BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
Đề bài:
Câu 1: Bạn hãy liệt kê những văn bản pháp quy của Việt Nam liên
quan đến chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia.
Câu 2: Vì sao xóa đói giảm nghèo góp phần đảm bảo an sinh xã hội
bền vững?
Bài làm :
Câu 1: Liệt kê những văn bản pháp quy của Việt Nam liên quan đến
chương trình xóa đói giảm nghèo Quốc gia :
1. QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 134/2004/QĐ-TTG
NGÀY 20 THÁNG 7 NĂM 2004 VỀ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐẤT SẢN
XUẤT, ĐẤT Ở, NHÀ Ở VÀ NƯỚC SINH HOẠT CHO HỘ ĐỒNG BÀO DÂN
TỘC THIỂU SỐ NGHÈO, ĐỜI SỐNG KHÓ KHĂN.
Nội dung chủ yếu :
1.1 Mục tiêu :
Thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước
sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn
nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chương trình kinh tế- xã hội,
Nhà nước trực tiếp hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo để có điều
kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, sớm thoát nghèo.
- Đối tượng: Hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, định cư thường trú
tại địa phương; là hộ nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp
chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn về nhà ở,
nước sinh hoạt.
1.2.Thực hiện một số chính sách :
+ Đối với đất sản xuất : Mức giao đất sản xuất tối thiểu một hộ là 0,5
ha đất nương, rẫy hoặc 0,25 ha đất ruộng lúa nước một vụ hoặc 0,15 ha
đất ruộng lúa nước hai vụ. Căn cứ quỹ đất cụ thể của từng địa phương,
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
1
BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
khả năng lao động và số nhân khẩu của từng hộ và khả năng của ngân
sách địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể xem xét, quyết định
giao đất sản xuất cho hộ đồng bào với mức cao hơn.
+ Đối với đất ở : Mức giao diện tích đất ở tối thiểu 200 m2 cho mỗi
hộ đồng bào sống ở nông thôn. Căn cứ quỹ đất ở và khả năng ngân sách
của địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể xem xét quyết định giao
đất ở cho hộ đồng bào với mức cao hơn.
Việc hỗ trợ đất sản xuất và đất ở đối với hộ đồng bào dân tộc
Khơme nghèo do đặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nhà nước
sẽ có chính sách riêng.
+ Về nhà ở : Đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo tại chỗ
(kể cả đồng bào dân tộc Khơ me) hiện chưa có nhà ở hoặc nhà ở quá tạm
bợ và đã hư hỏng, dột nát thì thực hiện phương châm: Nhân dân tự làm,
Nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ.
+ Về hỗ trợ giải quyết nước sinh hoạt :
a) Đối với các hộ đồng bào dân tộc ở phân tán vùng cao, núi đá, khu vực
khó khăn về nguồn nước sinh hoạt thì ngân sách Trung ương hỗ trợ 0,5
tấn xi măng/hộ để xây dựng bể chứa nước mưa hoặc hỗ trợ 300.000 đồng/
hộ để đào giếng hoặc tạo nguồn nước sinh hoạt.
b) Đối với công trình cấp nước sinh hoạt tập trung: Ngân sách Trung
ương hỗ trợ 100% cho các thôn, bản có từ 50% số hộ là đồng bào dân tộc
thiểu số trở lên; hỗ trợ 50% đối với các thôn, bản có từ 20% đến dưới
50% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Các địa phương khi xây dựng các
công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho đồng bào phải bảo đảm tính
bền vững và hiệu quả.
- Nguồn vốn thực hiện :
a. Ngân sách Trung ương bảo đảm các khoản chi theo định mức hỗ trợ
quy định tại Quyết định này.
b. Ngân sách địa phương bố trí kinh phí không dưới 20% so với số vốn
Ngân sách Trung ương bảo đảm, đồng thời huy động thêm các nguồn vốn
hợp pháp khác để thực hiện mục tiêu, chính sách này.
c. Các địa phương chủ động bố trí kinh phí để thực hiện việc đo đạc, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng bào.
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
2
BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
2. QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 143/2001/QĐ-
TTG NGÀY 27 THÁNG 9 NĂM 2001 PHÊ DUYỆT "CHƯƠNG
TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ VIỆC
LÀM GIAI ĐOẠN 2001-2005".
Nội dung chủ yếu:
2.1 Mục tiêu:
- Mục tiêu tổng quát : Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói
giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005 là một chương trình tổng
hợp có tính chất liên ngành trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, nhằm tạo các điều kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ người
nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tiếp cận các
dịch vụ xã hội, xoá đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực
thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông
thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm
việc làm cho người có nhu cầu làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống
của nhân dân.
- Mục tiêu cụ thể :
Xoá đói giảm nghèo:
-> Mỗi năm giảm 1,5-2% (khoảng 28 vạn đến 30 vạn hộ/năm); không
để tái đói kinh niên;
-> Các xã nghèo có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu (thuỷ lợi nhỏ, trường
học, trạm y tế, đường dân sinh, điện, nước sinh hoạt, chợ).
+ Giải quyết việc làm:
-> Mỗi năm tạo việc làm cho 1,4-1,5 triệu lao động;
- >Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống dưới 6% và nâng
tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 80% vào năm
2005.
2.2. Thực hiện chương trình :
- Lĩnh vực xóa đói giảm nghèo :
Bao gồm các dự án:
▪) Nhóm các dự án xoá đói giảm nghèo chung:
▪) Nhóm các dự án xoá đói giảm nghèo cho các xã nghèo (có 25% hộ
nghèo trở lên và chưa đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu) không thuộc Chương
trình 135
- Lĩnh vực việc làm :
Các hoạt động hỗ trợ trực tiếp tạo việc làm và phát triển thị trường lao
động được triển khai với các dự án sau
▪) Dự án tổ chức cho vay vốn theo các dự án nhỏ giải quyết việc làm
thông qua Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm;
▪) Dự án nâng cao năng lực và hiện đại hoá các Trung tâm dịch vụ
việc làm.
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
3
BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
▪) Dự án điều tra, thống kê lao động và xây dựng hệ thống thông tin
thị trường lao động;
▪) Dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý lao động,
việc làm.
3. QUYẾT ĐỊNH SỐ 135/1998/QĐ – TTG CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ
DUYỆT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC XÃ ĐẶC
BIỆT KHÓ KHĂN MIỀN NÚI VÀ VÙNG SÂU VÙNG XA.
Nội dung chủ yếu:
3.1 Mục tiêu :
+ Mục tiêu tổng quát : Nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho
đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu,
vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình
trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào sự phát triển
chung của cả nước; góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc
phòng.
+ Mục tiêu cụ thể :
a) Giai đoạn từ năm 1998 đến 2000:
- Về cơ bản không còn các hộ đói kinh niên, mỗi năm giảm được 4 -
5% hộ nghèo.
- Bước đầu cung cấp cho đồng bào có nước sinh hoạt, thu hút phần lớn
trẻ em trong độ tuổi đến trường; kiểm soát được một số loại dịch bệnh
hiểm nghèo; có đường giao thông dân sinh kinh tế đến các trung tâm cụm
xã; phần lớn đồng bào được hưởng thụ văn hoá, thông tin.
b) Giai đoạn từ năm 2000 đến 2005:
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn xuống còn 25% vào
năm 2005.
- Bảo đảm cung cấp cho đồng bào có đủ nước sinh hoạt; thu hút trên
70% trẻ em trong độ tuổi đến trường; đại bộ phận đồng bào được bồi
dưỡng, tiếp thu kinh nghiệm sản xuất, kiến thức khoa học, văn hóa, xã
hội, chủ động vận dụng vào sản xuất và đời sống; kiểm soát được phần
lớn các dịch bệnh xã hội hiểm nghèo; có đường giao thông cho xe cơ giới
và đường dân sinh kinh tế đến các trung tâm cụm xã; thúc đẩy phát triển
thị trường nông thôn.
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
4
BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
3.2 Thực hiện một số chính sách :
a, Chính sách đất đai : Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo thực
hiện giao đất giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gắn
với công tác định canh, định cư phát triển vùng kinh tế mới, tạo điều kiện
cho đồng bào có đất sản xuất, ổn định đời sống.
b, Chính sách đầu tư , tín dụng .
c, Chính sách phát triển nguồn nhân lực .
d, Chính sách thuế : Các hoạt động kinh doanh nông lâm sản và hàng
hoá phục vụ sản xuất đời sống của nhân dân trong vùng các xã đặc biệt
khó khăn được ưu tiên về chính sách thuế theo quy định tại Nghị định số
20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ và các chính
sách về thuế khác khuyến khích đầu tư theo quy định hiện hành.
4. QUYẾT ĐỊNH SỐ 167/2008/QĐ – TTG CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ HỘ NGHÈO VỀ NHÀ Ở.
Nội dung chủ yếu:
4.1 Mục tiêu :
Thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở nhằm mục đích cùng
với việc thực hiện các chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia
giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010, Nhà nước trực tiếp hỗ trợ các hộ
nghèo để có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp
phần xoá đói, giảm nghèo bền vững.
- Đối tượng :
Đối tượng được hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Quyết định này phải
có đủ ba điều kiện sau:
a) Là hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số
170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010), đang
cư trú tại địa phương, có trong danh sách hộ nghèo do Ủy ban nhân dân
cấp xã quản lý tại thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành;
b) Hộ chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá tạm bợ, hư hỏng,
dột nát, có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện nhà ở;
c) Hộ không thuộc diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở theo quy định tại
Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 của Thủ
tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
5
BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó
khăn và theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác.
4.2 Thực hiện chính sách :
a, Bình xét và phê duyệt danh sách hỗ trợ nhà ở:
- Cơ sở thôn, bản tổ chức bình xét đối tượng và phân loại ưu tiên theo
đúng quy định, đảm bảo công khai, minh bạch;
- Ủy ban nhân dân cấp xã tổng hợp danh sách số hộ được hỗ trợ, đồng
thời lập danh sách các hộ có nhu cầu vay vốn báo cáo Ủy ban nhân dân
cấp huyện để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
b. Cấp vốn làm nhà ở:
- Căn cứ số nguồn vốn được huy động hợp pháp Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh phân bổ cho cấp huyện, đồng thời gửi danh sách vay vốn cho Ngân
hàng Chính sách xã hội để thực hiện cho vay
c. Thực hiện xây dựng nhà ở:
- Ủy ban nhân dân cấp xã giao Ban Xoá đói giảm nghèo cấp xã hướng
dẫn, kiểm tra, đôn đốc các hộ dân xây dựng nhà ở đảm bảo yêu cầu về
diện tích và chất lượng nhà ở theo quy định của Quyết định này và vận
động các hộ dân tự xây dựng nhà ở. Đối với hộ dân có hoàn cảnh khó
khăn (già cả, neo đơn, tàn tật…) không thể tự xây dựng nhà ở thì Ban
Xoá đói giảm nghèo cấp xã tổ chức xây dựng nhà ở cho các đối tượng
này.
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
6
BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
Câu 2 : Hệ thống An sinh Xã hội hiện nay bao gồm rất nhiều các
thành tố và nhiểu chương trình khác nhau : Bảo hiểm Xã hội , Trợ cấp
Xã hội , Ưu đãi Xã hội , Xóa đói giảm nghèo …. Tuy nhiên , có thể
khẳng định Xóa đói giảm nghèo đã góp phần rất lớn đảm bảo An sinh
Xã hội bền vững. Để làm rõ vấn đề này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
những khía cạnh sau đây:
Các chương trình An sinh xã hội với nhiệm vụ đảm bảo An
sinh xã hội bền vững và ưu điềm của chương trình Xóa đói giảm
nghèo (XĐGN) :
Các chương trình An sinh xã hội (ASXH) có diện bảo vệ rộng lớn
trong xã hội. Chính sách ASXH nói chung tạo nên tấm lưới che chắn cho
các thành viên cộng đồng khỏi rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống. Các
chương trình chính của hệ thống ASXH phải kể đến đó là: Bảo hiểm xã
hội, Cứu trợ xã hội, Ưu đãi xã hội và Xóa đói giảm nghèo. Các chương
trình này góp phần to lớn vào việc đảm bảo ASXH bền vững, phát triển
một xã hội hài hòa, bảo vệ quyền lợi của cộng đồng, của các thành viên
xã hội, coi đó như những ưu tiên hàng đầu.
Với bảo hiểm xã hội (BHXH), đây là trụ cột chính trong hệ thống
An sinh xã hội của mỗi nước, nó là mảng chính sách An sinh xã hội cơ
bản nhất của các quốc gia. Diện bảo vệ của các chương trình BHXH rất
rộng và có xu hướng rộng hơn một khi kinh tế - xã hội ngày càng phát
triển, do đó nó bảo đảm được tính lâu dài, thường xuyên nhằm thực hiện
an sinh xã hội bền vững. Mặt khác cơ chế hoạt động của bảo hiểm đã tạo
ra cho nó khả năng đảm bảo nguồn tài chính hết sức dồi dào, đủ khả năng
thực hiện trong dài hạn. Bởi lẽ nhiều loại hình bảo hiểm mang tính bắt
buộc do đó nguồn quỹ hình thành có tính chắc chắn. Đây là điều kiện tiên
quyết không chỉ giúp BHXH bền vững mà còn giúp hệ thống An sinh xã
hội bền vững.
Cứu trợ xã hội (CTXH) là khái niệm dùng để chỉ mọi hình thức và
biện pháp giúp đỡ của nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện
sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp
bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo liệu cuộc sống
tối thiểu của bản thân và gia đình. Có thể nói, CTXH một hoạt động
mang tính chất từ thiện, tương thân tương ái giúp đỡ nhau của con người
trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Mọi người dân trong cộng đồng xã
hội nhận thức được tính nhân đạo, nhân văn ấy từ đó giúp cho họ tích cực
tham gia vào công tác xã hội hóa hoạt động CTXH. Những người dân
trong xã hội cũng sẽ cảm thấy rằng: họ không bị bỏ rơi trong mọi hoàn
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
7
BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
cảnh. Đây là yếu tố hết sức quan trọng trong chiến lược đảm bảo không
chỉ an sinh xã hội bền vững mà còn giúp xã hội phát triển một cách hài
hòa, ổn định.
Bên cạnh đó chúng ta cũng phải kể tới ưu đãi xã hội (ƯĐXH), đó
là sự đãi ngộ đặc biệt về cả về mặt vật chất và tinh thần của Nhà nước, xã
hội nhằm ghi nhận, đền đáp công lao to lớn của của những cá nhân, tập
thể có cống hiến đặc biệt cho cộng đồng, xã hội. ƯĐXH không phải là sự
ban ơn mà thực chất là thực hiện công bằng xã hội. Chính sách này giúp
tái sản xuất ra những giá trị tinh thần cao đẹp của xã hội, giáo dục truyền
thống cho các thế hệ đi sau, tạo ra sự ổn định về thể chế chính trị cho đất
nước. Đây là tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế nói chung và an
sinh xã hội bền vững nói riêng.
Chúng ta nói đến Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) như là một nhiệm
vụ hết sức khó khăn và lâu dài, chương trình XĐGN tập trung vào đối
tượng có thu nhập thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn mà hiện còn chiếm
tỷ lệ khá cao trong xã hội. Các chính sách giúp người nghèo thoát nghèo
sẽ giúp họ có điều kiện vươn lên trong cuộc sống, cải thiện đời sống của
mình nói riêng và qua đó tạo ra những hiệu quả tích cực cho xã hội: giảm
chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư, tạo ra điều
kiện tốt cho phát triển bền vững. Chính sách XĐGN thực hiện thành công
sẽ giảm đi gánh nặng cho các chương trình ASXH, tạo điều kiện để các
chương trình an sinh xã hội đi vào chiều sâu.
Giữa các chính sách an sinh xã hội nêu trên, chính sách nào có ưu
điểm hơn trong việc đảm bảo an sinh xã hội bền vững?
Xóa đói giảm nghèo góp phần đảm bảo An sinh xã hội lâu dài và
bền vững hơn cả nhất là khi đặt trong bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt
Nam. Chủ đề:Có thể thấy, mặc dù BHXH là một chính sách An sinh xã
hội lớn, nhưng thực tế cho thấy đối tượng được hưởng lợi từ BHXH chủ
yếu là các tầng lớp dân cư có thu nhập bậc trung, những người làm công
ăn lương chứ chưa thực sự quen thuộc với người nghèo. Còn với chính
sách CTXH, mặc dù người nghèo là một trong những người được hưởng
lợi nhiều, nhưng các trợ giúp này (trừ một số trợ cấp dài hạn) thường có
tính tức thì và ngắn hạn. Với chính sách ƯĐXH, xã hội hướng tới những
người có công với đất nước trong các cuộc kháng chiến, hoặc những
người có cống hiến đặc biệt với đất nước trong thời bình. Có những
người nghèo thuộc diện ƯĐXH tuy nhiên con số đó còn chiếm tỷ lệ nhỏ
trong số người nghèo cả nước. Thực tế cho thấy những bộ phận người lao
động trẻ tuổi lâm vào hoàn cảnh nghèo đói nhưng không thuộc diện
ƯĐXH là khá nhiều. Vì vậy, xóa đói giảm nghèo được coi là giải pháp có
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
8
BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
tính lâu dài và bền vững hơn cả, giúp người nghèo thoát nghèo, tự đảm
bảo cho cuộc sống của mình, góp phần tạo ra mạng lưới an sinh toàn diện
cho mỗi quốc gia.
Chính sách xóa đói giảm nghèo đảm bảo thực hiện An sinh xã
hội bền vững như thế nào? Thực tiễn liên hệ tại Việt Nam.
Một xã hội muốn phát triển hài hòa, văn minh, hiện đại thì một
trong những yếu tố quan trọng nhất đó chính là cần phải quan tâm đến tất
cả mọi thành viên trong xã hội, tức là phải đảm bảo an sinh xã hội bền
vững. An sinh xã hội bền vững lại đòi hỏi các chính sách thực thi của nó
có hiệu quả về các mặt kinh tế - xã hội cả trong ngắn hạn cũng như dài
hạn. Đứng trên giác độ của các chương trình xóa đói giảm nghèo, sở dĩ
xóa đói giảm nghèo được coi là trụ cột vững chắc để đảm bảo an sinh xã
hội bền vững bởi nó đáp ứng được những yêu cầu cần thiết để tạo nên
tính bền vững ấy. Các yêu cầu, tính chất cơ bản ấy đó là: tính che chắn,
tính lâu dài, tính xã hội hóa và tính cải thiện. Những điều đó được thể
hiện như thế nào trong thực tiễn?
Tính che chắn:
Đối tượng mà chương trình Xóa đói giảm nghèo hướng tới là
những người có thu nhập thấp, đời sống bấp bênh, đói nghèo trong xã hội.
Họ thường có điều kiện sống thiếu thốn, có thu nhập thấp, trình độ học
vấn nhìn chung là không cao, ít được tiếp xúc với các dịch vụ chăm sóc
như y tế, giáo dục một cách đầy đủ. Đây là diện đối tượng dễ bị tổn
thương nhất và chiếm tỷ lệ không hề nhỏ trong xã hội mà chương trình
XĐGN hướng tới.
Bảng sau đây cho thấy tỷ lệ đói nghèo (%) ở Việt Nam năm 2004 và 2006
(theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2006-2010 và giá quy về giá năm 2004:
2004 2006
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
9
BÀI TẬP LỚN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VỚI AN SINH XÃ HỘI
Cũng theo chuẩn nghèo mới thì tỷ lệ hộ đói nghèo của cả nước từ năm
2006 cho đến nay liên tục giảm xuống:
Năm 2006 2007 2008 2009
Tỷ lệ hộ
nghèo (%)
15,5 14,8 13,4 12,3
Tuy nhiên, với quy mô dân số Việt Nam là 86,211 triệu người (tính
đến thời điểm 01/04/2009), trung bình 4,2 nhân khẩu trong 1 gia đình thì
số hộ nghèo cũng vào khoảng gần 2,6 triệu hộ. Mặt khác, dù GDP của
Việt Nam trong khoảng 10 năm gần đây luôn tăng trưởng ở mức từ 5-
8,5% nhưng sự tăng trưởng đó tiềm ẩn nhiều sự thiếu bền vững, thu nhập
danh nghĩa của người lao động tăng lên nhưng thực tế có thể bị giảm sút
nếu không điều chỉnh lương tăng kịp thời theo mức tăng giá cả hàng hóa,
dịch vụ. Điển hình lạm phát của Việt Nam năm 2008 đã lên mức 22,97%
ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế - xã hội và đương nhiên chịu hậu quả
nặng nề nhất lại chính là những hộ gia đình nghèo.
Các chương trình Xóa đói giảm nghèo của Đảng, Chính phủ Việt
Nam đã nhanh chóng khắc phục những khó khăn, tiếp tục thực hiện mục
tiêu XĐGN một cách có trọng tâm và trọng điểm. Đề án chương trình 30a
của Chính Phủ thực hiện cho 61 huyện nghèo là một ví dụ. Các huyện
nghèo mới được bổ sung vào diện ưu tiên phát triển kinh tế xã hội để đảm
bảo tính kịp thời và tính chất che chắn, ưu đãi cho người nghèo của chính
sách XĐGN. Với số lượng hộ nghèo ở Việt Nam lớn, vai trò che chắn,
bao trùm của các chương trình chống đói nghèo ở Việt Nam là rất đáng
ghi nhận.
Tính lâu dài:
Nghèo đói là vấn đề mang tính toàn cầu, không thể một sớm một
chiều có thể mà có thể giải quyết ngay được. Chiến lược chống đói ngèo
là một chiến lược lâu dài, cần thực hiện một cách bền bỉ và liên tục.
Chính vì điều này mới đảm bảo tính bền vững của các chính sách An sinh
xã hội. Ở Việt Nam, các chương trình XĐGN đã được định hình từ những
năm 90 của thế kỷ XX khi Việt Nam đang thực hiện đường lối Đổi mới
mở cửa nền kinh tế, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi đó đã trăn trở rất
nhiều về vấn đề xóa đói cho những người lao động nghèo khổ. Một số
chính sách bắt đầu được áp dụng và thực sự mang tính chiến lược từ sau
năm 1998, đặc biệt thành công là giai đoạn từ 2001-2005. Tỷ lệ đói nghèo
ở Việt Nam đã giảm xuống một cách ấn tượng dù là theo chuẩn quốc tế
hay chuẩn nghèo của Việt Nam.
Chương trình 135 – Một chương trình trọng điểm về xóa đói giảm
nghèo với số tiền đầu tư khoảng 10000 tỷ dồng dự kiến ban đầu kéo dài 7
năm từ 1998 đến 2005 nhưng sau đó Quốc Hội và Chính Phủ đã quyết
định kéo dài chương trình này thêm 5 năm nữa (2006-2010) và gọi là
SINH VIÊN: Hoàng Nguyệt Mai MSSV: CQ501656
10
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét