Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014
Các tiếng chứa âm đệm trong tiếng Việt - Nguồn gốc và hướng giải quyết
5
Nhóm I: Tiếng vừa có nghĩa vừa độc lập; bao gồm các từ gốc Việt, các từ
gốc Hán, gốc Âu đã được Việt hố cao và các từ Hán Việt khơng có từ Việt cạnh
tranh.
Nhóm II: Tiếng có nghĩa khơng độc lập: các từ Hán Việt.
Nhóm III: Tiếng vơ nghĩa; bao gồm các từ phiên âm, từ ngẫu hợp, tiếng đệm
trong từ láy và các tiếng khơng rõ nghĩa trong từ ghép.
Theo tiêu chí này, chúng tơi có được kết quả thống kê phân loại tiếng từ
bảng các âm tiết chứa âm đệm trong tiếng Việt:
Nhóm I: 442 tiếng (76,87%)
Nhóm II: 38 tiếng (6,61%)
Nhóm III: 95 tiếng (16,52%)
3. Phân loại theo phạm vi sử dụng
Chúng tơi tạm chấp nhận cách phân loại tiếng theo phạm vi sử dụng của các
tác giả Phạm Đức Dương và Phan Ngọc [13] như sau:
- Trung hồ: 457 tiếng
- Khẩu ngữ: 36 tiếng
- Phương ngữ: 23 tiếng
- Ít dùng: 39 tiếng
- Văn chương: 36 tiếng
- Vay mượn: 2 tiếng
- Thơng tục: 5 tiếng
Lưu ý: Một tiếng có thể tham gia đồng thời vào các nhóm khác nhau.
4. Nhận xét
Qua các số liệu thống kê trên, chúng tơi có một vài nhận xét như sau:
• 575 từ trong vốn từ của một ngơn ngữ là một con số rất nhỏ, nếu xét
trên tổng số vốn từ của một ngơn ngữ. Như vậy chứng tỏ rằng tần số
xuất hiện của âm đệm trong các văn bản của tiếng Việt sẽ có phần hạn
chế hơn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
• Các âm đệm thường xuất hiện trong các những đơn vị từ vựng như các
từ tượng thanh, tượng hình, các từ vay mượn trong tiếng Hán bắt đầu
bằng những âm đầu ngạc mềm như /k/: 124 tiếng (21,56 %) và âm họng
như /h/:: 57 tiếng (9,91%) vốn là những âm khơng phổ biến trong tiếng
Việt.
• Trong 154 vần tiếng Việt chỉ có khoảng 64 vần theo chính tả (33 vần
theo ngữ âm) chứa yếu tố tròn mơi. Tuy nhiên, yếu tố tròn mơi khơng
phải chỉ ảnh hưởng đến phần vần mà ảnh hưởng đến tồn bộ âm tiết,
nghĩa là nét tròn mơI có từ khi bắt đầu cho đến lúc kết thúc âm tiết.
• Trong tiếng Việt, sự xuất hiện yếu tố tròn mơi là có điều kiện:
- Điệu vị tròn mơi khơng xuất hiện khi C1 là các phụ âm [+mơi] trong các
hình vị thuần Việt. Điều này là kết quả của luật kết hợp theo tuyến tính của
các âm vị. Một số trường hợp đặc biệt như /b/:1 tiếng (boa),/v/: 1 tiếng
(voan), /m/: 1 tiếng (moay ơ). Đây là các tiếng có nguồn gốc ngoại lai trong
tiếng Việt.
- ĐIệu vị tròn mơi ít xuất hiện trong các âm tiết tiếng Viêt có hạt nhân là các
ngun âm sau, tròn mơi. Ngoại trừ ngun âm /
Ɔ/
trong từ “quọ” là một
trường hợp rất hi hữu.
- Điệu vị tròn mơi khơng xuất hiện trong các âm tiết có hạt nhân là ngun âm
[+giữa, +cao].
- Điệu vị tròn mơi xuất hiện ít và đặc biệt khi C2 là các phụ âm hoặc bán
ngun âm có chứa yếu tố [+mơi] (quắp, quắm, qo, ngốo, ngốp )
- Chúng tơi nhận thấy rằng có sự phân bố một cách đều đặn của thế đối lập
[+tròn mơI]/ [- tròn mơI] trong các âm tiết mở, nửa mở. Có thể giải thích
điều này ở chỗ trong các âm tiết này, cơ chế tạo nên khn âm tiết là giản dị
nên về mặt tiềm năng có thể chứa thêm nhiều đIệu vị (hoặc [căng]/[lơI], hoặc
[+tròn mơi]/ [- tròn mơI]).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Trong hai vế đối lập [+tròn mơI]/[- tròn mơI] thì về [- tròn mơI] là vế bình
thường, tự nhiên, khơng bị đánh dấu, có số lượng sản sinh cao. Vế [+tròn mơI] là
vế bị đánh dấu, khơng tự nhiên, cấu trúc phân lập, lực sản sinh yếu, nằm ở phần
biên của hệ thống âm vị học tiếng Việt.
Từ những nhận xét trên, chúng tơi đề xuất kiến giải về khả năng tồn tại của
âm đệm trong những phần tiếp theo.
II. CÁC QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ VỊ TRÍ ÂM ĐỆM TRONG CẤU
TRÚC ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT. NGUỒN GỐC CỦA ÂM ĐỆM
1. Những quan niệm khác nhau về vị trí âm đệm trong cấu trúc âm tiết tiếng
Việt
Thuật ngữ “âm đệm” như chúng tơi đã nói ở phần đầu chỉ là một sự quy ước.
Hiện nay, vấn đề có hay khơng có âm đệm trong cấu trúc âm tiết Tiếng Việt vẫn
đang còn nhiều điều cần tranh luận. Tuy nhiên, để tiện cho việc nghiên cứu, trong
tiểu luận này, chúng tơi tạm thời chấp nhận thuật ngữ “âm đệm” với tính chất quy
ước và có tính cơng cụ.
Trước hết, để tiện cho việc phân loại các quan niệm khác nhau về âm đệm
trong tiếng Việt, chúng ta cần xác định rõ ràng và thống nhất một số thuật ngữ có
liên quan, trong đó có khái niệm đơn vị chiết đoạn (segmental) và đơn vị siêu đoạn
(suprasegmental). Đơn vị chiết đoạn và đơn vị siêu đoạn là một đối lập âm vị học
vơ cùng quan trọng. Một hiện tượng âm thanh được gọi là chiết đoạn khi phạm vi
hành chức của nó nằm trọn trong một chiết đoạn. Khái niệm chiết đoạn trong ngơn
ngữ học được hiểu là: trong dãy thời gian liên tục, âm thanh lời nói được tn chảy,
“tạo nên ngữ lưu”. Người ta tri nhận và cả phát âm ngữ lưu này bởi chuỗi các thời
điểm có trong dòng thời gian mà ngữ lưu đó chốn. Mỗi thời điểm là một chiết
đoạn. Còn các đơn vị siêu đoạn tính thì ngược lại, có một thuộc tính quan trọng là
vùng chức năng của chúng (functional domain) khơng thể chứa trong một chiết
đoạn mà phải bao trùm lên nhiều chiết đoạn, có nghĩa là ít nhất vùng chức năng của
chúng chứa trên một chiết đoạn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Từ cách hiểu như trên, chúng tơi tạm phân chia các quan điểm về âm đệm
của Tiếng Việt ra như sau:
- Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị chiết đoạn.
- Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị siêu đoạn.
1.1. Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị chiết đoạn
Khi khẳng định âm đệm là một đơn vị chiết đoạn, các tác giả đồng thời
khẳng định vị trí của âm đệm trong cấu trúc âm tiết Tiếng Việt. Điều đó có nghĩa là
âm đệm tồn tại với tư cách một đơn vị riêng, ngang hàng với các đơn vị chiết đoạn
khác.
Tiêu biểu cho quan điểm này có thể kể tên các tác giả như: Đồn Thiện
Thuật (Ngữ âm tiếng Việt), Nguyễn Hữu Quỳnh (Giáo trình tiếng Việt hiện đại),
Cù Đình Tú - Hồng Văn Thung - Nguyễn Ngun Trứ (Khái qt về lịch sử tiếng
Việt và ngữ âm tiếng Việt hiện đại), Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hồng
Trọng Phiến (Cơ sở ngơn ngữ học và tiếng Việt), Uỷ ban khoa học xã hội (Ngữ
pháp tiếng Việt), Hữu Đạt - Trần Trí Dõi - Đào Thanh Lan (Cơ sở tiếng Việt).
Các tác giả này về cơ bản chấp nhận mơ hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt như
sau:
Thanh điệu
Âm đầu Vần
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Chỉ có giáo trình Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại của các tác giả Cù Đình Tú
- Hồng Văn Thung - Nguyễn Ngun Trứ đưa ra một lược đồ khác, trong đó cấu
trúc âm tiết được xác định như sau:
Thanh điệu
Âm đầu Âm đệm Âm gốc Âm cuối
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Sự khác biệt của giáo trình này là ở chỗ người viết cho rằng thanh điệu
khơng phải là thuộc tính của âm đầu mà là thuộc tính của phần vần.
Tuy nhiên ở nhóm này, các tác giả đều xem âm đệm là một đơn vị chiết
đoạn, tương đương với các đơn vị chiết đoạn khác trong âm tiết. Họ khẳng định:
âm đệm là một “thành phần có chức năng tu chỉnh âm sắc của âm tiết” [18, tr174].
Trong “Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại”, các tác giả giải thích: âm đệm là một yếu
tố độc lập vì “sự tồn tại của các âm tiết trong đó có âm đệm mà khơng có phụ âm
đầu (VD: oan) cũng như khả năng có thể tách âm đệm ra khỏi âm giữa vần trong
cách nói lái (VD:: vinh quy/ quy vinh) chứng tỏ tính chất độc lập của âm đệm” [19,
tr54].
1.2. Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị siêu đoạn
Theo quan điểm này có các tác giả: Hồng Cao Cương, Phan Ngọc, Nguyễn
Quang Hồng
Như chúng ta đã biết, đơn vị siêu đoạn có một thuộc tính hết sức quan trọng
là vùng chức năng (nơi một đơn vị chiết đoạn bộc lộ ra bằng tất cả những nội dung
chiết đoạn của nó) khơng thể chứa trong một chiết đoạn mà phải bao trùm lên nhiều
chiết đoạn.
Tác giả Nguyễn Quang Hồng trong cuốn “Âm tiết và loại hình ngơn ngữ”
cho rằng: “Trong tất cả các cứ liệu có thể dùng làm cơ sở cho việc phân chiết âm vị
học đối với tiếng Việt ( ) khơng hề tìm thấy một cứ liệu nào minh chứng cho khả
năng chia tách âm tiết ra làm ba phần bình đẳng như vậy cả. Sự thực là trong khi
một âm tiết bị tách đơi, yếu tố ngữ âm được gọi là “âm đệm” nếu có, thì chỉ có thể
hoặc là phụ thuộc vào âm đầu, hoặc là phụ thuộc vào âm vần cái, chứ khơng bao
giờ tự mình tách hẳn ra làm một phần riêng”. [11, tr239]. Mà theo ơng “xét từ một
góc độ nào đó thì thanh điệu và âm đệm ( ) là những thực thể âm thanh khác nhau.
Song về mặt chức năng thì cả hai đại lượng ngữ âm này đều khơng chiếm giữ một
vị trí tiếp nối với âm đầu và vần cái, do đó chúng đều khơng phải là những đơn vị
ngữ âm chiết đoạn mà là những thuộc tính chung của âm tiết, được hình dung như
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
những đại lượng nằm song song với âm đầu và vần cái trong cấu trúc chung của âm
tiết tiếng Việt. [11, tr241]. Hay nói cách, theo ơng, âm đệm là một đơn vi siêu đoạn
tính.
Còn hai tác giả Phan Ngọc và Phạm Đức Dương, khi xác định các thành tố
cấu trúc âm tiết Tiếng Việt khơng chấp nhận giới âm (âm đệm) mà vẫn chủ trương
cấu trúc âm tiết tiếng Việt là CVC. Họ chỉ coi yếu tố “âm đệm” (như nhiều tác giả
khác quan niệm) là “một tiêu chí đồng dạng với các yếu tố ngạc hố, vang hố, bên
hố [13, tr107].
Tiêu biểu nhất cho quan điểm này là tác giả Hồng Cao Cương. Tác giả này
cho rằng nếu coi âm đệm là một đơn vị chiết đoạn như nhiều tác giả khác quan
niệm (tiêu biểu là Đồn Thiện Thuật) là một quan niệm sai lầm vì những lý do sau:
- Nếu xét theo quan niệm hệ thống, âm đệm muốn trở thành một tiểu hệ
thống
trong hệ thống âm thanh tiếng Việt thì phải có ít nhất 3 đơn vị (vì có 3 đơn vị thì
mới có những mối quan hệ để trở thành hệ thống được). Trong khi đó, theo tác giả
Đồn Thiện Thuật chỉ có 2 âm đệm /w/ và /zero/. Do đó mới chỉ có một quan hệ
nên chưa thể tạo thành một tiểu hệ thống tương đương với các tiểu hệ thống khác
(âm đầu, âm chính, âm cuối) trong hệ thống âm tiết tiếng Việt.
- Xét về lịch sử, các yếu tố từ vựng tương ứng với các tiết vị chứa âm đệm
thường có phần tiền âm tiết (âm tiết một trong một cấu trúc âm tiết). Nét nổi trội
trong các yếu tố từ hình này là yếu tố/ đặc tính [+tròn mơi].
Từ những lý do nêu trên, tác giả đi đến kết luận: Để tránh lối mòn trong tư
duy cổ điển, khơng nên coi âm đệm là một tiểu hệ thống ngang hàng với các tiểu hệ
thống khác như: âm đầu, âm chính, âm cuối mà nên coi nó là một điệu vị của tồn
âm tiết. Các điệu vị có ưu thế so với các âm vị ở chỗ: các điệu vị có thể tồn tại như
một nét âm vị học do vùng chức năng của chúng trải dài trên một cấu trúc âm đoạn
được khảo cứu. Hay nói cách khác, ơng coi âm đệm như một đơn vị siêu đoạn tính.
1.3. Tiểu kết
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
Qua sự tổng hợp và đánh giá, chúng tơi nhận thấy rằng quan niệm cho âm
đệm là một yếu tố chiết đoạn là quan niệm chưa có sức thuyết phục cũng như chưa
đưa ra được những giải thích mang tính tự nhiên có trong ngơn ngữ. Giả định tồn
tại cái gọi là “hệ thống” âm đệm trong tiếng Việt, chúng ta càng thấy rõ sự phi lý
của quan đIểm này. Bởi lẽ, một hệ thống bao giờ cũng tồn tại ít nhất 3 đơn vị. Nếu
tồn tại 2 đơn vị thì chúng ta khơng cần nhận thức chúng vì chỉ có một quan hệ và
nó tồn tại như một hiện thực. “Hệ thống” âm đệm nếu được xem là tiểu hệ thống
trong một hệ thống âm tiết tiếng Việt thì phương pháp luận ở đây phải chứng minh
rằng: ngồi âm đệm và phi âm đệm còn phải có một yếu tố thứ ba nữa mới thoả
mãn được những định nghĩa về hệ thống. Ví dụ như trong tiếng hán hiện đại, ngồi
giới âm {u} còn có giới âm {i} và trường hợp zero về giới âm. Vậy trong tiếng Hán
hiện đại, tồn tại một hệ thống âm đệm một cách chính danh. Còn trong tiếng Việt
lại khơng phải như vậy. Chẳng những số âm vị ít mà xét về mặt lĩnh vực chức năng
mà các âm đệm dường như rơi về phần biên của hệ thống. Các âm đệm thường xuất
hiện trong những đơn vị từ vựng: tượng thanh, tượng hình, các từ vay mượn tiếng
Hán bắt đầu bằng những âm đầu ngạc mềm hoặc họng, là những âm khơng phổ
biến trong tiếng Việt.
Xét về lịch sử, các yếu tố từ vựng tương ứng với các tiết vị có âm đệm
thường có phần tiền âm tiết (âm tiết một trong một cấu trúc âm tiết). Nét nổi trội
trong các yếu tố từ hình này là yếu tố [+tròn mơi]. Đó có thể là nét khu biệt của một
âm mơi, một ngun âm dòng sau hoặc một âm đệm. Vì vậy, trong âm vị học tiếng
Việt mở rộng để tránh lối mòn của một tư duy cổ điển khơng coi âm đệm là một
tiểu hệ thống ngang với các tiểu hệ thống: âm đầu, âm chính, âm cuối mà là một
đơn vị tồn âm tiết. Các đơn vị có ưu thế hơn so với các âm vị ở chỗ: các đơn vị có
thể tồn tại như một nét âm vị học do vùng chức năng của chúng trải dài trên một
cấu trúc chiết đoạn được khảo cứu. Chính do đặc tính này nên số lượng âm vị của
đơn vị thường hữu hạn và ít ỏi. Nó tác động đến âm thanh theo kiểu cơ chế chứ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
khơng phảI theo kiểu yếu tố. (Các chiết đoạn tác động theo kiểu yếu tố do xếp
chuỗi hình tuyến).
Như vậy, theo lý thuyết tâm biên, yếu tố tròn mơi hay âm đệm phải được đối
xử một cách hồn tồn khác so với âm vị chiết đoạn có ở trong khn của âm tiết.
2. Nguồn gốc của âm đệm
Âm tiết tiếng Việt có một vị trí dành cho âm đệm_ đó là vị trí sau phụ âm
đầu và trước ngun âm chính. Ở vị trí này trong tiếng Việt chỉ có thể có một âm -
w Âm đệm -w- là một bán ngun âm cuối, có cấu tạo như ngun âm /u/ nhưng
khác ngun âm /u/ về chức năng, nó có thêm đặc điểm của phụ âm, vì thế được
gọi là bán ngun âm. Chữ viết ghi âm đệm bằng hai chữ: “u” và “o” (ví dụ: tồn
qn):
_ ghi là “o” khi trước nó khơng có phụ âm hoặc có phụ âm khơng phải là /k/
và sau nó là /a/, / /, /ă/. Ví dụ: oan, oa, hoa, hoen, hồn,
_ ghi là “u” trong các trường hợp còn lại. Ví dụ: uy, qua, tuế, uẩn,
Âm đệm -w- khơng đi sau các phụ âm tròn mơi và trước các ngun âm dòng
sau, nếu có cũng chỉ là một vài từ rất ít dùng hoặc từ vay mượn. Nếu -w- vắng mắt
có thể cho đó là âm đệm zero, ví dụ: tàn.
Có thể nói âm đệm -w- có mặt trong tồn quốc ( riêng phương ngữ Nam Bộ
có điểm khác biệt). Như trên đã thống kê, hiện nay trong tiếng Việt có tất cả 575
tiếng có chứa âm đệm. Vậy âm đệm trong tiếng Việt từ đâu đến? nó vốn là một âm
vị thuần Việt hay là do một sự nhập hệ nào đó trong lịch sử tiếng Việt?
Đây là vấn đề liên quan đến nguồn gốc, đến mặt lịch đại của âm đệm trong
tiếng Việt.Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn khi nghiên cứu về lịch sử ngữ âm tiếng Việt đã
tìm hiểu về lai ngun của hệ thống phhụ âm đầu, ngun âm, phụ âm cuối và cả
lai ngun của âm đệm -w Theo giáo sư, âm đệm -w- xuất hiện trong tiếng Việt
vào cuối thời kì Việt Mường chung( cách đây trên 1000 năm), do ảnh hưởng của
tiếng Hán vào tiếng Việt trong q trình tiếp xúc giữa hai ngơn ngữ . Chính vì thế
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
chúng ta cần nhìn lại q trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong lịch sử
để có thể tìm được những lí giải cho sự xuất hiện của âm đệm -w- trong tiếng Việt.
Tiếng Việt thời thượng cổ đã có một kho từ vựng khá phong phú với những
từ cơ bản có nguồn gốc Nam á và Tày Thái cổ, hồn tồn chưa có ảnh hưởng của
tiếng Hán. Tiếng Hán chỉ bắt đầu ảnh hưởng đến tiếng Việt từ giai đoạn khoảng
đầu cơng ngun trở đi.
Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán là rất cổ xưa và kéo dài hàng nghìn
năm. Trước hết có sự tiếp xúc giữa người Lạc Việt thời tiền sử với những người
Việt phía Nam sơng Dương Tử, trong giai đoạn xa xưa khi các bộ lạc Bách Việt
chưa chịu ảnh hưởng của phương Bắc và chưa nhập vào địa bàn của Trung Quốc.
Tuy nhiên đó mới chỉ là những tiếp xúc lẻ tẻ. Muốn nói tới một sự tiếp xúc quy mơ,
lưu lại ảnh hưởng sâu đậm thì phải bắt đầu từ khi Triệu Đà xâm lược Âu Lạc (-
179) và nhất là từ lúc nhà Hán đặt nền đơ hộ ở Việt Nam cho đến năm 938 khi Ngơ
Quyền dành lại độc lập cho đất nước. Đây là một giai đoạn tiếp xúc lâu dài, liên tục
và sâu rộng, nhưng đứng về mặt ảnh hưởng thì có thể chia thành hai giai đoạn: giai
đoạn từ đầu cơng ngun đến đầu đời Đường và giai đoạn bao gồm hai thế kỉ VIII
và IX (cuối Đường). Thế kỉ VIII và IX là thời gian nền văn hố Hán nói chung, nền
văn tự Hán nói riêng đã có một ảnh hưởng nhất định trên địa bàn Việt Nam. Dễ
thấy là sự xuất hiện của hàng vạn từ Hán- Việt trong tiếng Việt- hiện tượng tiêu
biểu cho tiếng Việt từ khi tiếng Việt trở thành ngơn ngữ của một quốc gia độc lập
(năm 938).
Trước khi hình thành cách đọc Hán Việt, người Việt Nam đọc chữ Hán thực
chất là đọc tiếng Tàu, dùng chữ Hán như một ngoại ngữ, học chữ Hán là học một
sinh ngữ. Tình trạng này kéo dài suốt gần nghìn năm Bắc thuộc, chắc chắn lối đọc
này sẽ có những ảnh hưởng khơng nhỏ tới cách đọc Hán Việt hình thành sau này,
và những đặc điểm ngữ âm của tiếng Hán chắc chắn vân còn lưu lại. Sau khi hình
thành cách đọc Hán Việt, viết chữ Hán về mặt từ vựng, ngữ pháp ta vẫn làm như cũ
nhưng về mặt ngữ âm dã có sự khác biệt: người Việt Nam đọc chữ Hán theo ngữ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
âm tiếng Việt, khác hẳn cách đọc của người Hán. Như vậy xuất phát điểm của cách
đọc Hán Việt hiện nay chính là hệ thống ngữ âm tiếng Hán dạy lần cuối cùng ở
Giao Châu, trước khi Việt Nam dành được độ lập. So với các phương ngơn Hán,
cách đọc Hán Việt có một số điểm chứng tỏ nó gần với âm Hán đời Đường hơn.
Khi tiếng Hán Việt hình thành ở Việt nam vào thế kỉ IX- X thì tiếng Việt đã có hệ
thống chung âm và hệ thanh điệu của tiếng hán đời Đường và hai hệ này cho đến
nay vẫn giữ ngun. Cách đọc Hán Việt hiện nay, sau gần 10 thế kỉ diễn biến theo
quy luật ngữ âm lịch sử tiếng Việt đã có nhiều điểm khắc với hệ thống ngữ âm
tiếng Hán thế kỉ VIII- IX, nhưng so sánh giữa hai bên thì vẫn thấy có sự tương ứng
hết sức đều đặn và có hệ thống, trong đó tiếng Việt hiện đại vẫn còn lưu giữ yếu tố
âm đệm, là một yếu tố của tiếng Hán.
Sở dĩ chúng tơi nói tới sự hình thành cách đọc Hán Việt và vấn đề cách đọc
Hán Việt chịu ảnh hưởng như thế nào từ tiếng Hán là vì hiện nay từ Hán Việt
chiếm tới 70% kho từ vựng tiếng Việt. Hơn nữa âm đệm -w- xuất hiện nhiều nhất
là trong kho từ Hán Việt. Tìm hiểu được nguồn gốc của âm đệm -w- trong cách đọc
Hán Việt cũng là chứng minh được nguồn gốc của âm đệm -w- trong tiếng Việt
hiện nay (vì trước khi tiếp xúc với tiếng Hán, tiếng Việt cổ khơng có yếu tố này).
Trong q khứ cách đây hơn 1000 năm, âm đệm đã có mặt. Như trên vừa
nói, điều này nổi rõ nhất trong kho từ Hán Việt, vì ở nguồn gốc của chúng- trong
tiếng Hán Trung cổ, số lượng từ có -w- rất nhiều. Giới âm học Trung Quốc đã phải
đặt ra thuật ngữ “ hợp khẩu” để chỉ những trường hợp như vậy. Việc so sánh Việt -
Mường cũng cho thấy có sự tương ứng -w- Việt / -w- Mường:
- Số từ có âm đệm -w- sau phụ âm gốc lưỡi ( kh, k) chiếm tỉ lệ cao hơn cả.
Và ở những từ này sự tương ứng giữa -w- Việt và -w- Mường tỏ ra đều đặn hơn cả.
- Ngun âm đơi /uo/ của Việt sang Mường đơi khi có thể ứng với -w- sau
phụ âm gốc lưỡi. /v/ của Việt cũng có thể ứng với -w- Mường đặt sau / /.
- Ngược lại sau phụ âm khác ( như “ thuyền”, “loan”), -w- Việt lại có thể ứng
với âm đệm zero ở Mường.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét