Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật hữu ích phục vụ cho việc sản xuất các chế phẩm probiotic dùng trong chăn nuôi

Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
xúc trực tiếp với môi trường, đặc biệt là qua thức ăn và nước uống, số lượng và tính
đa dạng sinh học của các vi sinh vật cộng sinh không ngừng tăng lên. Số lượng tế bào
vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hóa của vật nuôi có thể cao gấp mười lần số lượng
tế bào cấu tạo nên cơ thể chúng (Fonty, 1995). Số lượng loài có thể lên tới từ 400-
500 (Tannock, 1999). Tuy nhiên, mật độ vi sinh vật ở các phân đoạn khác nhau của
đường tiêu hóa (dạ dày; tá tràng; ruột non và ruột già) ở loài động vật dạ dày đơn rất
khác nhau (khoảng 10
1
-10
3
; 10
1
-10
4
; 10
5
-10
8
và 10
9
-10
12
cfu/ml chất chứa tương ứng)
(Jans, 2005).
Sức khỏe của vật nuôi phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: trạng thái sinh lý của vật
chủ, khẩu phần thức ăn và hệ vi sinh vật. Các yếu tố này chịu tác động của môi
trường, của các stress và tác động qua lại lẫn nhau. Trong số các nhân tố trên, hệ vi
sinh vật đường tiêu hóa đóng vai trò trung tâm, chỉ một biến động bất lợi của một
trong hai yếu tố còn lại cũng ảnh hưởng xấu tới hệ vi sinh vật (Conway, 1994). Sự
cộng sinh của các loài vi sinh vật trong đường tiêu hoá của vật nuôi (chủ yếu là trong
ruột) tạo nên một hệ sinh thái mở và mối cân bằng của quần thể vi sinh vật được xác
lập chỉ một thời gian rất ngắn sau khi sinh (Jans, 2005).
Có nhiều quan điểm khác nhau về mối tương quan cân bằng của hệ vi sinh vật
ruột. Theo Jans (2005), để đánh giá trạng thái cân bằng, các vi sinh vật ruột được chia
thành 3 nhóm (1) nhóm chủ yếu (main flora) gồm các loài vi khuẩn kị khí
(Clostridium; Lactobacillus; Bifidobacteria; Bacteroides, Eubacteria); (2) nhóm vệ
tinh (Satellite flora), gồm chủ yếu là Enterococcus và E. coli, và (3) nhóm còn lại
(Residual flora) gồm các vi sinh vật có hại như Proteus, Staphylococcus và
Pseudomonas… Một quần thể vi sinh vật được coi là cân bằng khi tỷ lệ của các nhóm
dao động trong khoảng 90; 1,0 và 0,01% tương ứng. Trạng thái mà các nhóm này
hình thành một tỷ lệ 90:1:0,01 được gọi là trạng thái “eubiosis” (tiếng Hy Lạp có
nghĩa là sự chung sống có lợi giữa các vi khuẩn với nhau và với vật chủ). Ở trạng thái
“eubiosis”, vật chủ cung cấp các điều kiện sống lý tưởng như nhiệt độ ổn định, pH
trung tính, dinh dưỡng và sự đào thải các chất chuyển hóa. Đổi lại, hệ vi sinh vật sẽ
mang lại lợi ích cho vật chủ thông qua tăng cường tiêu hóa các chất dinh dưỡng, giải
===========================================================5
Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
độc, tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K, loại trừ các vi sinh vật có hại, tăng
cường đáp ứng miễn dịch của vật chủ. Sự cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường
tiêu hóa bị tác động bởi một số nhân tố vô sinh và hữu sinh như: sinh lý vật chủ, khẩu
phần thức ăn và cơ cấu nội tại của bản thân hệ vi sinh vật. Thức ăn là nền dinh dưỡng
cơ bản của vi sinh vật, bởi vậy sự thay đổi thành phần khẩu phần, thức ăn không đảm
bảo vệ sinh, phương pháp cho ăn không hợp lý đều làm tổn hại đến trạng thái cân
bằng hệ vi sinh vật ruột. Tương tự như vậy, các chất bài tiết của hệ tiêu hóa (dịch
mật, các enzym, chất đệm và chất nhầy ) cũng như kiểu và tần số nhu động ruột
cũng tác động trực tiếp đến hệ vi sinh vật. Kiểu và tần số nhu động ruột bị tác động
rất lớn bởi các stress (sinh đẻ, cai sữa, dồn chuồng, vận chuyển ). Khi quan hệ cân
bằng của hệ vi sinh vật ruột bị phá vỡ sẽ tạo nên trạng thái “dysbiosis” (trạng thái
“chung sống có hại”). Biểu hiện của trạng thái “dysbiosis” ở vật chủ thường là thể
tạng kém, sinh trưởng chậm và mắc các bệnh đường tiêu hóa như tiêu chảy, viêm
ruột hoại tử (tóm tắt trạng thái eubiosis và dysbiosis có trong bảng 1). Để cải thiện
quan hệ cân bằng của hệ vi sinh vật ruột ở vật nuôi, một phương pháp thường được
áp dụng là bổ sung vào khẩu phần thức ăn một số loại kháng sinh liều thấp như
những chất kích thích sinh trưởng. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn
chăn nuôi một cách không có kiểm soát đã và đang gây ra những hậu quả đáng lo
ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệt là gây nên tình trạng kháng thuốc ngày
càng gia tăng của các vi khuẩn gây bệnh trên người và vật nuôi. Hiện nay, khối liên
minh châu Âu (EU) đã cấm sử dụng kháng sinh để bổ sung vào thức ăn như chất kích
thích sinh trưởng từ ngày 01 tháng 01 năm 2006. Việc cấm sử dụng kháng sinh trong
thức ăn chăn nuôi cũng đặt ra những thách thức lớn về kỹ thuật, đặc biệt đối với chăn
nuôi gia súc, gia cầm non hoặc trong điều kiện vệ sinh kém và vật nuôi chịu nhiều
stress. Để vượt qua những thách thức đó, đã có rất nhiều những nghiên cứu nhằm tìm
ra tác nhân để thay thế kháng sinh nhưng an toàn với vật nuôi. Một trong những tác
nhân tìm ra đó là probiotic.
===========================================================6
Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
Bảng 1: Tóm tắt trạng thái Eubiosis và Dysbiosis cùng các đặc điểm đặc trưng của
chúng
Trạng thái Eubiosis
- Sự cùng tồn tại giữa vật chủ và hệ vi
sinh vật đường ruột – Sự cộng sinh
- Sự bảo vệ bề mặt của đường tiêu hóa
chống lại các vi sinh vật xâm nhiễm.
- Kích thích hệ miễn dịch của vật chủ.
- Tiêu hóa các chất dinh dưỡng.
- Tổng hợp protein.
- Tổng hợp các vitamin
Trạng thái Dysbiosis
- Sự không cùng tồn tại giữa vật chủ và
hệ vi sinh vật đường ruột.
- Sự phá hủy biểu mô đường ruột, làm
cho thành đường ruột mỏng đi dẫn đến
giảm sự hấp thụ các chất dinh dưỡng.
- Sinh ra các cơ chất gây độc (NH
3
, chất
độc…)
- Phân hủy, tăng sản sinh khí gas (CH
4
,
H
2
S, CO
2
).
- Làm yếu hệ thống miễn dịch
- Làm tăng chu trình tế bào, cần nhiều
năng lượng
1.3. Vai trò và cơ chế hoạt động của probiotic
1.3.1. Vai trò của probiotic
Từ khi kháng sinh bị cấm sử dụng như chất kích thích sinh trưởng trong thức
ăn chăn nuôi ở một số nước thuộc khối liên minh châu Âu (bắt đầu là Thụy Điển vào
năm 1986) thì probiotic được coi là một trong những nguồn thay thế có triển vọng
nhất vì có nhiều đặc tính ưu việt. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của nhiều tác
giả, Patterson (2003) đã tổng kết các ảnh hưởng có lợi của probiotic đối với đời sống
động vật thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Thay đổi cấu trúc quần thể vi sinh vật đường ruột theo chiều hướng có lợi
cho vật chủ.
- Tăng cường khả năng miễn dịch.
- Giảm phản ứng viêm.
===========================================================7
Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
- Ngăn cản sự xâm nhập và ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh.
- Tăng sản xuất các axit béo bay hơi.
- Tăng cường quá trình sinh tổng hợp các vitamin nhóm B.
- Tăng hấp thu chất khoáng.
- Làm giảm cholesterol huyết thanh.
- Làm tăng năng suất vật nuôi.
- Giảm hàm lượng amoniac và urê trong chất thải.
Ngoài ra probiotic còn rất an toàn với động vật và thân thiện với môi trường.
Vì là chất bổ sung vi sinh vật sống hữu ích, việc sử dụng probiotic sẽ không tạo ra
các chất tồn dư trong các sản phẩm chăn nuôi có hại cho sức khỏe người tiêu dùng.
1.3.2. Cơ chế tác động
Có rất nhiều cách giải thích khác nhau về cơ chế tác động, nhưng phần lớn các
tài liệu về probiotic đề cập đến ba khía cạnh sau: (i) cạnh tranh loại trừ; (ii) đối kháng
vi khuẩn và (iii) điều chỉnh miễn dịch (Steiner, 2006). Minh họa cơ chế hoạt động
của probiotic thông qua hình 1.
Cạnh tranh loại trừ là đặc tính đấu tranh sinh tồn điển hình của các vi sinh vật.
Hình thức cạnh tranh loại trừ thường thấy ở các vi sinh vật ruột là cạnh tranh vị trí
bám dính. Các vi sinh vật probiotic cư ngụ và nhân lên trong ruột, khóa chặt các vị trí
thụ cảm và ngăn cản sự bám dính của các vi sinh vật khác như E. coli, Salmonella
Một số nấm men probiotic (Saccharomyces cereviese; S.boulardii) không chỉ tranh vị
trí bám dính của các vi khuẩn khác mà còn gắn kết các vi khuẩn có roi (phần lớn là
những vi khuẩn có hại) thông qua các cơ quan thụ cảm mannose và đẩy chúng ra khỏi
vị trí bám dính ở niêm mạc ruột (Czerucka và Rampal, 2002). Tuy nhiên, cạnh tranh
dinh dưỡng là phương thức cạnh tranh khốc liệt nhất vì sự sinh sôi với số lượng lớn
của một loài vi sinh vật nào đó là một đe dọa nghiêm trọng đối với các loài khác về
nguồn cơ chất cho phát triển.
Đồng thời với cạnh tranh loại trừ, các vi sinh vật probiotic còn sản sinh các
chất kìm hãm vi khuẩn như lactoferrin, lysozym, hydrogen peroxide cũng như một số
===========================================================8
Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
axit hữu cơ khác. Các chất này gây tác động bất lợi lên vi khuẩn có hại chủ yếu là do
sự giảm thấp pH trong ruột (Conway, 1996).
Phản ứng miễn
dịch được kích
thích và hoạt tính
kháng thể của vật
chủ tăng lên
Cạnh tranh chất dinh dưỡng:
các sinh vật probiotic cạnh
tranh với các vi sinh vật gây
bệnh các chất dinh dưỡng quan
trọng.
Cạnh tranh loại trừ: các
sinh vật probiotic khóa chặt
các vị trí thụ cảm do đó loại
trừ được các vi sinh vật gây
bệnh
Màng chắn: nơi các sinh
vật probiotic chiếm giữ
các thụ cảm trên bề mặt
ruột, độc tố được loại trừ
Gây bệnh: các vi sinh vật
gây bệnh và chất độc của
chúng bám vào niêm mạc
và các thụ cảm trên ruột và
phá hủy chúng
Các vi sinh vật probiotic cư
ngụ và nhân lên trong ruột,
ngăn cản sự bám dính và
phát triển của các vi sinh vật
gây bệnh
Hình 1. Minh hoạ cơ chế tác động của probiotic
Ruột là cơ quan miễn dịch lớn nhất ở động vật có vú. Giữa hệ vi sinh vật ruột
và hệ thống miễn dịch có mối tương tác đặc thù. Năng lực miễn dịch thể dịch và
miễn dịch tế bào của hệ thống miễn dịch đường ruột bị ảnh hưởng rất lớn bởi sự cân
bằng của hệ vi sinh vật ruột (Cebra, 1999). Thông qua tương tác với hệ thống miễn
dịch ruột, các probiotic có thể điều chỉnh cả miễn dịch thụ động và chủ động hoặc cả
hai. Tác động điều chỉnh miễn dịch đặc hiệu của probiotic phụ thuộc vào chủng
giống hoặc các loài vi khuẩn probiotic (Dugas và ctv, 1999). Tuy nhiên, cơ chế tác
===========================================================9
Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
động của probiotic đối với việc nâng cao chức năng miễn dịch vẫn còn chưa được
hiểu biết đầy đủ.
1.4. Tiêu chuẩn lựa chọn chủng vi sinh vật probiotic
1.4.1. Lựa chọn các chủng probiotic
Việc lựa chọn các chủng vi sinh vật với tiêu chuẩn đầu tiên là phải an toàn cho
quá trình sản xuất và ứng dụng, có khả năng sống sót và chiếm lĩnh (colonization)
trong đường tiêu hóa vật chủ. Các tiêu chuẩn lựa chọn này được hợp lý hóa thông
qua các thí nghiệm in vitro, từ đó sẽ tuyển chọn được các chủng có tiềm năng như là
nguồn probiotic [22].
Các chủng vi sinh vật probiotic được lựa chọn theo các tiêu chuẩn chủ yếu
sau:
• Tính bám dính trên bề mặt đường tiêu hóa hoặc các tế bào biểu mô: Các chủng
probiotic phải bám dính được vào thành ruột non, khu trú tốt trong đường tiêu hoá và
sinh sôi nảy nở. Khả năng bám dính được xem là một yêu cầu quan trọng để tăng khả
năng ức chế vi sinh vật gây bệnh, bảo vệ biểu mô và tăng khả năng miễn dịch của vật
chủ. Đặc tính này làm tăng khả năng cạnh tranh của các chủng probiotic với các vi
sinh vật bất lợi khác.
• Hoạt tính kháng khuẩn chống lại các vi khuẩn gây bệnh: Lựa chọn được các
chủng có khả năng sản sinh các chất kháng khuẩn là đặc tính quan trọng nhất trong
phát triển probiotic. Các chủng probiotic cần có hoạt tính ức chế vi khuẩn gây bệnh
như E. coli, Salmonella và Campylobacteria. Hoạt tính kháng khuẩn của chúng có thể
theo nhiều cơ chế khác nhau như:
+ Sản sinh ra các chất Bacteriocin.
+ Làm giảm độ pH bởi tạo ra axit lactic.
+ Tạo ra H
2
O
2
.
+ Làm giảm độc tố theo các cơ chế khác nhau.
+ Khả năng làm giảm sự bám dính của các vi khuẩn gây bệnh trên bề mặt.
+ Cạnh tranh dinh dưỡng với các vi khuẩn gây bệnh.
===========================================================10
Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
• Khả năng tồn tại trong môi trường axit dạ dày: Khoang miệng và dạ dày của
vật chủ là nơi có môi trường axit pH từ 2-3 và có mặt các enzym tiêu hoá (amylaza,
proteaza, lysozym…). Các chủng vi sinh vật được coi như là nguồn probiotic phải tồn
tại được trong điều kiện này. Hiện nay các công ty đã khuyến cáo dùng vỏ bọc
(microcapsute) với chế phẩm probiotic nhằm tăng khả năng sống của vi khuẩn
probiotic khi đi qua khoang miệng và dạ dày.
• Khả năng chịu muối mật: Thông thường, muối mật trong dịch tiêu hoá của động
vật dao động 1-3% [48]. Để tồn tại và phát triển, các chủng probiotic phải có khả
năng tồn tại và phát triển với nồng độ muối mật ≥ 2%, ngoài ra một số chủng
probiotic (Nấm men, Bacillus và Lactobacillus) có khả năng sinh enzym tiêu hoá
như: amylaza, xenlulaza và proteaza, lipaza và phytaza có vai trò làm tăng khả năng
tiêu hoá thức ăn và hấp thu chất dinh dưỡng của vật chủ.
1.4.2. Các chủng vi sinh vật dùng phổ biến trong probiotic
 Vi khuẩn lactic: gồm 2 chi vi khuẩn chủ yếu là Lactobacillus và
Bifidobacterium.
Các loài thuộc chi Lactobacillus: L. acidophilus, L. amylovorus, L. brevis, L. casei, L.
casei subsp. rhamnosus (Lactobacillus GG), L. caucasicus, L. crispatus, L.
delbrueckii subsp. bulgaricus (L. bulgaricus), L. fermentum (L. fermenti), L. gasseri,
L. helveticus, L. johnsonii, L. lactis, L. leichmannii, L. paracasei, L. plantarum, L.
reuteri, L. rhamnosus
Các loài thuộc chi Bifidobacterium: B. adolescentis, B. bifidum, B. breve, B. infantis,
B. lactis (B. animalis), B. licheniformis, B. longum
 Một số vi sinh vật probiotic khác không phải vi khuẩn lactic Lactobacillus và
Bifidobacterium: Bacillus subtilis, Enterococcus faecium, Saccharomyces boulardii,
Saccharomyces cerevisiae.
1.4.3. Công thức chế phẩm probiotic
===========================================================11
Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
Như đã trình bày ở phần 1.4.2 có 3 đối tượng chủ yếu cho nghiên cứu phát
triển chế phẩm là vi khuẩn lactic, vi khuẩn Bacillus và nấm men. Vai trò cũng như cơ
chế tác động của chúng lên vật chủ rất khác nhau [36], cụ thể có trong bảng sau:
Bảng 2: Tóm tắt cơ chế tác động chủ yếu của các chủng probiotic lên vật chủ
Vi khuẩn lactic Vi khuẩn Bacillus Nấm men
- Sinh bacteriocin
- Cạnh tranh vị trí bám.
- Sinh các peptit, kích thích hệ
thống miễn dịch của vật chủ.
- Cạnh tranh dinh dưỡng và vị trí
bám vào biểu mô.
- Sinh các axit hữu cơ, tăng hiệu
quả hấp thu chất dinh dưỡng.
- Sinh enzym phân
giải các cơ chất như
tinh bột, xenluloza;
kích thích tiêu hoá.
- Sinh axit hữu cơ, kích
thích tiêu hoá
- Hấp thu chất độc và
cạnh tranh dinh dưỡng,
vị trí bám trên biểu mô
với vi sinh vật gây
bệnh.
Tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm mà có thành phần vi sinh vật khác nhau.
1.4.4. Yêu cầu an toàn đối với các chủng vi sinh vật probiotic
Việc nghiên cứu, phát triển chế phẩm probiotic và sử dụng trong chăn nuôi bắt
đầu từ khâu nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ, sử dụng trên đàn gia súc, gia cầm [9].
Như vậy các chủng vi sinh vật đã qua nhiều khâu tiếp xúc với con người, môi trường
trước khi vào cơ thể động vật. Điều này cho thấy là yêu cầu an toàn đối với chủng vi
sinh vật là vấn đề quan trọng nhất đối với vật nuôi, con người và môi trường. Đối với
động vật cần có thời gian thử nghiệm từ 1-3 tháng, kiểm tra các chỉ tiêu tăng trọng,
phản ứng cơ thể, theo dõi các bệnh tiêu hoá, bệnh nhiếm khuẩn và các phản ứng phụ.
Ngoài ra cần có những thông số phân tích sinh hoá về máu và đánh giá chỉ số
coliform trong phân. Đối với con người không cần thiết phải thử nghiệm như trên
động vật nhưng cần chú ý các phản ứng phụ như dị ứng với da, mũi, mắt (Arturo et
al, 2006). Với môi trường cần đảm bảo là vi sinh vật không có hại đối với con người
và động vật, không mang gen lạ. Nói chung các chủng vi sinh vật probiotic có nguồn
gốc tự nhiên (từ hệ vi sinh vật đường ruột vật nuôi) là các chủng được khuyến cáo sử
===========================================================12
Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
dụng. Tổ chức FAO (2002) đưa ra hướng dẫn với việc tuyển chọn các chủng
probiotic, ngoài các đặc tính probiotic và đảm bảo an toàn thì các chủng này phải
được cụ thể hoá các thông tin về nguồn gốc chủng, tên phân loại đến chi và loài. Đối
với vấn đề an toàn probiotic, cộng đồng Châu Âu đã lập một Uỷ ban khoa học về
dinh dưỡng động vật (SCAN: scientific committee for animal nutrition) đưa ra những
quy định đánh giá an toàn đối với sản phẩm và những khuyến cáo cho vấn đề này qua
các điều luật và kỹ thuật online ((SCAN, 2000).
Tổ chức FAO (2002) khuyến cáo các chủng probiotic không những cần được
phân loại chính xác mà còn phải được cung cấp và lưu giữ tại các bảo tàng vi sinh vật
đạt tiêu chuẩn quốc tế. Quy trình sản xuất phải theo tiêu chuẩn GMP (Good
Manufacturing Practices).
1.4.5. Phân loại vi sinh vật
Yêu cầu tiên quyết là các chủng vi sinh vật probiotic phải được định danh
chính xác đến chi (genus) và loài (species) (FAO, 2002). Hiện nay, trên thị trường có
nhiều loại KIT định danh vi sinh vật khác nhau như API 50CH, API-20E Tuy nhiên
các KIT này được phát triển dựa trên các đặc tính sinh lý và sinh hoá của các vi sinh
vật đã biết, vì vậy với yêu cầu định danh chính xác cần kết hợp các đặc tính phân loại
về hình thái, sinh lý sinh hoá và sinh học phân tử. Phương pháp định danh dựa theo
sinh học phân tử hiện nay chủ yếu vẫn là dựa theo kỹ thuật giải trình tự đoạn gen mã
hoá cho ARN riboxom 16S (đối với vi khuẩn) và đoạn D1D2 của gen mã hoá cho
ARN riboxom 28S hoặc vùng ITS (đối với nấm men). Trong những điều kiện cho
phép thì người ta tiến hành kỹ thuật lai ADN với các chủng chuẩn để khẳng định vị
trí phân loại của chủng nghiên cứu tới loài.
1.5. Tình hình nghiên cứu và sử dụng probiotic trên thế giới và Việt nam
1.5.1. Tình hình nghiên cứu sản xuất và sử dụng các chế phẩm probiotic trên
thế giới
Việc sử dụng thực phẩm có probiotic (hoặc như 1 thành phần tự nhiên của
thực phẩm hoặc thực phẩm đã lên men) đã được biết đến từ lâu, nhưng việc nghiên
===========================================================13
Luận văn Thạc sỹ 2007 – 2009
======================================================
cứu hệ vi sinh vật đường ruột và sử dụng probiotic mới thực sự phát triển từ những
năm 80 của thể kỷ 20 (Patterson và ctv, 2003). Những nghiên cứu phân loại và đặc
điểm của quần thể vi sinh vật đường ruột ở người và động vật được tiến hành bởi
Savage (1987); Vahjen và ctv (1998); Apajalahti và ctv (1998); Vander Wielen và ctv
(2000) đã cho thấy nếu như trong ruột non của người Bacteroides và Bifidobacterium
chiếm ưu thế thì ở gà là Ruminococcus và Streptococcus. Bằng kỹ thuật phân tử, các
nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ có khoảng 20 đến 50% số loài vi sinh vật đường
ruột ở động vật được phân lập, nuôi cấy như nguồn probiotic (Patterson và ctv,
2003). Apajialahti và ctv (1998); Netherwood và ctv (1999); Gong và ctv (2002); Zhu
và ctv (2002) đã sử dụng kỹ thuật phân tử để nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc quần
thể và đặc điểm sinh học của hệ vi sinh vật đường ruột ở động vật dưới tác động của
probiotic. Tuy nhiên, cho đến nay những nhân tố nào góp phần tạo nên 1 hệ vi sinh
vật cân bằng hoặc làm rối loạn sự cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột cũng chưa
được hiểu biết đầy đủ (Patterson và ctv, 2003). Đã có rất nhiều nghiên cứu về vai trò
của probiotic đối với đời sống động vật như tác động của probiotic đối với hệ thống
miễn dịch ở niêm mạc ruột (Schat và Myer, 1991; Hersbberg và Mayer, 2000); đối
với sự thay đổi của niêm mạc ruột non ở vật nuôi (Glick, 1995; Fontaine và ctv,
1996; Dai và ctv, 2000; McCracken và Lorenz, 2001).
Những ảnh hưởng có lợi của probiotic thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau
nhưng những hiểu biết của con người về cơ chế tác động của probiotic còn rất hạn
chế. Có một số tác giả cho rằng hiệu quả của probiotic trong việc ức chế sự phát triển
của các vi khuẩn gây bệnh trong đường tiêu hóa của động vật có ý nghĩa rất quan
trọng. Sự kìm hãm được thực hiện theo những cách sau: cạnh tranh chất dinh dưỡng,
sản xuất độc tố và các sản phẩm trao đổi (các axit béo bay hơi, các chất giống kháng
sinh ), cạnh tranh vị trí bám dính ở niêm mạc ruột và kích thích hệ thống miễn dịch
ruột (Fuller, 1989; Gibson và Fuller, 2000; Rolfe, 2000; S.C. Knight và cs, 2009).
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhờ ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật trong
lĩnh vực sinh học phân tử, đặc biệt là kỹ thuật giải trình tự axit nucleic trong nghiên
cứu phân loại và định danh các chủng vi sinh vật, công nghệ sản xuất các sản phẩm
===========================================================14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét