, “Conglomerate”, “Cartel”,
“Trust”, “Group”, “Business group”. Ở Châu Á, trong khi người Nhật Bản gọi
là “Zaibatsu” (tên này được sử dụng trước chiến tranh thế giới thứ hai), là
keiretsu (tên này được sử dụng sau chiến tranh thế giới thứ hai), còn người
Hàn Quốc gọi là “Cheabol”, Trung Quốc gọi là “tập đoàn doanh nghiệp”. Do
sự đa dạng về tên gọi khác nhau ứng với các nước khác nhau; song trên thực
tế việc sử dụng những tên gọi đó phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ và tính
chất đặc trưng của từng loại TĐKT như:
Xét về phương diện ngôn ngữ, “Consortium” là một từ gốc Latin có
nghĩa là “đối tác, hiệp hội hoặc hội” được sử dụng để chỉ sự tập hợp của hai
hay nhiều thực thể nhằm mục đích tham gia vào một hoạt động chung hoặc
đóng góp nguồn lực để đạt được mục tiêu chung, các công ty vẫn luôn giữ
nguyên tư cách pháp nhân độc lập của mình. Sự ra đời của một Consortium
được xác lập trên cơ sở hợp đồng, trong đó quy định rõ các quyền và nghĩa vụ
của từng công ty thành viên tham gia Consortium.
Conglomerate là một tập đoàn đa nghành, đa lĩnh vực. Các công ty
thành viên ít có mối quan hệ công nghệ sản xuất với nhau mà chủ yếu quan hệ
với nhau về hành chính và tài chính. Conglomerate được hình thành bằng
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cách thu hút cổ phần của những công ty có lợi nhuận cao nhất thông qua thị
trường chứng khoán. Đặc điểm cơ bản của Conglomerate là hoạt động chủ
yếu nhằm mở rộng phạm vi kiểm soát tài chính.
Trong tiếng Anh, “Cartel” cũng hay được sử dụng để chỉ khái niệm
“Tập đoàn kinh tế”. Cartel là một nhóm các nhà sản xuất độc lập có cùng mục
đích là tăng lợi nhuận chung bằng cách kiểm soát giá cả, hạn chế cung ứng
hàng hoá, hoặc các biện pháp hạn chế khác (đây là đặc trưng tiêu biểu trong
hoạt động của Cartel). Cartel thường có mặt tại những thị trường bị chi phối
mạnh bởi một số loại hàng hoá nhất định, nơi có ít người bán và thường đòi
hỏi những sản phẩm đồng nhất cao.
Các cụm từ “Group”, “Besiness Group”, “Corporate group” thường ám
chỉ TĐKT được tổ chức trên cơ sở kết hợp tính đặc thù của tổ chức kinh tế với
cơ chế thị trường; đây là một nhóm công ty có tư cách pháp nhân riêng biệt,
nhưng lại có mối quan hệ liên kết về phương diện quản lý. Mối quan hệ giữa
các công ty trong một TĐKT có thể là chính thức hoặc không chính thức.
Keiretsu là một nhóm các doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý nắm
giữ cổ phần của nhau và thiết lập được mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn,
nguồn nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm.
Thông thường tập đoàn bao gồm các công ty có sự liên kết không chặt chẽ
được tổ chức quanh một ngân hàng để phục vụ lợi ích của các bên.
Các Chaebol ở Hàn Quốc được sử dụng để chỉ một liên minh gồm
nhiều công ty hình thành quanh một công ty mẹ. Thông thường các công ty
này nắm giữ cổ phần, vốn góp của nhau và do gia đình điều hành.
Còn tập đoàn doanh nghiệp ở Trung Quốc được nhận thức là một tổ
chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp liên kết với nhau bằng quan hệ tài
sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá xã
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hội chủ nghĩa và của nền sản xuất lớn xã hội hoá. Thông qua việc nắm cổ
phần chi phối, tham gia cổ phần, hợp tác, doanh nghiệp nòng cốt của tập đoàn
gắn bó với các DN khác ở mức độ chặt chẽ, nửa chặt chẽ và lỏng lẻo; các DN
trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập.
Qua đó ta có thể đưa ra một quan niệm chung về TĐKT để định hướng
cho việc tổ chức lại các tổng công ty nhà nước để hình thành nên TĐKT. Tập
đoàn kinh tế đó là một tổ hợp các doanh nghiệp, bao gồm công ty mẹ, công ty
con ( doanh nghiêp thành viên) và công ty liên kết. Công ty mẹ là hạt nhân
của tập đoàn, có nhiệm vụ liên kết các doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp
liên kết với nhau. Công ty mẹ nắm quyền kiểm soát, chi phối các quyết sách,
chiến lược phát triển và nhân sự; chi phối hoạt động của thành viên. Bản thân
TĐKT không có tư cách pháp nhân, các DN thành viên đều có tư cách pháp
nhân. Các DN thành viên và DN liên kết có quan hệ với nhau về vốn, đầu tư,
tài chính, công nghệ… TĐKT hoạt động đa nghành, đa lĩnh vực.
2.Đặc điểm về TĐKT
Thực tế trên thế giới có rất nhiều mô hình TĐKT hoạt động với các cách
thức khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm của từng nước, của từng thời kỳ;
không có một mô hình chung duy nhất, do đó vấn đề nhận thức, quan niệm về
TĐKT là khách nhau. Tuy nhiên vẫn có thể nhận thấy một số đặc điểm chung
của TĐKT như:
Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các doanh nghiệp liên kết với nhau
thông qua quan hệ về đầu tư vốn, công nghệ, thị trường, nghiên cứu phát
triển, thương hiệu…nhằm tạo ra sức mạnh vượt trội trong cạnh tranh và chi
phối thị trường; việc trở thành TĐKT tất yếu là dẫn tới độc quyền, ở mức độ
cao có thể giành vị trí độc quyền thị trường trên thế giới như hãng Mcrosoft
giữ vị trí độc quyền trong việc cung cấp phần mềm hệ điều hành cho các máy
tính trên toàn thế giới. Tập đoàn thường được tổ chức theo mô hình công ty
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mẹ - công ty con hay liên kết giữa các DN trong tập đoàn là hình thức công ty
mẹ - công ty con và công ty liên kết. Trong đó công ty mẹ là công ty đầu tư
và có khả năng chi phối công ty con (công ty con là công ty do công ty mẹ chi
phối chủ yếu bằng vốn góp, bằng cổ phần, một số khác có thể thông qua thị
trường, đầu vào, công nghệ…) hoặc không chi phối công ty liên kết ( công ty
liên kết là những công ty cũng thuộc tập đoàn ).
Quy mô vốn của TĐKT thường rất lớn, rất đa dạng, hoạt động đa
nghành, đa lĩnh vực. Nguồn vốn đó có được nhờ quá trình tích tụ và tập chung
vốn của các DN thành viên, do việc phát hành cổ phiểu, trái phiếu, tích luỹ lợi
nhuận khổng lồ do độc quyền kinh doanh hoặc do nhà nước đầu tư, cho vay
ưu đãi…Trên thế giới có nhiều TĐKT có giá trị cổ phiếu lên đến hàng trăm tỷ
USD và nhờ đó chúng có khả năng mở rộng nhanh quy mô sản xuất, đổi mới
công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế từ đó nâng cao
chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm…Việc mở rộng quy mô hoạt
động là điều mà bất kỳ TĐKT nào cũng mong muốn bởi vì quy mô lớn thể
hiện được khả năng cạnh tranh, việc chiếm lĩnh thị phần, mua lại hoặc thôn
tính các công ty nhỏ hơn, việc huy động được các nguồn vốn một cách dễ
dàng khi muốn mở rộng ra một lĩnh vực nào đó…đồng thời nó thể hiện được
sức mạnh của tập đoàn trước những đối thủ cạnh tranh (đối thủ cùng nghành)
khi tham gia vào thị trường, tức thể hiện sự thôn tính; nếu đối thủ đó cũng rất
mạnh, tương ứng với mình thì biện pháp duy nhất là xuất hiện sự liên kết lại
với nhau bằng cách sáp nhập để trở thành TĐKT có sức mạnh kinh tế có thể
chi phối toàn bộ thị trường, do đó phạm vi hoạt động của tập đoàn đó rất lớn
đó thường và chiếm lĩnh hầu hết thị phần trong nền kinh tế; đây thường là các
công ty đa quốc gia.
Theo thông lệ trên thế giới, TĐKT không có tư cách pháp nhân. Các
DN tự nguyện gia nhập tập đoàn đều có tư cách pháp nhân đầy đủ và hoạt
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động độc lập. Vì vậy không có một mệnh lệnh hành chính nào có hiệu lực
trong tập đoàn. Cũng vì vậy không có một quyết định hành chính của bất kỳ
cấp quản lý nào về việc thành lập tập đoàn; tuy nhiên các TĐKT của Việt
Nam thì được hình thành trên quyết định hành chính và chúng ta cũng nhận
định rằng TĐKT không có tư cách pháp nhân, mỗi đơn vị thành viên của tập
đoàn là một pháp nhân độc lập. Vì vậy, các DN trong tập đoàn, kể cả công ty
mẹ và các công ty thành viên đều bình đẳng với nhau trước pháp luật, được
thành lập và đăng ký theo quy định của pháp luật.
Do TĐKT là một tổ hợp không có tư cách pháp nhân, không có con
dấu riêng nên tập đoàn không phải chịu trách nhiệm liên đới trước trách
nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp thành viên. Công ty mẹ và các công ty
thành viên khác tự chịu trách nhiệm về việc đầu tư, trong giới hạn của khoản
vốn mình bỏ ra. Cụ thể là công ty mẹ và các DN thành viên không phải chịu
trách nhiệm liên đới đến các khoản nợ của các DN khác trong tập đoàn mà chỉ
chịu trách nhiệm liên đới đến khoản nợ của DN khác trong giới hạn vốn đầu
tư của mình tại DN đó. Các DN thành viên phải tự chịu trách nhiệm về các
khoản nợ bằng nguồn vốn của mình.
Cơ cầu sở hữu của TĐKT là hỗn hợp, trong đó có một chủ thể đóng
vai trò chi phối, khống chế (đó là công ty mẹ hay công ty tài chính). Công ty
mẹ sở hữu số lượng lớn vốn cổ phần trong các công ty con, cháu và chi phối
chúng về tài chính và chiến lược phát triển. Giữa các công ty thành viên có
những mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc (liên kết dọc) hoặc độc lập với nhau
(liên kết ngang – đa nghành), song chúng đều phụ thuộc vào công ty mẹ và
chúng nhằm phục vụ mục tiêu chung của tập đoàn.
Cơ cấu tổ chức TĐKT gồm nhiều tầng nấc, nhiều mô hình tổ chức
khác nhau. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty thành viên ở tầng nấc
khác nhau cũng khác nhau, phụ thuộc vào mối quan hệ liên kết giữa các DN
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong tập đoàn.
Các TĐKT thường được tổ chức thei một trong ba hình thức sau:
Mô hình liên kết dọc hay còn gọi là mô hình kim tự tháp. Theo mô
hình này có nghĩa quyền lực được phân bố tập chung.
Mô hình liên kết ngang hay là mô hình mạng lưới. Theo mô hình này
quyền lực được phân bố cho các bộ phận cầu thành mạng lưới.
Mô hình liên kêt hỗn hợp hay là mô hình nhị nguyên. Theo mô hình
này là sự kết hợp giữa cơ chế quản lý tập trung và cơ chế phân tán quyền lực.
Công ty mẹ trong tập đoàn có thể thực hiện một hoặc cả hai chức năng
sản xuất – kinh doanh và chức năng đầu tư tài chính hay kinh doanh vốn đầu
tư vào các DN khác. Kinh doanh vốn đầu tư vào các DN khác là hình thức
kinh doanh quyền tài sản nhằm mục đích đem lại lợi nhuận tối đa và làm tăng
giá trị đồng vốn. Triển khai kinh doanh vốn cũng có nghĩa là phải thiết lập cơ
chế công ty mẹ - công ty con với sợi dây liên hệ là vốn và thiết lập cơ cầu
quản lý pháp nhân DN trong nội bộ tập đoàn.
Về tổ chức điều hành trong TĐKT, do được tổ chức theo mô hình
công ty mẹ- công ty con nên trong quan hệ nội bộ, công ty mẹ thành lập hoặc
tham gia góp vốn chi phối đối với DN thành viên. Do đó công ty mẹ có quyền
chỉ đạo, điều hành hoạt động của các công ty thành viên tương ứng với tỷ lệ
phần vốn góp và tham gia Hội đồng quản trị, ban điều hành, giám sát việc
quyết định sử dụng các nguồn lực…Thông qua cách tổ chức như vây, công ty
mẹ thực hiện chức năng quản lý, tập trung vào việc cân đối, điều tiết, huy
động và quản lý vốn, xây dựng chiến lược kinh doanh, phát triển thương hiệu,
đào tạo nhân sự cho cả tập đoàn. Ta thấy rằng cách quản lý này vừa tạo ra sức
mạnh tập trung thống nhất, lại vừa phát huy được tính tự chủ trong sản xuất
kinh doanh của các thành viên.
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các TĐKT đều hoạt động đa nghành, đa lĩnh vực. Tuy nhiên mỗi
nghành đều có nghành chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản
phẩm đặc trưng gắn với thương hiệu của cả tập đoàn và do một hoặc một số
DN làm nòng cốt trong tập đoàn đảm nhiệm. Sự hoạt động đa nghành nghề,
đa lĩnh vực của tập đoàn với mục đích chính là thích ứng nhanh với sự biến
đổi của thị trường, phân tán rủi ro vào các mặt hàng, lĩnh vực kinh doanh khác
nhau, để đảm bảo cho hoạt động của tập đoàn luôn được an toàn và hiệu quả,
đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất và nguồn lực sẵn có. Tuy nhiên cũng
nhận thấy rằng, khi các DN đi vào hoạt động ở những nghành không có thế
mạnh, đang cạnh tranh quyết liệt thì không có gì đảm bảo tập đoàn đó thành
công.
3. Vai trò của TĐKT trong nền kinh tế thị trường
TĐKT là sản phẩm của nền kinh tế thị trường phát triển cao. Đồng thời
quá trình phát triển cao của nền kinh tế thị trường thúc đẩy trở lại sự phát
triển kinh tế và trở thành tác nhân chủ yếu đẩy nhanh quá trình Toàn cầu hoá
và Hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia. Do tập đoàn có quy mô lớn và
nắm giữ lợi thế quan trọng. Do đó tập đoàn kinh tế có vai trò to lớn đối với
nền kinh tế quốc gia và cả nền kinh tế thế giới, được thể hiện:
TĐKT thúc đẩy tăng trưởng kinh tế do có khả năng huy động, tập
trung và sử dụng rộng rãi, có hiệu quả các nguồn lực vật chất, lao động và vốn
trong xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sự hỗ trợ trong việc cải
tổ cơ cấu sản xuất, hình thành những công ty hiện đại, quy mô lớn có tiềm lực
kinh tế lớn. Việc hình thành TĐKT cho phép phát huy lợi thế quy mô; khai
thác triệt để thương hiệu, hệ thống dịch vụ đầu vào, đầu ra và dịch vụ chung
của cả tập đoàn. Đồng thời nhờ mối liên kết chặt chẽ giữa các công ty sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho chúng thống nhất phương hướng, chiến lược trong
phát triển kinh doanh, tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của từng công ty thành viên.
TĐKT góp phần mở rộng phân công lao động và hợp tác quốc tế, đẩy
nhanh quá trình TCHKT. Mà đại đa số các TĐKT hoạt động vì mục tiêu tối đa
hoá lợi nhuận. Do vậy, trong chiến lược kinh doanh và cạnh tranh toàn cầu, nó
phải tìm mọi biện pháp để đạt được mục đích trên, trước tiên là triệt để khai
thác các lợi thế so sánh quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế. Bên cạnh sự
cạnh tranh khốc liệt, các TĐKT cũng ý thức được vai trò của hợp tác, phân
công chuyên môn hoá với các đối tác trong và ngoài nước, nhằm tận dụng
những ưu thế của nhau, giảm thiểu chi phí, từ đó tăng thêm lợi nhuận.
TĐKT có ý nghĩa quan trọng đối với các nước mới công nghiệp hoá,
là giải pháp để bảo vệ sản xuất trong nước, cạnh tranh lại với các công ty đa
quốc gia, TĐKT lớn… của các nước trên thế giới. Để có thể cạnh tranh được
với các công ty đa quốc gia và TĐKT lớn…có khả năng vươn ra và không
ngừng mở rộng, củng cố trên thị trường thế giới, kể cả thị trường có nền kinh
tế phát triển thì đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của nhà nước và định hướng chiến
lược đúng đắn phù hợp với từng điều kiện cụ thể.
TĐKT ra đời trước hết là để đối phó với áp lực cạnh tranh ngày càng
gay gắt (có sự xuất hiện độc quyền) và đây cũng là một đòi hỏi thực tế và
khách quan nhằm khắc phục khả năng hạn chế về vốn của từng công ty cá
biệt. Trong tập đoàn nguồn vốn được huy động từ các công ty thành viên và
được tập trung đầu tư vào công ty, những dự án có hiệu quả nhất, những dự
án tạo ra sức mạnh quyết định cho phát triển tập đoàn, đáp ứng được nhu cầu
thu được lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp thành viên và cho tập đoàn.
Có nhiều biện pháp để nâng cao sức cạnh tranh, nhưng biện pháp phổ
biến nhất là giành lợi thế về quy mô trước các đối thủ để có thể thao túng
được thị trường. Do đó các DN có khuynh hướng tập trung, liên kết với nhau
hình thành các TĐKT có quy mô lớn để giành lợi thế cạnh tranh. Điều đó tất
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
yếu dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền thao túng nền kinh tế- mặt đối
lập với cạnh tranh, gây ra nhiều rủi ro, hậu quả cho nền kinh tế.
TĐKT có tác dụng lớn trong việc đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai
ứng dụng KH-CN mới vào sản xuất kinh doanh của các công ty thành viên.
Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH-CN đòi hỏi một khối lượng rất lớn, có
sự hợp sức của đội ngũ cán bộ nghiên cứu và cần có phòng thí nghiệm, các
thiết bị nghiên cứu khác mà mỗi công ty riêng rẽ khó có khả năng làm được.
Như vậy chỉ trên có sự liên kết các công ty lại với nhau thì mới tạo được tiềm
năng nghiên cứu khoa học to lớn.
Sự phối hợp và thống nhất giữa các công ty thành viên trong thực
hiện một chiến lược công nghệ chung thông qua sự chỉ đạo thống nhất từ một
trung tâm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn khâu quan trọng có ý
nghĩa đột phá với công nghệ thích hợp trong việc chuyển giao công nghệ với
chi phí thấp nhất, giảm lãng phí về vốn, tập trung được nguồn lực vào thực
hiện những mục tiêu chiến lược có lợi cho tất cả các công ty thành viên và
cho toàn tập đoàn.
TĐKT có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp, trao đổi thông tin và
những kinh nghiêm quan trọng trong tổ chức nghiên cứu ứng dụng KH-CN
giữa các công ty thành viên. Những thông tin cần thiết và kinh nghiệm trong
việc chuyển giao công nghệ từ các công ty thành viên được phổ biến rộng rãi
trong TĐKT. Nhờ đó tránh được những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra do
thiếu hiểu biết cơ bản trong chuyển giao công nghệ nước ngoài.
TĐKT trở thành công cụ điều tiết kinh tế và HNKTQT của nhiều
quốc gia. Do ý thức được sức mạnh to lớn của TĐKT nên ở nhiều quốc gia,
xây dựng các TĐKT được coi là một chiến lược phát triển kinh tế và
HNKTQT nhằm nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển so với các
nước đi trước, điển hình là Nhật Bản những năm 50-70 và Hàn Quốc những
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
năm 70-80 của thế kỷ trước. Để nhanh chóng có các TĐKT làm đầu tàu tăng
trưởng, Chính phủ các nước này đã thi hành các chính sách ưu đãi đặc biệt
nhằm kích thích các DN tư nhân mở rộng quy mô, đồng thời trực tiếp đầu tư
vốn hình thành các TĐKT kinh doanh những lĩnh vực trọng yếu do nhà nước
chi phối. Các nước này dựa vào sự phát triển của TĐKT làm động lực thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và biến đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu. Khi nền kinh tế cất
cánh họ hướng các tập đoàn vào các nghành, lĩnh vực kinh tế then chốt và nền
tảng, làm nòng cốt và có đủ tiềm lực để mở cửa, vươn thế lực ra bên ngoài.
II. Hình thành và phát triển của TĐKT
1. Phương thức hình thành và phát triển của TĐKT
Qua nghiên cứu được biết TĐKT được hình thành chủ yếu bằng hai
con đường:
Theo con đường phát triển truyền thống có nghĩa là DN phát triển
tuần tự, tự phát triển, tự tích tụ, tập trung vốn và đầu tư chi phối các DN khác
hoặc bằng cách sáp nhập, thôn tính, mua cổ phần, góp vốn ở các DN khác để
trở thành TĐKT ví dụ: nhiều tập đoàn kinh tế ở Hàn Quốc, Thái Lan được
hình thành, tự lớn lên nhờ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và nguồn tín
dụng từ các ngân hàng với sự hỗ trợ của nhà nước, bằng cách thành lập mới
hoặc tách ra hình thành những công ty mới từ những bộ phận của công ty mẹ
trên cơ sở mở rộng, đa dạng hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh. Hay hầu
hết đối với các TĐKT ở Nhật Bản được hình thành trên cơ sở phát triển các
bộ phận bên trong của công ty thành các công ty thành viên, thông qua việc
chia nhỏ các chức năng hoạt động của công ty như sản xuất, bán hàng, dịch
vụ thành các công ty thành viên và nỗ lực hình thành một tổ chức các DN linh
hoạt xung quanh công ty mẹ để cùng đối phó một cách hiệu quả với sự thay
đổi của môi trường kinh doanh.
Trên cơ sở một công ty nhà nước có quy mô lớn hoặc TCTNN có sẵn
SV: Nguyễn Thị Vũ Mai Lớp: Quản lý Kinh tế 46A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét