Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
rất lớn, nhưng năng lực của công ty không đủ đáp ứng. Theo thống kê của
phòng Kế hoạch - thị trường, trong năm 2005, công ty chỉ đáp ứng được 80%
nhu cầu sợi của các đơn vị có yêu cầu mua sợi ở công ty. Với mức độ tăng
trưởng ngành dệt may Việt Nam, đồng thời với sự ra đời của nhiều cơ sở dệt
nhuộm tư nhân trong cả nước, chắc chắn trong thời gian tới nhu cầu nội địa
còn tăng mạnh, ước tính tăng khoảng 200%. Hơn nữa, ngoài thị trường sợi
truyền thống của công ty là các cơ sở dệt Miền nam, dần dần, công ty còn mở
rộng thị trường ở Miền Bắc. Theo con số thống kê của phòng Kế hoạch thị
trường, nếu những năm 2000 trở về trước, hầu hết sản lượng sợi của công ty
cấp cho miền Nam ( khoảng 80%) thì trong năm 2004, 2005 con số này đã
giảm xuống, thị phần sợi cung cấp cho miền Bắc đã tăng đáng kể ( khoảng
30%). Như vậy có thể kết luận rằng, thị trường sợi nội địa của công ty còn có
thể mở rộng được rất nhiều.
Về mặt chất lượng, thị trường sợi nội địa hiện nay của công ty có thể
hoàn toàn đáp ứng được. Tuy nhiên, theo một dự báo, vài năm tới đây, yêu
cầu chất lượng sợi cao cấp cung cấp cho thị trường này sẽ tăng mạnh một
cách đáng kể để sản xuất các mặt hàng phục vụ yêu cầu xuất khẩu.
b. Thị trường quốc tế:
Trong năm 2005, sản phẩm sợi xuất khẩu của nhà máy Sợi đã chiếm
một tỷ trọng lớn nhất từ khi thành lập tới nay với mức khoảng 30%. Nghiên
cứu thị trường trong những năm tới đây cho thấy sợi Hanosimex không chỉ
dừng lại tại các nước châu Á mà sẽ tiếp tục phát triển sang châu Âu, châu Mỹ.
Như vậy, một thị trường Sợi xuất khẩu còn đang tiếp tục phát triển và thách
thức các dây chuyền kéo sợi tại Công ty Dệt may Hà nội. Trong năm 2004,
2005 phòng Xuất Nhập Khẩu của công ty đã giao dịch và thu hút được rất
nhiều khách hàng nước ngoài đến với sợi Hanosimex. Đó là một cơ hội có
tiềm năng để Công ty Dệt may Hà nội mở rộng được thị trường xuất khẩu và
thực tế xuất khẩu sợi năm 2005 đã thu được những kết quả tốt đẹp. Chỉ riêng
sản lượng sợi xuất khẩu của Nhà máy Sợi đạt hơn 3000tấn mang lại doanh thu
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ngoại tệ hơn 6triệu $ cho công ty. Trong giai đoạn 2006-2010, công ty dự
định tăng mạnh sản lượng sợi xuất khẩu cho nhà máy Sợi đạt bình quân
khoảng 4500 tấn sợi các loại/ năm.
Đối với thị trường sợi xuất khẩu, yêu cầu đặt ra về mặt chất lượng sản
phẩm hết sức khắt khe đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực cao về nhiều mặt của
Hanosimex trong giai đoạn hiện nay. Chất lượng sợi hiện nay của Hanosimex
chỉ đạt đường 50% thống kê USTER STATISTIC 2001 là mức chất lượng
trung bình trên thế giới. Trong khi đó, muốn tham gia thị trường xuất khẩu sơị
thế giới đòi hỏi mức chất lượng của nhà sản xuất tối thiểu phải đạt từ đường
50% trở lên. Vì vậy, muốn tạo được thế vững chắc trong thị trưòng sợi xuất
khẩu nhất thiết đòi hỏi công ty phải sản xuất được các mặt hàng sợi chất
lượng cao trên mức đường 50% (đường 5-25% thống kê USTER STATISTIC
2001). Đặc biệt là với các chỉ tiêu chất lượng sợi CVn%, U%, Thin, Thick,
Neps, Xù lông…cần có các bước đột phá đáng kể để nâng cao chất lượng sợi.
Muốn vậy biện pháp tốt nhất là đầu tư chiều sâu và mở rộng nhà máy sợi để
sản xuất các mặt hàng sợi có chất lượng cao(5-25% USTER STATISTIC
2001) và nâng cao chất lượng các mặt hàng sợi hiện đang sản xuất.
c. Đối thủ cạnh tranh:
Hiện nay trong nước đã có một số nhà máy sợi được đầu tư với các
thiết bị mới và hiện đại, điều này có nghĩa chất lượng sợi trong nước cũng sẽ
từ đó được cải thiện dần. Ví dụ như công ty Dệt Huế đầu tư một dây chuyền
kéo sợi mới, hiện đại với công suất 30.000 cọc sợi, công ty Dệt Nha trang
cũng đầu tư một dây chuyền kéo cọc sợi mới với công suất 20.000 cọc…Và
còn nhiều nhà máy kéo sợi nồi cọc mới sẽ ra đời trong tương lai.
Với tình hình này đòi hỏi công ty phải có những biện pháp hữu hiệu để
nâng cấp thiết bị tạo ra được những sản phẩm sợi có chất lượng cao có thể có
đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Đặc biệt cần phải có những đầu tư cho nhà
máy Sợi để thoả mãn chất lượng sợi xuất khẩu đảm bảo cạnh tranh được trên
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thị trường thế giới, từ đó gia tăng hơn nữa sản lượng sợi xuất khẩu của công
ty.
2.2. Đối với sản phẩm dệt kim:
Sản phẩm dệt kim chủ lực của công ty hiện nay là T.shirt và hineek. Sở
dĩ là do mặt hàng này thích hợp về giá thành và mẫu mã, phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng.
Còn các sản phẩm dệt kim khác vẫn chưa được thị trường trong nước
đón nhận một cách nhiệt tình, đặc biệt là lớp trẻ. Còn khối lượng xuất khẩu
sang thị trường quốc tế cũng không cao. Vì vậy, sự cần thiết phải đầu tư của
công ty là ở chỗ phải nghiên cứu được các sản phẩm với màu sắc phong
phú,mẫu mã đa dạng, phù hợp với từng lứa tuổi. Các đặc trưng như độ dầy
mỏng, ngắn dài, rộng hẹp, màu sắc…luôn thay đổi theo trào lưu và thời gian
nên cũng phải được quan tâm.
Những thách thức đối với công ty hiện nay là các đối thủ cạnh tranh ở
trong nước đang tăng lên rất nhanh. Có thể nói khả năng cạnh tranh của công
ty về sản phẩm này chưa cao kể cả ở trong nước và ngoài nước, ở Miền Bắc
các công ty như May Thăng Long, dệt kim Đông Xuân, May 10, Dệt 8/3, Dệt
Vĩnh Phúc… Miền Nam có các công ty như công ty Chiến Thắng, Nhà Bè,
Dệt Huế…Các công ty này có nhiều ưu thế và địa điểm, chất lượng tiêu thụ :
Bảng 1: Doanh thu năm 2005 của các đối thủ cạnh tranh về hàng dệt kim
Đơn vị: tỉ đồng.
Công ty Số lượng ( sản phẩm ) Doanh thu Nộp ngân sách
Thành Công 7.000.000 230 28.2
Việt Tiến 11.000.000 195 17.2
May 10 3.723.400 105 3
Thăng Long 2.567.000 97 2.874
Chiến Thắng 3.000.000 79.5 2.9
( Nguồn Vinatex)
So với các đối thủ cạnh tranh trên, sản phẩm dệt kim của Công ty Dệt
may Hà nội mới chỉ có doanh thu là 190 tỷ vào năm 2005. Nếu so sánh với
công ty dệt may Thành Công thì thấp hơn tới 40 tỷ, còn so với công ty may
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chiến Thắng cao hơn 150 tỷ, chứng tỏ sản lượng dệt kim của công ty chưa
hẳn ở mức thấp so với các đối thủ cạnh tranh nhưng vẫn chưa được như mong
muốn. Nguyên nhân là do mẫu mã sản phẩm vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
ngày càng cao của người tiêu dùng. Có thể thấy rõ, các công ty có doanh thu
cao đều rất chú trọng đầu tư cho việc thiết kế mẫu mã, kiểu dáng. Ngoài ra,
còn chưa kể đến các công ty tư nhân như: NinoMaxx, Viethy, Hoàng Tấn…
với sự linh hoạt, nắm bắt rất nhanh nhu cầu của người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ.
Như vậy, hiển nhiên là nếu không có chính sách đầu tư thích đáng, sản
phẩm dệt kim của công ty sẽ bị thua ngay trên sân nhà, với các đối thủ trong
nước chứ chưa nói đến khi Việt Nam ra nhập WTO thì mức độ cạnh tranh với
các hãng nước ngoài còn khốc liệt hơn nhiều.
2.3. Sản phẩm khăn mũ:
Trong những năm qua, sản phẩm khăn chủ yếu tiêu thụ trên thị trường
xuất khẩu. Lượng tiêu thụ trong nước thấp. Nguyên nhân là do hàng Trung
quốc vẫn tràn ngập ở Việt Nam với mẫu mã rất đa dạng, giá cả lại rẻ. Tuy
rằng chất lượng sản phẩm khăn mũ của chúng ta rất tốt, màu sắc đã được cải
thiện đáng kể nhưng kiểu dáng và hình ảnh còn nghèo nàn, đặc biệt là chủng
loại khăn tắm đại- loại khăn tắm Trung quốc rất lớn đang rất được ưa chuộng
ở Việt Nam thì Hanosimex vẫn chưa có sản phẩm này.
Đối với sản phẩm mũ cũng vậy, để cạnh tranh được ở thị trường nội địa
cũng rất khó khăn, vì rất nhiều các xưởng may tư nhân tận dụng được vải vóc
thừa để sản xuất hàng loạt những chiếc mũ thời trang, độc đáo, được giới trẻ
hết sức ưa chuộng, giá cả lại rẻ.
2.4. Sản phẩm vải DENIM:
Đây là sản phẩm mới của công ty, đưa vào sản xuất tháng 9/2000, do
đó mà thị phần của sản phẩm này chưa cao. Tuy nhiên, kì vọng vào sản phẩm
này là rất lớn, tương lai đây sẽ là sản phẩm chính của công ty. Mặc dù mới đi
vào sản xuất song với dây chuyền hiện đại của Mỹ, Nhật do đó chất lượng sản
phẩm rất cao, khách hàng sử dụng thấy thoải mái, phù hợp. Với nhiều mặt
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hàng với chất vải dày, mỏng khác nhau, sản phẩm vải DENIM đang dần mở
rộng thị phần của mình trên thị trường.
Tuy nhiên, sản phẩm này đang chịu sự cạnh tranh rất gay gắt của hàng
Trung quốc, đặc biệt là mặt hàng “ quần bò” do mẫu mã rất đẹp, phù hợp với
giới trẻ. Một lần nữa vấn đề về đầu tư cho kiểu dáng lại được bàn đến.
Trước tình hình như vậy, để có thể nắm bắt được các vận hội, đáp ứng
được nhu cầu phát triển của công ty cũng như của xã hội, việc đầu tư bổ sung
đổi mới, cải tạo nâng cấp thiết bị nhằm mục đích tăng năng lực sản xuất, nâng
cao chất lượng sản phẩm là một tất yếu phát triển của Công ty Dệt may Hà
nội .
Việc đầu tư sẽ mang lại hiệu quả cho công ty và xã hội, như tăng doanh
thu, tăng lợi nhuận, tăng trích nộp ngân sách và đồng thời tạo ra nhiều công
ăn việc làm mới cho xã hội.
II. Thực trạng đầu tư phát triển tại Công ty Dệt may Hà nội:
1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo dự án:
Với vai trò là con chim đầu đàn của ngành dệt may Việt Nam, kim ngạch xuất
khẩu luôn dẫn đầu so với các doanh nghiệp dệt may khác trên toàn quốc,
Công ty Dệt may Hà nội luôn chú trọng đến công tác đầu tư để khẳng định vị
trí của mình.
Ở Công ty Dệt may Hà nội 100% các dự án đã duyệt đều được thực
hiện, không có dự án nào bị tạm ngừng do thiếu vốn hoặc không đủ nguồn
lực.
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bảng 2: Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo dự án giai đoạn 2000-2005:
Đơn vị: tr. đ
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Số dự án 1 5 2 4 4 2
Vốn đầu tư 155300 27843, 73761, 12168 53828, 100268,5
( Nguồn : Phòng kĩ thuật đầu tư )
Có thể nói mức vốn đầu tư cho dự án (gọi chung là vốn đầu tư) các năm
không đều nhau. Năm 2000 và 2005, công ty có số vốn đầu tư nhiều nhất.
Năm 2001, có chững lại đột ngột, với số vốn chỉ là: 27843.77 triệu đồng, mặc
dù có tới 5 dự án khá quan trọng là: Nhà máy may 3, Nhà máy may mẫu thời
trang, Mua máy thô BCX 16E, Máy dò tách xơ ngoại lai, máy chải kĩ.
Nguyên nhân là do năm trước đó, công ty đã dồn sức cho việc xây dựng nhà
máy dệt vải DENIM, tiêu tốn hơn 155 tỷ đồng. Năm 2002 nhích lên đáng kể,
song cũng chỉ bằng một nửa so với năm 2000. Tuy có 2 dự án quan trọng là:
Nhà máy dệt Hà Đông và Dệt DENIM nhưng đều là đầu tư theo chiều rộng, ít
phải mua máy móc thiết bị mới nên số vốn đầu tư chỉ khoảng là 73761.716
triệu đồng.
Năm 2003, tuy có tới 4 dự án nhưng tất cả đều là mua máy móc nhỏ
( Máy RIB, Máy thô Riteter Secondhand, Máy nhuộm 25 kg, Máy dệt Single
có chun) nên tổng số vốn đầu tư cả năm ở mức thấp nhất trong giai đoạn này,
chỉ hơn 12 tỷ đồng.
Năm 2004, cũng có 4 dự án nhưng mức vốn lại lớn hơn 4 lần so với
năm 2003. Trong đó, phải kể đến dự án “ Đầu tư mở rộng nhà máy sợi Vinh”
có số vốn lên tới 37 tỷ đồng - gấp 3 lần số vốn đầu tư của cả năm 2003.
Năm 2005 là năm có số vốn đầu tư lớn thứ hai trong giai đoạn này-100 tỷ
đồng với 2 dự án là “Đầu tư mở rộng nhà máy sợi Hà nội”- 96 tỷ đồng và “
Dự án tự động hoá”- 4 tỷ đồng. Trong đó, dự án “Đầu tư mở rộng nhà máy
sợi Hà nội” là dự án rất quan trọng vì sợi là một trong những mặt hàng chủ
lực của công ty mang lại nguồn ngoại tệ cho công ty đảm bảo cân bằng thu
chi ngoại tệ cho công ty và nguồn ngoại tệ cho đất nước. Điều này có ý nghĩa
rất lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bởi vì nguồn nguyên
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vật liệu cho sản xuất sợi là bông xơ chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài. Sự
mạnh dạn đầu tư này chắc chắn sẽ mang lại những hiệu quả rõ rệt trong năm
2006 này và trong tương lai.
Như vậy, trong vòng 6 năm qua, mức vốn đầu tư ở công ty khoảng 423
tỉ đồng là con số không nhỏ so với các công ty dệt may ở Việt Nam. Điều này
đã thể hiện quyết tâm của công ty trong việc cải tổ lại máy móc thiết bị nhằm
nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Bảng 3: Tình hình tăng trưởng vốn đầu tư tại công ty giai đoạn2000-2005:
Năm
Tổng số vốn đầu tư
cho dự án ( tỉ)
Tốc độ tăng định
gốc(%)
Tốc độ tăng liên hoàn
(%)
2000 155300
100 100
2001 27844
17,929 17,929
2002 73762
47,496 264,913
2003 12168
7,835 16,496
2004 53828
34,661 442,377
2005 100269
64,564 186,274
Tổng 423171
( Nguồn : Phòng kĩ thuật đầu tư )
Qua bảng trên, ta càng thấy rõ hơn mức độ tăng vốn đầu tư theo từng
năm của công ty. Năm 2003, vốn đầu tư giảm tới 92,2% so với năm 2000.
Năm 2004, tốc độ tăng liên hoàn lớn nhất 442,377% so với năm 2003. Năm
2005 công ty có tốc độ tăng định gốc lớn nhất, nhưng nếu xét về tốc độ tăng
liên hoàn thì vẫn chưa có được tiến bộ vượt bậc như của năm 2004.
Vốn đầu tư cho dự án của công ty có thể nói không đều qua từng năm
Trong vòng 6 năm, công ty đã thực hiện được 18 dự án, trong đó nhiều
nhất là năm 2001 có tới 5 dự án.
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bảng 4: Quy mô bình quân một dự án trong giai đoạn 2000-2005:
Đơn vị: triệu đồng.
Năm Số dự án Số vốn đầu tư Bình quân 1 dự án
2000 1 155300,000 155300
2001 5 27843,770 5568,754
2002 2 73761,716 36880,858
2003 4 12168,000 3042
2004 4 53828,400 13457,1
2005 2 100268,539 50134,27
Tổng 18 423170,425 23509,47
( Nguồn : Phòng kĩ thuật đầu tư )
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, quy mô bình quân một dự án không đều
qua các năm. Con số trung bình là khoảng 23 tỷ/dự án/năm. Nếu không kể
năm 2000 công ty đầu tư xây dựng nhà máy dệt vải DENIM thì năm 2005,
công ty có vốn đầu tư trung bình cho một dự án lớn nhất giai đoạn vừa qua :
50 tỷ đồng. Năm 2003, vốn đầu tư trung bình một dự án thấp nhất, khoảng
3,042 tỷ đồng/ dự án. Năm 2001, trung bình khoảng 5,569 tỷ đồng một dự án
cũng là con số khá khiêm tốn so với các năm sau đó. Từ bảng trên ta cũng
thấy được mức chênh lệch bình quân một dự án các năm ở Công ty Dệt may
Hà nội cũng khá lớn. Có năm chỉ vài tỷ nhưng có năm lên tới 155 tỷ đồng.
Bảng 5: Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo phân cấp quản lý giai đoạn 2000-
2005:
Nhóm dự án Mức đầu tư
(đồng)
Tỉ trọng VĐT ( % )
NHÓM A: 155300000000 37
NHÓM B: 225728682212 53
NHÓM C: 42142660000 10
Tổng số 423171342212 100
( Nguồn : Phòng kĩ thuật đầu tư )
Các dự án ở công ty chủ yếu là nhóm C, có tới 11 trong số 18 dự án,
tuy vậy trong giai đoạn 2000-2005, tỉ trọng vốn của các dự án nhóm C chỉ
chiếm 10% trong tổng số các dự án. Trong số các dự án nhóm C thì “ Dự án
Mua máy Rieter Second hand” có số vốn cao nhất: 7,24 tỷ đồng. Tuy là loại
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Secondhand của Đức nhưng máy vẫn còn mới 90%, công suất đạt mức tối đa,
so với các công ty dệt may Việt Nam khác thì máy Rieter vẫn là loại thiết bị
hiện đại.
Nhóm B có tỉ trọng vốn nhiều nhất, chiếm 53%, bao gồm 6 dự án: Dự
án đầu tư mở rộng nhà máy Sợi Hà nội, dự án đầu tư mở rộng sợi Vinh, nhà
máy may 3 và nhà máy may mẫu thời trang.
Nhóm A tuy chỉ có 1dự án là “ Nhà máy Dệt vải DENIM” nhưng vì
đầu tư 155 tỷ nên chiếm tỉ trọng tới 37%. Việc đầu tư thể hiện quyết tâm của
Công ty Dệt may Hà nội trong việc chiếm lĩnh thị trường vải bò trên thị
trường nội địa
Chính vì tỉ lệ các dự án phân theo cấp quản lý tập trung chủ yếu vào
nhóm C nên gần như không có công tác thẩm định dự án ở công ty- vì đa số
các dự án nhỏ nên chỉ phải lập báo cáo xin thực hiện dự án trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt (thường là lãnh đạo công ty hoặc tổng công ty ), sau đó mới
bắt tay vào xây dựng dự án khả thi rồi gửi hồ sơ dự án tới người ra quyết định
đầu tư và các tổ chức cho vay vốn.
2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo yếu tố cấu hình:
Bảng 6: Vốn đầu tư của Công ty Dệt may Hà nội phân theo yếu tố cấu hình
giai đoạn 2000-2005:
Đơn vị : triệu đồng
Năm
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Vốn cố định 108710 19491 51633 8518 37680 70188
Vốn thiết bị 89142 15982 42339 6984 30897 57554
Vốn xây dựng 11958 2144 5680 937 4145 7721
Chi phí khác 7610 1364 3614 596 2638 4913
Vốn lưu động 38825 6961 18441 3042 13457 25067
Chi phí dự phòng 7765 1392 3688 608 2691 5013
Tổng VĐT ( tr. Đ)
155300 27844 73762 12168 53828 100269
(Nguồn: Báo cáo của Hanosimex )
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhìn vào biểu trên, ta thấy vốn thiết bị chiếm hầu hết trong vốn cố định
của công ty. Điều đó được thể hiện rõ qua bảng cơ cấu sau.
Bảng7: Tỉ trọng vốn đầu tư tại Công ty Dệt may Hà nội giai đoạn 2000-2005
Đơn vị: %
Năm 2000 2001 200
2
2003 2004 2005
Cơ cấu vốn cố định 70,39 69,7 71,5 71,1 69 73
Cơ cấu vốn thiết bị 58,6 52,7 60 55,3 56 59
Cơ cấu chi phí khác 3,45 7,5 4,5 6,8 5 6
Cơ cấu vốn xây lắp 8,34 9,5 7 9 8 8
Cơ cấu vốn lưu động 25,22 23 25 24 27 23
Cơ cấu phi phí dự phòng 4,39 7,3 3,5 4,9 4 4
(Nguồn : Công ty Dệt may Hà nội)
Qua bảng số liệu trên, có thể thấy, vốn cố định chiếm phần lớn trong
tổng vốn đầu tư, khoảng gần 71%. Trong vốn cố định, thì vốn dành cho mua
sắm máy móc thiết bị lại có tỉ trọng lớn nhất, khoảng trên 80%, vốn xây lắp
chỉ chiếm 11%, còn lại là chi phí khác.
Có thể thấy vốn lưu động chiếm tỉ trọng cũng khá cao, thường là 25%
tổng vốn đầu tư. Chi phí dự phòng thì chỉ khoảng 5%. Cơ cấu kĩ thuật vốn
đầu tư ở mức độ khá đều nhau qua từng năm, có những sự xê dịch song không
phải là lớn.
3.Tình hình thực hiện vốn đầu tư theo lĩnh vực hoạt động từ năm 2000-2005:
Trong giai đoạn 2000-2005, mức đầu tư cho lĩnh vực dệt là lớn nhất,
khoảng 232,6 tỉ đồng. Thấp nhất là các ngành: nhuộm, động lực.
Bảng8:Vốn và cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực hoạt động giai đoạn 2000-2005:
Ngành Vốn đầu tư ( tỉ đồng ) Tỉ trọng (%)
Dệt 232,6 55,64
Sợi 145,2 34,74
May 22,2 5,3
Khác 23,171 4,32
Tổng 423,171 100
( Nguồn : Phòng kĩ thuật đầu tư )
GVHD : PGS. TS. NguyÔn B¹ch NguyÖt
SV : Ph¹m NguyÖt Minh - §Çu t 44C
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét