Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Tổng quan chung về du lịch việt nam

Tổng quan chung về du lịch Việt Nam
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DU LỊCH
1.1 Du lịch là gì ?
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourist Organization) thì: Du lịch là
đi đến một nơi khác xa nơi thường trú, để giải trí, nghỉ dưỡng trong thời gian rỗi.
Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích
tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư
giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục
nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du
hành mà có mục đích chính là làm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động
trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
1.2 Vai trò của du lịch
Vai trò quan trọng của du lịch là giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, giúp
con người nhanh chóng hồi phục sức khỏe và chữa bệnh. Du lịch giúp nâng cao trình độ
hiểu biết, khả năng học hỏi của mỗi người.
Khi đi du lịch, các nhu cầu thường ngày: ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp, học tập, chữa bệnh,
làm đẹp,… đều gia tăng và có sự biến đổi cấu trúc chung của các nhu cầu. Đó là cơ hội
làm giàu cho một lãnh thổ và một quốc gia. Ví dụ, bóng đá thế giới ở Mỹ (1994) tạo ra các
dòng người du lịch tới Mỹ, đem về cho quốc gia này tới 4 tỉ USD lợi nhuận. Du lịch không
những làm thay đổi cấu trúc chung của các nhu cầu, nó còn làm thay đổi cấu trúc thời gian
của các nhu cầu. Nó tạo ra các mùa, vụ, sự tăng giảm khác nhau của nhu cầu theo thời gian
trong năm. Nắm bắt được cấu trúc thời gian mà nhu cầu du lịch tạo ra cũng sẽ là cơ hội cho
các nhà kinh doanh du lịch làm giàu.
Sự mua hàng hóa trực tiếp của du khách đã tạo ra khả năng xuất hàng tại chỗ của du lịch.
Điều này kích thích sự phát triển của nhiều ngành sản xuất trong nước, nhất là đối với hàng
hóa thủ công mỹ nghệ: đan lát, thêu, mộc, gốm sứ, tranh, ảnh, khảm, xà cừ,…
Du lịch giúp tạo ra các lãnh thổ nghỉ ngơi, các vườn quốc gia, công viên du lịch,… đẩy
mạnh việc bảo vệ môi sinh, môi trường; là cơ sở giúp người ta bảo tồn các nền văn hóa,
tôn tạo lại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, phục hồi các khu phố cổ, phục chế
các di phẩm văn hóa,… đồng thời giúp giải quyết việc làm cho đa số lao động phụ ở các
thành phố, thị trấn.
Du lịch là “con gà đẻ trứng vàng”, nó là chất xúc tác cho sự phát triển và đa dạng hóa các
ngành nghề kinh tế.
1.3 Các loại hình du lịch chủ yếu
- Du lịch làm ăn
- Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt
- Du lịch nội quốc, quá biên
- Du lịch tham quan trong thành phố
- Du lịch sinh thái
- Du lịch mạo hiểm, khám phá, trải nghiệm
- Du lịch hội thảo, triển lãm MICE
- Du lịch giảm stress, du lịch balo, tự túc khám phá.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU
LỊCH VIỆT NAM
2.1 Lịch sử phát triển ngành
Từ 1960 đến 1975, Hội đồng Chính phủ ban hành nghị định số 20/CP
ngày 9/7/1960 thành lập công ty du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại
thương; năm 1969, chức năng này chuyển về Phủ thủ tướng; sau đó
chuyển sang Bộ Công an.
Ngành du lịch đã từng bước mở rộng nhiều cơ sở du lịch ở Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An,… Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, hoạt
động du lịch dần trải rộng ra các miền trên toàn quốc. Ngành du lịch chuyển dần sang cơ
chế thị trường định hướng XHCN.
Từ 1975 đến 1990, ngành du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo
toàn và phát triển các cơ sở du lịch ở các tỉnh, thành phố vừa giải
phóng; lần lượt mở rộng, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới từ Huế, Đà
Nẵng, Bình Định, đến Nha Trang, Lâm Đồng, TP.HCM, Vũng Tàu, Cần
Thơ,… từng bước thành lập các doanh nghiệp du lịch nhà nước trực
thuộc Tổng cục du lịch và UBND tỉnh, thành phố và đặc khu.
Tháng 6/1978, Tổng cục du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc Hội
đồng Chính phủ. Trong giai đoạn này, du lịch đã góp phần tích cực
tuyên truyền, giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế
giới và tổ chức cho nhân dân đi du lịch giao lưu 2 miền Nam – Bắc, góp
phần giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc.
Giai đoạn 1990 đến 2005, ngành du lịch vươn lên đổi mới quản lí và
phát triển, đạt được những thành quả quan trọng, ngày càng tăng quy
mô và chất lượng. Chỉ thị 46/CP – TƯ của Ban Bí thư trung ương Đảng
khóa VII tháng 10/1994 khẳng định “Phát triển du lịch là một hướng
chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm
góp phần thực hiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước”. Cơ chế
chính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành, nâng cao hiệu
lực quản lí.
Sau 2 năm sáp nhập vào Bộ Văn hóa – Thông tin rồi vào Bộ Thương
mại, tháng 11/1992, Tổng cục du lịch đã nhanh chóng củng cố, ổn định
tổ chức bộ máy để thực hiện tốt chức năng quản lí nhà nước về du lịch
từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố. Ngày 27/6/2005, Luật du lịch
được Quốc hội thông qua.
Từ 2006 đến nay, ngành du lịch Việt Nam dần dần hoàn thiện, sẵn sàng
bước vào sân chơi quốc tế.
2.2 Tiềm năng và thách thức
2.2.1 Tiềm năng
Việt Nam không phải là một quốc gia nằm sâu trong nội lục mà nước ta
tựa lưng vào một khối lục địa lớn nhất thế giới, ngoảnh ra một đại
dương rộng lớn nhất hoàn cầu, khách du lịch từ nước ngoài có thể tới
Việt Nam từ nhiều phía với nhiều phương tiện khác nhau.
Lịch sử kiến tạo địa chất qua nhiều niên đại đã chạm khắc nên bộ mặt
lãnh thổ nước ta nhiều đường nét hình khối độc đáo và không đơn điệu:
núi trẻ và núi già, núi đất và núi đá, cao nguyên cổ, đồng bằng phù sa
mới, các vết đứt gãy và hang động, thềm lục địa và hải đảo. Đặc biệt
địa hình Việt Nam là những tài nguyên có giá trị. Địa hình đá vôi phân
bố rộng khắp từ vĩ tuyến 160 trở lên với nhiều hệ thống hang động như:
Phong Nha, Hương Tích, Bích Động,
Đặc biệt hơn cả là địa hình núi và hang động ngập nước nhiệt đới điển
hình ở Vịnh Hạ Long mà giá trị của nó đã góp phần làm cho địa danh
này được ghi tên vào danh sách các di sản thiên nhiên thế giới. với 3/4 là
đồi núi và địa hình bờ nước
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có khí hậu ổn định,
chênh lệch nhiệt độ trong ngày và giữa các mùa không cao, dồi dào
tiềm năng về du lịch chữa bệnh nên được du khách rất ưa thích. Đặc
biệt những du khách đến từ xứ lạnh hay đến Việt Nam để tránh rét,
những du khách đến từ xứ nóng tìm đến các “phòng lạnh thiên nhiên”
như: Đà Lạt, SaPa, Tam Đảo,…
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 27 trong số 106 quốc gia có biển trên
thế giới với 125 bãi tắm biển, trong đó hầu hết là các bãi tắm đẹp và
thuận lợi cho khai thác du lịch. Ngoài ra, theo các nhà địa chất thủy văn
Việt Nam, ở nước ta có trên 400 điểm nước khoáng có giá trị du lịch như
Kim Bôi (Hòa Bình), Quang Hanh (Quảng Ninh), suối nước nóng Bình
Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu), Tháp Bà (Nha Trang),
Việt Nam có hơn 40000 di sản văn hóa vật thể và bất động sản (đình
chùa, miếu đền, thành quách, lăng mộ,…). Tính đến tháng 4/2004, VN
có 2741 di tích, thắng cảnh được xếp hạng quốc gia (trong đó có 1322
di tích lịch sử, 1263 di tích kiến trúc nghệ thuật, 54 di tích khảo cổ và
102 di tích thắng cảnh). Đặc biệt, Việt Nam có 6 di sản được UNESCO
công nhận di sản thế giới, đó là: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh, 2 lần công
nhận), vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), cố đô Huế,
phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam).
Tính đến năm 2007, Việt Nam được UNESCO công nhận 6 “khu dự trữ
sinh quyển thế giới” đó là: Cát Bà (Hải Phòng), khu dự trữ sinh quyển
Châu thổ sông Hồng trên địa bàn 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Giao
Thủy (Nam Định), Cần Giờ (TPHCM), vườn quốc gia Cát Tiên thuộc địa
bàn tỉnh Đồng Nai, biển Kiên Giang và khu vực Tây Nghệ An. Việt Nam
là 1 trong hơn 20 quốc gia có vịnh “đẹp nhất thế giới”, đó là: Vịnh Hạ
Long (Quảng Ninh) và vịnh Nha Trang (Khánh Hòa).
Ngoài các tiềm năng có sẵn, du lịch Việt Nam có những điều kiện thuận
lợi để thu hút khách quốc tế: Việt Nam được xem là một trong những
nước có điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội được đảm bảo.
Hơn nữa, đồng USD cũng như các ngoại tệ khác đang tăng giá so với
tiền đồng Việt Nam.
Chính phủ dành nhiều ngân sách và ưu tiên cho việc phát triển du lịch.
Tính riêng năm 2007, nhà nước đã hỗ trợ đầu tư 750 tỷ đồng cho 59
tỉnh, thành phố phát triển hạ tầng du lịch.
Nhìn chung, du lịch Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển.
Những năm gần đây, ngành du lịch đã và đang thu hút nhiều du khách
trong và ngoài nước, góp phần quan trọng trong cơ cấu thu nhập quốc
dân. Mặt khác, bên cạnh những nỗ lực trong việc xây dựng thêm nhiều
sản phẩm du lịch hấp dẫn, ngành du lịch đang cố gắng nhằm tạo ra
thuận lợi để ngày càng nhiều du khách có dịp khám phá các điểm đến
của non nước Việt Nam.
2.2.2 Thách thức
Do nằm ở vị trí địa lý đặc biệt nên nước ta thường xuyên xảy ra thiên
tai, dịch bệnh làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chung của toàn
ngành.
Du lịch Việt Nam vẫn còn một khoảng cách khá xa với các nước du
lịch phát triển trong khu vực, bộc lộ rõ nét các hạn chế về chất lượng
phục vụ, sản phẩm du lịch nghèo nàn, đơn điệu nhưng giá cả du lịch
lại cao; cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ phát triển. Theo thống
kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI, trong năm
2007 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt trên 4 triệu lượt.
Chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm 2008, lượng khách quốc tế đến Việt
Nam ước đạt 2.078.954 lượt. Tuy nhiên, số lượng khách sạn, nhà
nghỉ tại Việt Nam không đủ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, thậm
chí là quá kém so với thế giới và khu vực.
Thiếu nguồn nhân lực hoạt động trong ngành du lịch một cách trầm
trọng, ấy là chưa kể đến trình độ, kĩ năng chuyên môn của nguồn
nhân lực này. Đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên vừa thiếu vừa yếu
trong kĩ năng giao tiếp, ngoại ngữ, hiểu biết kiến thức về văn hóa –
xã hội, tâm lí khách hàng. Trong đó trình độ ngoại ngữ là yếu nhất,
năm 2006, 32% lao động dịch vụ trực tiếp biết tiếng Anh ở mức độ
khác nhau, tiếng Pháp 3,2%; Trung Quốc 3,6%; hướng dẫn viên ở 2
thị trường khá lớn là Nhật Bản và Hàn Quốc chưa tương xứng.
Ngành du lịch Việt Nam mới bắt đầu hội nhập, vừa hợp tác vừa tìm
hiểu cơ chế và luật chơi quốc tế nên khả năng chủ động đưa ra các
dự án hợp tác còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, các doanh nghiệp du
lịch Việt Nam, nhất là các đơn vị lữ hành dễ rơi vào tình trạng phụ
thuộc và trở thành “người làm thuê” cho các doanh nghiệp nước
ngoài. Đa phần các doanh nghiệp du lịch nước ta thuộc loại vừa và
nhỏ, nên khi hòa mình vào sân chơi mới cùng thế giới, các doanh
nghiệp phải gánh trên vai áp lực nặng nề.
Luật du lịch Việt Nam vừa mới được ban hành và có hiệu lực, do vậy
Luật chưa thể “đáp ứng” được so với tình hình thực tế luôn thay đổi.
Thủ tục hành chính và hệ thống hạ tầng yếu kém vẫn là rào cản với
các nhà đầu tư bất động sản du lịch. Ông Macr Townsend, giám đốc
điều hành CBRE Việt Nam“Xét về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, Việt
NamBaLi cách đây 28 năm”. Một nhà đầu tư khác cho biết: “Chúng
tôi mất khoảng 3 – 6 tháng để chờ duyệt hồ sơ đăng kí đầu tư, rồi 3
năm để mua được đất, sau đó thì thêm vài năm nữa để chờ đợi quá
trình giải tỏa mặt bằng, đền bù,… để có được đất “sạch”. Quá trình
này quá mệt mỏi!”. Cộng với việc lãi suất ngân hàng Việt Nam cao
nhất nhì thế giới cũng là một bất lợi cho các nhà đầu tư. nhận định: hiện
nay vẫn chưa bằng
Những đợt quảng bá, xúc tiến du lịch Việt Nam tại các thị trường
ngoài nước ít có hiệu quả do thiếu trọng tâm và quá trình khảo sát,
nghiên cứu thị trường trước đó chưa liên tục, ít đổi mới, sáng tạo về
hình thức, do vậy dễ chìm khuất, không gây ấn tượng; sản phẩm du
lịch của Việt Nam còn nghèo nàn, “thô” thì có mà “tinh” thì không.
Ngành du lịch chưa khai thác hết tiềm năng của điều kiện tự nhiên,
lịch sử, văn hóa. Nguy cơ hủy hoại môi trường và cảnh quan du lịch
cao nếu không có sự quan tâm đúng mức và những biện pháp quản lí
có hiệu quả từ phía nhà nước.
Đầu tư du lịch một cách tràn lan, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ
làm theo ý mình mà không xin ý kiến chuyên gia, khiến khách du lịch
thất vọng. Các doanh nghiệp làm du lịch chỉ quan tâm đến lợi ích mà
họ có được, thiếu ý thức, hiểu biết, kém năng động, chỉ có xu hướng
moi tiền khách mà không thích cung cấp hay phục vụ.
Du lịch Việt Nam bên cạnh những cái thiếu đã nêu, gặp phải một cái
thiếu cơ bản của nền kinh tế là: Vốn – thiếu vốn, các doanh nghiệp
du lịch Việt Nam không đủ năng lực tài chính, dẫn đến khả năng khai
thác thị trường trong nước, khu vực và thế giới còn yếu.
2.3 Việt Nam phát triển du lịch như thế nào?
2.3.1 45 năm đầu phát triển (1960 – 2005)
Được Đảng và nhà nước xác định là “Một ngành kinh tế quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” với mục tiêu:
“Phát triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du
lịch có tầm cỡ trong khu vực”, du lịch Việt Nam trong 45 năm đầu phát
triển tuy còn non trẻ nhưng hoạt động khá sôi nổi.
Nhìn chung, giai đoạn từ tháng 10/1992 trở về trước, hệ thống tổ chức
bộ máy ngành Du lịch chưa thực sự định hình, trong 32 năm (1960 -
1992) đã có 6 lần chuyển đổi. Vì vậy sự chỉ đạo trực tiếp của bộ máy
quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương xuống các tỉnh, thành phố và
doanh nghiệp mất tính liên tục và kế thừa dẫn đến tình trạng lỏng lẻo,
hiệu quả kinh doanh không cao và ngành du lịch tụt hậu so với du lịch
các nước có điều kiện tương đồng. Trước thực tế đó, trên cơ sở Nghị
quyết của Quốc hội, ngày 17/10/1992, Chính phủ đã có Nghị đinh số
05/CP thành lập lại Tổng cục Du lịch; tiếp đó có Nghị định số 20-CP,
ngày 27/12/1992 và Nghị định số 53-CP, ngày 07/8/1995, quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du
lịch. Nhờ ổn định và từng bước được kiện toàn về tổ chức, du lịch nước
ta mới khởi sắc và phát triển.
Bênh cạnh đó, chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010 và
Chương trình hành động quốc gia về Du lịch giai đoạn 2006-2010 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Năm 2005, Quốc hội đã thông
qua Luật Du lịch để điều chỉnh các quan hệ Du lịch ở tầm cao hơn;
khẳng định một lần nữa vị thế của ngành Du lịch ngay từ trong đường
lối, chính sách và thể chế.
Lực lượng kinh doanh du lịch phát triển mạnh, thích nghi dần với cơ chế
mới, từng bước làm ăn có hiệu quả: Hoạt động du lịch thu hút sự tham
gia của cả 6 thành phần kinh tế (nhà nuớc; tập thể; cá thể, tiểu chủ; tư
bản tư nhân; tư bản nhà nước; 100% vốn nước ngoài). Tính đến năm
2005, cả nước đã có khoảng 6.000 cơ sở kinh doanh lưu trú; 399 doanh
nghiệp lữ hành quốc tế, trong đó có 203 doanh nghiệp trách nhiệm hữu
hạn, 124 doanh nghiệp nhà nước, 63 doanh nghiệp cổ phần, 8 liên
doanh và 2 doanh nghiệp tư nhân.
Trong 5 năm (2001 – 2005), Chính phủ đã cấp 2.146 tỷ đồng hỗ trợ
đầu tư hạ tầng du lịch ở các khu du lịch trọng điểm. Cùng với đầu tư
của Nhà nước và các thành phần kinh tế trong nước, ngành Du lịch đã
thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tính đến năm
2005 cả nước có 190 dự án với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 4,64 tỷ
USD, ở 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Từ đó, Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội, năm 1990
thu nhập xã hội từ du lịch mới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2004, con
số đó đã là 26.000 tỷ đồng, gấp 20 lần. Riêng năm 2005, mặc dù gặp
rất nhiều khó khăn, song hoạt động du lịch vẫn diễn ra sôi động: ngành
Du lịch đón được khoảng 3,43 triệu lượt khách quốc tế, vượt chỉ tiêu kế
hoạch 7% và tăng 17% so với năm 2004; Khách du lịch nội địa đạt trên
16 triệu lượt người, vượt chỉ tiêu 7% và tăng 11% so với kế hoạch năm
2004.
Tóm lại, trong giai đoạn này, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước, sự phối hợp của các cấp, các ngành, cùng với sự hưởng ứng
của nhân dân và hỗ trợ quốc tế, du lịch Việt Nam đã hoàn thành tốt
nhiệm vụ, từng bước hội đủ điều kiện của một ngành kinh tế mũi nhọn.
2.3.2 Từ 2006 đến nay
Sau khi Luật du lịch được thông qua và Việt Nam gia nhập WTO thì du
lịch Việt Nam đã vươn lên, tham gia chủ động dần trong hội nhập du
lịch quốc tế, tiếp tục thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác du lịch nhiều
mặt với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và trên thế giới.
Du lịch nước ta là thành viên của Tổ chức du lịch thế giới, Hiệp hội du
lịch Châu Á – Thái Bình Dương, Hiệp hội du lịch Đông Nam Á và phát
huy được vai trò, quyền lợi hội viên.
Nhờ thế đã tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách
để phát triển, đồng thời tham gia đầu tư ra nước ngoài, chủ yếu là kinh
doanh ăn uống ở các nước láng giềng, Nhật Bản, Đức và Hoa Kỳ. Việc
Tổng cục du lịch được nâng lên cấp Bộ, mở ra cho du lịch Việt Nam một
tương lai mới.
Năm 2006 là năm đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006 –
2010, du lịch Việt Nam có nhiều sự kiện quan trọng như: Năm du lịch
quốc gia 2006 với chủ đề “Quảng Nam: một điểm đến, hai di sản thế
giới”, tổ chức thành công Hội nghị bộ trưởng du lịch trong khuôn khổ
APEC, Festival Huế, … Mức tăng trưởng tăng 20%, ước khoảng 36 nghìn
tỷ đồng, lượng khách quốc tế ước đạt 3,6 triệu lượt, tăng 3% so với
năm 2005. Các thị trường chính đưa khách đến Việt Nam: Hàn Quốc
tăng 29,4%; Nhật Bản tăng 14,3%; Mỹ tăng 16,8%; Canada tăng 15%;
Đức tăng 10,6%.
Năm 2007 được coi là năm thành công của du lịch Việt Nam: lượng
khách du lịch đến với Việt Nam mục đích đơn thuần là du lịch tăng 26%,
khách thương mại 16%, khách thăm người thân tăng 9%, khách đến với
mục đích khác giảm 10%. Tổng cộng khách du lịch quốc tế đạt 4,2 triệu
lượt (tăng 18% so với năm 2006) cụ thể, lượng khách Tây Âu: Pháp
tăng 42%, Đức tăng 32%, Anh xấp xỉ 28%; thị trường Đông Bắc Á như:
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan với tổng lượng khách 1,2 triệu lượt chiếm
30% tổng lượng khách du lịch quốc tế. Khách nội địa tăng 9,7% so với
năm 2006 (19,2 triệu lượt).
Trong năm, nhiều hoạt động du lịch đã được diễn ra: Năm Du lịch quốc
gia Thái Nguyên với chủ đề “Về thủ đô gió ngàn – chiến khu Việt Bắc”,
tổ chức thành công hội nghị bộ trưởng 3 nước Việt Nam – Lào –
Campuchia bên lề hội chợ du lịch quốc tế tại TPHCM, lần đầu tiên du lịch
Việt Nam được quảng bá chính thức trên kênh truyền hình CNN, Vịnh Hạ
Long được nhiều người bình chọn vào nhóm “kì quan thiên nhiên thế
giới”, Festival Hoa Đà Lạt được tổ chức thành công. Thu nhập xã hội về
du lịch ước đạt 56 nghìn tỷ đồng (tăng 9,8%), đưa mức tăng trưởng du
lịch lên từ 16% lên 18% đổi với khách quốc tế, 11% với khách trong
nước
Năm 2008, Ngành du lịch tiếp tục phát triển, nhưng do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên lượng khách quốc tế có phần
chững lại. Khách du lịch đến Việt Nam vì công việc tăng mạnh (trên
34% so với cùng kì năm 2007), lượng khách đến với mục đích du lịch
tăng nhẹ (2,71% so với cùng kì năm 2007). Du khách tại các thị trường
gần như Philippine, Trung Quốc vẫn chọn Việt Nam làm điểm điến. Tuy
nhiên một số thị trường xa lại có xu hướng giảm xuống, trong đó: Hàn
Quốc tăng 0,49%; Tây Ban Nha giảm 9,4%; Italia giảm 8,8%; Pháp
giảm 2,5%; Hà Lan giảm 26% (so với cùng kì năm 2007).
Trong 9 tháng đầu năm 2008, lượng khách quốc tế ước đạt 3,3 triệu
lượt, tăng 5,8% so với cùng kì năm 2007. Năm 2008, ngành du lịch Việt
Nam tổ chức nhiều sự kiện đặc sắc, hấp dẫn: năm Du lịch quốc gia
“Miệt vườn sông nước Cửu Long”, chương trình “Du lịch về cội nguồn
2008” tổ chức tại Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai, Festival Huế với chủ đề
“Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, lần đầu tiên cuộc thi hoa
hậu hoàn vũ thế giới được tổ chức tại Nha Trang – Khánh Hòa và cuộc
thi hoa hậu du lịch Việt Nam được tổ chức tại TPHCM,…
Công tác xúc tiến quảng bá được chú trọng hơn: Đã thành lập Cục Xúc
tiến Du lịch; tính chuyên nghiệp được nâng dần; chất lượng tổ chức các
sự kiện tốt hơn. Tổng cục Du lịch đã chủ động phối hợp với Hàng không
Việt Nam, các Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Văn hóa – Thông
tin, các cơ quan thông tấn báo chí, phát thanh truyền hình, tổ chức
nhiều sự kiện xúc tiến du lịch ở nước ngoài.
Với nỗ lực mở rộng hợp tác quốc tế, Du lịch Việt Nam đã ký và thực hiện
tốt 26 hiệp định hợp tác du lịch song phương với các nước là thị trường
du lịch trọng điểm và trung tâm giao lưu quốc tế, tăng cường hợp tác du
lịch với các nước khác; ký Hiệp định hợp tác du lịch đa phương 10 nước
ASEAN; tham gia chủ động hơn trong hợp tác du lịch Tiểu vùng sông
Mêkông mở rộng, hợp tác hành lang Đông – Tây, hợp tác sông Mêkông
– sông Hằng, hợp tác ASEAN, APEC, hợp tác trong Hiệp hội du lịch Châu
Á – Thái Bình Dương (PATA), trong Tổ chức Du lịch thế giới (WTO)…; có
quan hệ bạn hàng với 1.000 hãng của 60 nước và vùng lãnh thổ.
45 năm phát triển, du lịch đã đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng cao,
lượng khách du lịch hàng năm tăng, nhiều năm vượt chỉ tiêu đề ra. Từ
năm 1990 đến 2005, lượng khách du lịch luôn duy trì được mức tăng
trưởng cao 2 con số (trung bình năm trên 20%)
2.4 Các loại hình du lịch chủ yếu ở Việt Nam
- Du lịch sinh thái: Vịnh Hạ Long, động Phong Nha, các vườn quốc gia,…
- Du lịch khảo sát, mạo hiểm, thể thao: đỉnh Phan Xi Păng, dãy Lang
Biang (Đà Lạt), thác Bản Dốc (Cao Bằng), biển Nha Trang,…
- Du lịch truyền thống dân tộc, lịch sử văn hóa, nghệ thuật: phố cổ Hội
An, cung đình Huế, các làng nghề truyền thống,…
- Du lịch nghỉ ngơi, chữa bệnh, vui chơi, giải trí: Đà Lạt, Vũng Tàu,…
- Du lịch kinh doanh
- Du lịch tổng hợp nhiều mục đích tùy theo nhóm khách.
2.5 Tác động của du lịch
2.5.1 Đối với kinh tế
Chưa có con số thống kê chính thức nhưng chắc chắn ngành công
nghiệp không khói này đã đem lại hàng triệu việc làm cho người lao
động. Với đà tăng trưởng xấp xỉ 20% trong những năm gần đây, doanh
thu của toàn ngành ước tính đạt khoảng 30 ngàn tỷ đồng/năm. Một dẫn
chứng cụ thể là lượng ngoại tệ thu được từ chi tiêu của khách quốc tế
năm 2005 đạt 2,3 tỷ USD, năm 2006 đạt 2,85 tỷ USD, năm 2007 đạt
3,33 tỷ USD. Qua đó du lịch Việt Nam đã đóng góp 3,7% vào tổng sản
phẩm xã hội. Du lịch phát triển kéo theo sự phát triển của rất nhiều
ngành, nghề: hàng không, giao thông đường bộ, khách sạn, thủ công
mỹ nghệ,…
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi cán cân
thu chi của khu vực và đất nước. Khi khu vực nào đó trở thành một
điểm du lịch, du khách từ mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi
hàng hóa tăng lên đáng kể. Việc đòi hỏi một số lượng lớn vật tư, hàng
hóa có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp và hấp
dẫn yêu cầu các doanh nghiệp phải đầu tư trang thiết bị hiện đại, sử
dụng công nhân có tay nghề cao. Du lịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ được
nhiều mặt hàng mà không phải qua nhiều khâu nên tiết kiệm được lao
động, đồng thời kích thích sản xuất và tiêu dùng.
Tuy nhiên du lịch cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực, rõ ràng nhất là
tình trạng lạm phát cục bộ hay giá cả hàng hóa tăng cao, nhiều khi vượt
quá khả năng chi tiêu của người dân địa phương, nhất là của những
người mà thu nhập của họ không liên quan đến du lịch.
2.5.2 Đối với môi trường
Sự phát triển nhanh chóng của du lịch thời gian qua đã góp phần tích
cực vào sự ổn định và bền vững của môi trường. Du lịch phát triển làm
tăng hiệu quả sử dụng quỹ đất nhờ sử dụng đất còn trống hoặc đất sử
dụng không hiệu quả; giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức từ
các hoạt động dân sinh, kinh tế; đảm bảo chất lượng nước trong và
ngoài khu vực phát triển du lịch nếu như các giải pháp kĩ thuật trong
cấp thoát nước được áp dụng; bảo tồn và tăng thêm mức độ đa dạng
sinh học tại các điểm du lịch. Ngoài ra du lịch còn góp phần tích cực vào
sự nghiệp giáo dục môi trường – một vấn đề mà thế giới đang hết sức
quan tâm.
Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã có những tác
động tiêu cực nhất định: tại nhiều khu vực do tốc độ phát triển du lịch
quá nhanh vượt ngoài khả năng và nhận thức nên đã tạo sức ép lớn đến
khả năng đáp ứng của môi trường và thiên nhiên, gây ô nhiễm cục bộ
và nguy cơ suy thoái lâu dài, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi
trường đất, nước; phát triển du lịch còn làm tăng thêm sức ép lên quỹ
đất tại các vùng vốn đã rất hạn chế; các hệ sinh thái và môi trường rất
nhạy cảm và dễ bị tổn thương,…
2.5.3 Đối với văn hóa
Du lịch phát triển là điều kiện tốt để bảo tồn, nâng cao giá trị và khôi
phục các di sản kiến trúc, nghệ thuật, vật thể và phi vật thể, văn hóa
thủ công mỹ nghệ, trang phục, phong tục truyền thống,…
Hoạt động du lịch cũng gây những tác động tiêu cực đến đời sống văn
hóa ở một số khu vực. Cụ thể: các giá trị văn hóa truyền thống của
nhiều cộng đồng dân cư trên các vùng núi cao thường khá đặc sắc
nhưng rất dễ bị biến đổi do tiếp xúc với các nền văn hóa xa lạ, do xu
hướng thị trường hóa các hoạt động văn hóa, do mâu thuẫn nảy sinh
khi phát triển du lịch hoặc do tương phản về lối sống; để thỏa mãn nhu
cầu của du khách, vì lợi ích kinh tế to lớn trước mắt nên các hoạt động
văn hóa truyền thống bị lôi ra trình diễn một cách thiếu tự nhiên, không
chuyên nghiệp hoặc làm trò cười cho du khách, cộng với việc các mặt
hàng truyền thống được sản xuất cẩu thả làm méo mó giá trị chân thực,
làm sai lệch hình ảnh của một nền văn hóa bản địa; các di sản văn hóa,
lịch sử, khảo cổ thường được xây dựng bằng các vật liệu dễ bị hủy hoại,
lại phải chịu thêm tác động của khách du lịch tới thăm; các hoạt động
du lịch chuyên đề như khảo cổ học có thể nảy sinh mâu thuẫn với các
hoạt động tín ngưỡng ở địa phương.
2.5.4 Đối với xã hội
Đối với xã hội, du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng
cường sức sống cho người dân. Trong một chừng mực nào đó, du lịch có
tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của
con người. Khi đi du lịch, mọi người có điều kiện tiếp xúc, gần gũi nhau
hơn, tăng thêm tình đoàn kết và vốn sống. Những chuyến tham quan
tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa có tác dụng giáo dục tinh
thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Du lịch còn đóng góp rất
lớn cho các họat động xã hội.
Bản chất của hoạt động du lịch là giao lưu, tiếp xúc giữa các cá thể,
cộng đồng có thế giới quan không phải luôn luôn đồng nhất. Quá trình
giao tiếp này cũng là môi trường để các ảnh hưởng tiêu cực thâm nhập
vào xã hội một cách nhanh chóng như: nạn nghiện hút, mại dâm, trộm
cướp,… Do có cách nhìn nhận về đạo đức khác nhau, một số du khách
không thấy những hành động, cử chỉ, cách ăn mặc,… của mình là không
phù hợp với phong tục truyền thống của cư dân nơi đến du lịch, điều
này sẽ tác động xấu đến nhận thức của giới trẻ.
2.5.5 Đối với an ninh, chính trị
Trước hết phải khẳng định du lịch là chiếc cầu nối hòa bình giữa các
dân tộc trên thế giới. Hoạt động du lịch giúp cho các dân tốc xích lại
gần nhau hơn, hiểu hơn về giá trị văn hóa của đất nước bạn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét