Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Đánh giá chung về cơ chế quản lý nhà nước với thị trường xăng dầu và bài học kinh nghiệm

TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
Việc nghiên cứu sự thay đổi của nhu cầu khi thu nhập của người tiêu dùng
thay đổi có ý nghĩa trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất và phân bổ tài
nguyên của một nền kinh tế. Tập quán tiêu dùng sẽ thay đổi khi thu nhập thay đổi.
Do vậy, cơ cấu hàng hóa sản xuất ra cũng phải thay đổi theo để phù hợp với nhu
cầu mới. Có như vậy, sự phân bổ tài nguyên trong xã hội mới có hiệu quả và
tránh được lãng phí.
1.3.2. Giá cả của hàng hóa có liên quan
Nhu cầu đối với một loại hàng hóa nào đó chịu ảnh hưởng bởi giá cả của
hàng hóa có liên quan. Có hai loại hàng hóa có liên quan mà các nhà kinh tế
thường đề cập đến là: hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ sung.
Hàng hóa thay thế. Hàng hóa thay thế là những loại hàng hóa cùng thỏa
mãn một nhu cầu (nhưng có thể mức độ thỏa mãn là khác nhau). Thông thường,
hàng hóa thay thế là những loại hàng hóa cùng công dụng và cùng chức năng
nên người tiêu dùng có thể chuyển từ mặt hàng này sang mặt hàng khác khi giá
của các mặt hàng này thay đổi. Cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm
(tăng) đi khi giá của (các) mặt hàng hóa thay thế của nó giảm (tăng), nếu các yếu
tố khác là không đổi.
Hàng hóa bổ sung. Hàng hóa bổ sung là những hàng hóa được sử dụng
song hành với nhau để bổ sung cho nhau nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định
nào đó. Cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) khi giá của (các)
hàng hóa bổ sung của nó tăng (giảm), nếu các yếu tố khác không đổi.
1.3.3. Giá cả của chính loại hàng hóa đó trong tương lai
5
TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
Cầu đối với một hàng hóa, dịch vụ còn có thể phụ thuộc vào sự dự đoán
của người tiêu dùng về giá của hàng hóa, dịch vụ đó trong tương lai. Việc người
dân đổ xô mua đất đai trong thời gian gần đây là do họ dự đoán giá đất đai sẽ gia
tăng trong thời gian tới khi nhu cầu về đất để sinh sống và đô thị hóa gia tăng.
Thông thường, người tiêu dùng sẽ mua nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn khi họ dự
đoán giá trong tương lai của hàng hóa, dịch vụ đó tăng và ngược lại.
1.3.4. Thị hiếu của người tiêu dùng
Trong các phần trước, có một một yếu tố nữa được giữ cố định khi phân
tích đường cầu. Đó là thị hiếu hay sở thích của người tiêu dùng. Sở thích của
người tiêu dùng có thể chịu ảnh hưởng của phong tục, tập quán, môi trường văn
hóa - xã hội, thói quen tiêu dùng, v.v. của người tiêu dùng. Khi những yếu tố này
thay đổi, nhu cầu đối với một số loại hàng hóa cũng đổi theo.
1.3.5. Quy mô thị trường
Số người tiêu dùng trên thị trường đối với một hàng hóa, dịch vụ cụ thể
nào đó có ảnh hưởng quan trọng đến cầu đối với hàng hóa, dịch vụ đó. Có
những mặt hàng được tiêu dùng bởi hầu hết người dân như nước giải khát, bột
giặt, lúa gạo, v.v. Vì vậy, số lượng người mua trên thị trường những mặt hàng
này rất lớn nên cầu đối với những mặt hàng này rất lớn. Ngược lại, có những
mặt hàng chỉ phục vụ cho một số ít khách hàng như rượu ngoại, nữ trang cao
cấp, kính cận thị, v.v. Do số lượng người tiêu dùng đối với những mặt hàng này
tương đối ít nên cầu đối với những mặt hàng này cũng thấp. Dân số nơi tồn tại
của thị trường là yếu tố quan trọng quyết định quy mô thị trường. Cùng với sự
gia tăng dân số, cầu đối với hầu hết các loại hàng hóa đều có thể gia tăng.
1.3.6. Các yếu tố khác
Sự thay đổi của cầu đối với hàng hóa, dịch vụ còn phụ thuộc vào một số
yếu tố khác. Đó có thể là các yếu tố thuộc về tự nhiên như thời tiết, khí hậu hay
những yếu tố mà chúng ta không thể dự đoán trước được. Thí dụ, cầu về thịt bò
giảm mạnh khi xảy ra dịch bệnh “bò điên” ở Anh và các nước châu Âu khác.
Nói chung, đường cầu đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó sẽ dịch
chuyển khi các yếu tố khác với giá ảnh hưởng đến cầu đối với loại hàng hóa,
dịch vụ đó thay đổi. Số cầu của người tiêu dùng tại mỗi mức giá sẽ thay đổi khi
các yếu tố này thay đổi.
2. Cung (Supply)
2.1. Các khái niệm.
6
TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
Hiểu được người tiêu dùng muốn mua bao nhiêu hàng hóa là một điều rất
quan trọng nhưng vẫn chưa đủ để biết được giá và sản lượng hàng hóa đó trên
thị trường là bao nhiêu. Để trả lời được vấn đề đó, chúng ta còn cần phải hiểu
người sản xuất hay các hãng muốn bán bao nhiêu hàng hóa. Hành vi của hãng
được giải thích qua khái niệm kinh tế là cung.
Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người sản xuất muốn bán và
có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, với
các yếu tố khác không đối.
Cũng giống như trong khái niệm cầu, cung bao gồm cả hai yếu tố đó là sự
muốn bán và khả năng bán của nhà sản xuất. Ý muốn bán thường gắn với lợi
nhuận có thể thu được còn khả năng bán lại phụ thuộc vào năng lực sản xuất của
hãng.
Lượng cung là số lượng hàng hóa mà các hãng muốn bán tại một mức giá đã
cho với các yếu tố khác không đổi. Chúng ta có thể thấy là cung biểu diễn mối
quan hệ giữa giá và lượng cung. Chúng ta có thể biểu diễn mối quan hệ này bằng
đồ thị sau.
P
S
1
P
2
P
1
Q
1
Q
2
Q
Hình trên minh hoạ đường cung S
1

đơn

giản. Đường cung này là một
đường thẳng đứng nhưng các đường cung khác có thể có hình dạng khác nhau.
Cũng như đối với đường cầu, trục tung biểu diễn giá còn trục hoành biểu diễn
sản lượng. Như vậy đường cung giúp chúng ta trả lời câu hỏi các hãng sẽ bán
bao nhiêu hàng hóa ở các mức giá khác nhau.
2.2. Tác động của giá tới lượng cung.
Chúng ta minh hoạ tác động của giá tới lượng cung trên đồ thị đường
cung. Giả sử xem xét là thịt lợn. Khi giá thịt lợn tăng lên, các hãng cung nhiều
hơn. Nếu giá là P
1
thì lượng cung trên thị trường là Q
1
. Nếu giá là P
2
thì lượng
cung trên thị trường là Q
2
. Sự thay đổi của giá thịt lợn gây ra sự vận động dọc
theo đường cung.
7
TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
2.3. Tác động của các yếu tố khác đến cung.
Như chúng ta đã biết, cung của một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ
thuộc vào giá cả của chính hàng hóa, dịch vụ đó. Ngoài ra, cung còn phụ thuộc
vào một số yếu tố khác. Sự thay đổi của các yếu tố này sẽ dẫn đến sự dịch
chuyển của đường cung. Bây giờ, chúng ta sẽ xem xét chi tiết hơn về các yếu tố
này.
2.3.1. Trình độ công nghệ được sử dụng
Đường cung S
1
ở trên ứng với một trình độ công nghệ nhất định. Khi công
nghệ sản xuất được cải tiến, khả năng của nhà sản xuất được mở rộng hơn. Nhà
sản xuất sử dụng ít đầu vào hơn nhưng có thể sản xuất ra sản lượng nhiều hơn
trước. Do vậy, nhà sản xuất sẽ cung ứng nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn tại mỗi mức
giá. Khi đó, đường cung dịch chuyển sang phía phải. Sự dịch chuyển của đường
cung sang phải cho thấy rằng tại mỗi mức giá cho trước, lượng cung cao hơn so
với ban đầu.
Thí dụ, sự cải tiến trong công nghệ dệt vải, giúp các nhà sản xuất chuyển
từ công nghệ khung cửi sang dệt kim, đã sản xuất ra một khối lượng vải khổng
lồ trong xã hội hiện nay. Mỗi một sự cải tiến công nghệ mở rộng khả năng cung
ứng của các nhà sản xuất. Công nghệ càng tiến bộ giúp các doanh nghiệp sử
dụng yếu tố đầu vào ít hơn nhưng lại có thể tạo ra nhiều sản phẩm hơn.
2.3.2. Giá cả của các yếu tố đầu vào
Để tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp cần mua các yếu tố đầu vào trên
thị trường các yếu tố sản xuất như lao động, xăng dầu, điện, nước, v.v. Giá cả của
các yếu tố đầu vào quyết định chi phí sản xuất của các doanh nghiệp. Giá cả của
các yếu tố đầu vào giảm xuống (thí dụ như tiền lương công nhân, giá nguyên
liệu, v.v. trở nên rẻ hơn, chẳng hạn) sẽ khiến cho các nhà sản xuất có thể sản xuất
8
TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
nhiều sản phẩm tại mỗi mức giá nhất định. Khi đó, đường cung sẽ dịch chuyển
sang phải. Giá cả các yếu tố đầu vào cao hơn sẽ làm chi phí sản xuất gia tăng. Khi
đó, các nhà sản xuất sẽ cảm thấy kém hấp dẫn hơn khi sản xuất vì có thể lợi
nhuận sẽ thấp hơn và do vậy sẽ cắt giảm sản lượng. Chẳng hạn, khi giá bột mì
tăng lên, các nhà sản xuất bánh mì sẽ cung ít bánh mì hơn ở mỗi mức giá. Sự tác
động của việc tăng lên của giá cả các yếu tố đầu vào đối với sự dịch chuyển của
đường cầu được minh họa trong hình 2.5.
2.3.3. Giá cả của mặt hàng đó trong tương lai (dự báo)
Tương tự như người tiêu dùng, các nhà sản xuất cũng dựa vào sự dự báo giá
trong tương lai để ra các quyết định về cung ứng hàng hóa. Thông thường, các nhà
sản xuất sẽ cung ứng nhiều hơn nếu dự báo giá hàng hóa trong tương lai sẽ giảm
xuống và ngược lại sẽ cung ít đi nếu giá tăng, giả sử các yếu tố khác không đổi. Khi
giá trong tương lai tăng lên, các doanh nghiệp có lẽ sẽ dự trữ lại hàng hóa và trì
hoãn việc bán trong hiện tại để có thể kiếm được lợi nhuận cao trong tương lai khi
giá tăng.
2.3.4. Chính sách thuế và các quy định của chính phủ
Chính sách thuế của chính phủ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
cung của các nhà sản xuất. Khi chính phủ tăng thuế đối với một ngành sản xuất
nào đó, các doanh nghiệp trong ngành sẽ bị gánh nặng thêm chi phí trong sản
xuất và ngành này sẽ trở nên kém hấp dẫn. Do đó, các doanh nghiệp sẽ cung ứng
ít hơn và một số doanh nghiệp có thể rời khỏi ngành.
Ngoài thuế, các quy định, chính sách khác của chính phủ cũng có ảnh hưởng
lớn đến cung. Chính sách chống ô nhiễm để bảo vệ môi trường sẽ làm giá tăng chi
phí của một số ngành công nghiệp như sản xuất xe gắn máy, xe ô tô, v.v. và làm
9
TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
giảm lợi nhuận của các ngành này. Những chính sách như vậy có thể làm giảm sản
lượng của ngành sản xuất xe gắn máy, xe ô tô, v.v. Ngược lại, chính sách hỗ trợ
ngành mía đường trong thời gian qua ở nước ta, chẳng hạn, đã làm tăng cung của
ngành này.
2.3.5. Điều kiện tự nhiên và các yếu tố khách quan khác
Việc sản xuất của các doanh nghiệp có thể gắn liền với các điều kiện tự
nhiên như đất, nước, thời tiết, khí hậu, v.v. Sự thay đổi của các điều kiện này có
thể tác động đến lượng cung của một số loại hàng hóa nào đó trên thị trường.
Thí dụ, điều kiện tự nhiên có thể là một yếu tố kìm hãm hay thúc đẩy việc sản
xuất của các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp. Đối tượng của sản xuất
nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi. Đó là những cơ thể sống nên rất dễ bị tác
động bởi điều kiện tự nhiên. Các nghiên cứu về sản xuất lúa của nông dân nước
ta cho thấy năng suất lúa đạt được một phần do điều kiện tự nhiên quyết định.
Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ tạo ra năng suất cao và ngược lại sẽ làm giảm
năng suất. Một nền sản xuất nông nghiệp càng lạc hậu thì càng dễ bị tự nhiên chi
phối và ngược lại.
Các yếu tố khách quan cũng có thể làm thay đổi mức cung của các doanh
nghiệp. Một thống kê vào năm 2000 cho thấy sau khi khánh thành cầu Mỹ
Thuận, lượng rau quả cung ứng ở chợ Cầu Muối (thành phố Hồ Chí Minh) tăng
lên. Ngược lại, thiên tai (như lũ lụt chẳng hạn) có thể làm đình trệ một số ngành
sản xuất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và làm giảm cung của các mặt hàng như
lúa gạo, cây ăn trái, thịt, v.v.
Sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến cung sẽ làm dịch chuyển đường
cung. Người bán sẽ thay đổi lượng cung ở mỗi mức giá khi các yếu tố này thay
đổi.
3. Cân bằng thị trường.
3.1 Trạng thái cân bằng thị trường
Sau khi tìm hiểu khía cạnh cung và cầu của thị trường, chúng tôi giới
thiệu cơ chế hình thành sự cân bằng của thị trường. Giá cả và số lượng hàng hóa
được mua bán trên thị trường được hình thành qua sự tác động qua lại giữa cung
và cầu. Trên hình 2.6, đường cầu và đường cung cắt nhau tại điểm E.
Điểm E được gọi là điểm cân bằng của thị trường; tương ứng với điểm cân bằng
E, ta có giá cả cân bằng P
E
và số lượng cân bằng Q
E
. Giá cân bằng là mức giá
mà tại đó số cầu bằng số cung.
Thị trường có xu hướng tồn tại ở điểm cân bằng E. Nếu do một lý do nào
đó, giá cả trên thị trường P
2
cao hơn giá cân bằng P
E
, số lượng hàng hóa cung ra
10
TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
trên thị trường sẽ lớn hơn số cầu đối với hàng hóa đó. Khi đó, trên thị trường
xuất hiện tình trạng dư cung hay thừa hàng hóa (cung lớn hơn cầu). Vì thế, để
bán được hàng các nhà cung ứng sẽ có xu hướng giảm giá. Giá cả giảm làm cho
lượng cung cũng giảm theo và lượng cầu tăng lên. Kết quả là giá cả hàng hóa sẽ
giảm dần đến giá cân bằng P
E
và số lượng bán ra trên thị trường sẽ dịch chuyển
về Q
E
.
Ngược lại, nếu như giá cả P
1
thấp hơn giá cân bằng P
E
thì sẽ xảy ra hiện
tượng cầu lớn hơn cung hay thiếu hàng hóa. Do thiếu hàng nên áp lực của cầu sẽ
làm cho giá cả tăng lên bởi vì người tiêu dùng có thể sẵn sàng trả giá cao hơn để
mua hàng hóa. Khi giá cả tăng lên thì số cầu sẽ giảm dần và số cung tăng lên.
Như thế, giá cả sẽ tăng dần đến giá cân bằng P
E
và số hàng hóa được bán ra trên
thị trường sẽ dịch chuyển về Q
E
.
Thị trường có xu hướng tồn tại tại điểm cân bằng vì tại đó lượng cung
bằng với lượng cầu nên không có một áp lực nào làm thay đổi giá. Các hàng hóa
thường được mua bán tại giá cân bằng trên thị trường. Tuy nhiên, không phải
lúc nào cung cầu cũng đạt trạng thái cân bằng, một số thị trường có thể không
đạt được sự cân bằng vì các điều kiện khác có thể đột ngột thay đổi. Sự hình
thành giá cả của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường như được mô tả ở trên được
gọi là cơ chế thị trường.
3.2. Sự vận động của giá cả cân bằng và số lượng cân bằng
Như đã biết, giá cả mà các loại hàng hóa, dịch vụ được mua bán trên thị
trường chính là giá cả cân bằng. Tuy nhiên, giá cả thị trường của bất kỳ một loại
hàng hóa, dịch vụ nào cũng đều thay đổi liên tục. Trong phần này, chúng ta
nghiên cứu nguyên nhân của sự thay đổi của giá cả thị trường.
Trên nguyên tắc, giá cả và cả số lượng cân bằng thay đổi là do sự dịch
chuyển của ít nhất đường cung hay đường cầu. Trong phần trước, chúng ta đã
11
TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
xem xét các nguyên nhân gây ra sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu.
Trong phần này, giả sử chúng ta nghiên cứu tác động của thu nhập của người
tiêu dùng, một trong những nguyên nhân gây ra sự dịch chuyển của đường cầu,
đến sự thay đổi của giá cả thị trường.
Như đã nêu ở trên, khi thu nhập của người tiêu dùng tang lên, cầu đối với
quần áo cao cấp sẽ tăng lên làm đường cầu dịch chuyển qua phải. Hình 2.7 cho
thấy sự dịch chuyển của đường cầu làm cho điểm cân bằng di chuyển từ
điểm E đến điểm E’ (hình 2.7). Tại điểm cân bằng mới, giá quần áo cao hơn so
với ban đầu và số lượng cân bằng cũng cao hơn.
Như vậy, khi cầu đối với một hàng hóa, dịch vụ nào đó tăng, giá và số
lượng cân bằng của hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường sẽ tang, nếu như các
yếu tố khác không đổi. Chúng ta cũng có thể suy ra điều ngược lại khi cầu giảm.
Sự dịch chuyển của đường cung cũng sẽ làm thay đổi tình trạng cân bằng
trên thị trường. Thí dụ, khi công nghệ dệt vải được cải tiến, các doanh nghiệp sẽ
cung nhiều hơn (trong khi các yếu tố khác không đổi) làm đường cung dịch
chuyển sang phải (hình 2.8). Điểm cân bằng E di chuyển đến điểm E’ (hình 2.8).
Khi đó, giá cân bằng sẽ giảm và số lượng cân bằng tăng lên.
12
TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
Thông qua sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu chúng ta cũng
có thể giải thích tại sao khi trúng mùa giá lúa lại thường có xu hướng giảm (các
yếu tố khác giữ nguyên) và, ngược lại, khi mất mùa giá lúa có xu hướng tăng.
Ở hầu hết các thị trường, đường cung và cầu thường xuyên thay đổi do
các điều kiện thị trường thay đổi liên tục. Thí dụ, thu nhập của người tiêu dùng
tăng khi nền kinh tế tăng trưởng, làm cho cầu thay đổi và giá thị trường thay đổi;
cầu đối với một số loại hàng hóa thay đổi theo mùa, chẳng hạn như quạt máy,
quần áo, nhiên liệu, v.v., làm cho giá cả của các hàng hóa này cũng thay đổi
theo.
Việc hiểu rõ bản chất các nhân tố tác động đến sự dịch chuyển của đường
cung và đường cầu giúp chúng ta dự đoán được sự thay đổi của giá cả của các
hàng hóa, dịch vụ trên thị trường khi các các điều kiện của thị trường thay đổi.
Để dự đoán chính xác xu hướng và độ lớn của những sự thay đổi, chúng ta phải
định lượng được sự phụ thuộc của cung, cầu vào giá và các yếu tố khác. Tuy
nhiên, trong thực tế điều này không đơn giản
II. THỰC TRẠNG CUNG, CẦU XĂNG DẦU VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA NHÀ NƯỚC TỚI XĂNG DẦU TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA.
1. Tổng quan về thị trường xăng dầu ở Việt Nam.
1.1. Giai đoạn trước năm 2000
Giai đoạn này kéo dài trên 10 năm, với sự gia tăng của các đầu mối nhập
khẩu từ một đầu mối duy nhất, tăng dần lên 5 và đến năm 1999, đã có 10 đầu
mối tham gia nhập khẩu xăng dầu cho nhu cầu nội địa.
Trong những năm từ 1989 đến 1992, khi không còn nguồn xăng dầu cung
cấp theo Hiệp định với Liên xô (cũ), Nhà nước chuyển từ quy định "giá cứng"
sang áp dụng giá chuẩn để phù hợp với việc hình thành nguồn xăng dầu nhập
13
TiÓu luËn Kinh tÕ häc Vi m«
khẩu từ lượng ngoại tệ do doanh nghiệp đầu mối tự cân đối, mua của các doanh
nghiệp xuất khẩu qua ngân hàng hoặc hình thức uỷ thác bao tiêu xăng dầu cho
doanh nghiệp có ngoại tệ thu được từ xuất khẩu. Vào giai đoạn này, nguồn ngoại
tệ từ dầu thô do Nhà nước bảo đảm chỉ chiếm dưới 40% tổng nhu cầu ngoại tệ
nhập khẩu xăng dầu. Doanh nghiệp đầu mối được quyền quyết định giá bán +/-
10% so với giá chuẩn để bảo đảm hoạt động kinh doanh.
Từ năm 1993, để thống nhất quản lý giá bán, Nhà nước ban hành quy định
giá tối đa; doanh nghiệp tự quyết định giá bán buôn và bán lẻ trong phạm vi giá
tối đa. Nhà nước xác định mức độ chịu đựng của nền kinh tế để xác định giá tối
đa; việc điều chỉnh giá tối đa ở giai đoạn này chỉ diễn ra khi tất cả các công cụ
điều tiết đã sử dụng hết.
Công cụ thuế nhập khẩu được sử dụng như một van điều tiết để giữ mặt
bằng giá tối đa, không tạo ra siêu lợi nhuận và doanh nghiệp cũng không phát
sinh lỗ sau một chu kỳ kinh doanh.
Phụ thu là một công cụ bổ sung cho thuế nhập khẩu khi mức thuế nhập khẩu
đã được điều chỉnh tăng hết khung, được đưa vào Quỹ Bình ổn giá do Nhà nước
quản lý.
Lệ phí giao thông thu từ năm 1994 cũng được hình thành từ nguyên tắc
tận thu cho ngân sách Nhà nước khi điều kiện cho phép, là khoản thu cố định và
sau này đổi tên là phí xăng dầu.
Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là: nhờ quy định của Nhà nước về giá
chuẩn, doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh giá bán xăng dầu nhập khẩu thuộc
nguồn ngoại tệ tự huy động từ các doanh nghiệp xuất khẩu, đảm bảo quyền lợi cho
họ thông qua tỷ giá phù hợp nên đã huy động được số ngoại tệ nhập khẩu gần 60%
nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế sau khi không còn nguồn xăng dầu theo Hiệp
định.
Chính chủ trương không áp dụng cơ chế bù giá cho các đối tượng sử dụng
xăng dầu thông qua doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là điều kiện quyết định
để Việt Nam có thể tự cân đối được ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu ngay cả khi
nguồn ngoại tệ tập trung của Nhà nước từ dầu thô mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ
hơn 50% so với tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu lúc đó.
Giai đoạn này cũng là thời kỳ giá xăng dầu thế giới ở mức đáy (dầu thô
chỉ ở mức trên 10 usd/thùng), tương đối ổn định nên với cơ chế giá tối đa, Nhà
nước đã đạt được mục tiêu đề ra, cụ thể là (1)/ Cân đối cung - cầu được đảm bảo
vững chắc; (2)/ Các hộ sản xuất và người tiêu dùng lẻ được hưởng mức giá
tương đối ổn định; biến động giá tuy chỉ theo xu hướng tăng song mức tăng đều,
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét