Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

tc231

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
của sự chuyển hướng này là nhằm giảm bớt những tầng trung gian không cần
thiết, đồng thời tăng thêm trách nhiệm cho cấp dưới. Để có nguồn nhân lực
đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, cần thiết phải tuyển chọn bố trí, đánh
giá, phát triển và thưởng phạt đúng mức để có thể tạo ra sự liên hợp chặt chẽ
với mục tiêu của doanh nghiệp và đảm bảo đạt kết quả tốt trong doanh
nghiệp.
Nguồn lao động có hiệu quả tốt đối với doanh nghiệp hay không phụ thuộc
vào những con người được phân công quản lý. Nhà quản lý nếu được trang bị
những tri thức và kinh nghiệm về quản lý thì khi áp dụng vào thực tế công
việc sẽ mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên đòi hỏi những nhà quản lý phải có
những phẩm chất gần như bẩm sinh mà không phải qua đào tạo mà có. Đó là
những phẩm chất như nghị lực, tầm nhìn, quyết đoán, nhiệt tình, ngay thẳng,
tự tin
Cách tiếp cận quản lý lao động có sự khác biệt so với trước đây. Sự khác
biệt ở đây thể hiện ở chỗ yếu tố con người được xem xét trong mối quan hệ
chặt chẽ với lập kế hoạch phát triển dài hạn và tính chiến lược trong phát triển
chung của doanh nghiệp. Sự khác biệt còn thể hiện bởi tính chất đón đầu
trong phát triển nguồn lao động, sự cam kết của chủ doanh nghiệp với người
lao động và khả năng không ngừng nâng cao năng lực của người lao động
thông qua việc học tập tại chỗ.
1.4. Chức năng của quản lý lao động
Quản lý lao động là công việc không thể thiếu ở bất kỳ một doanh nghiệp
nào. Vì quản lý nó có các chức năng sau:
- Sử dụng hiệu quả nguồn lao động trong doanh nghiệp. Lập kế hoạch sử
dụng lao động, phân tích công việc, tuyển dụng và bố trí lao động phù hợp với
công việc cuả họ. Hàng năm định kỳ đánh giá kết quả công việc, đánh giá
việc thực hiện cuả người lao động. Bên cạnh đó còn xem xét lợi ích cuả họ từ
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đó có chế độ thưởng, phạt phù hợp khuyến khích được người lao động hăng
say tham gia sản xuất.
- Tuyển dụng, thay đổi lao động phù hợp với môi trường kinh doanh trong
doanh nghiệp. Quá trình này sẽ giúp doanh nghiệp có được đội ngũ nhân viên
có năng lực, chẩn mực thái độ, hành vi cư sử đáp ứng yêu cầu công việc và
nền tảng văn hoá cuả mình.
- Hoạch định chính sách, lộ trình và triển khai các bước phát triển nguồn
lao động. Các cơ chế, chính sách về quản lý người lao động cần phải định
hướng và tạo dựng phương thức làm việc mới, dựa trên hệ thống các giá trị
chuẩn mực về thái độ, lối sống, hành vi văn hoá đúng đắn. Phát triển nguồn
lao động gắn liền với đổi mới và sắp xếp lại tổ chức, tạo ra sự phù hợp giữa
kỹ năng kiến thức cuả lao động sẵn có với các yêu cầu cuả doanh nghiệp.
Phân tích các yêu cầu đào tạo bồi dưỡng phát triển người lao động để họ có
thể đảm đương được công việc trên cơ sở những kỹ năng kiến thức chủ yếu.
1.5. Một số quan điểm về quản lý lao động
Muốn sử dụng có hiệu quả con người trong sản xuất, trong lao động, điều
quan trọng và có ý nghĩa quyết định là xác định chính sách quản lý nhân lực.
Chính sách quản lý nhân lực là một trong các chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước Việt Nam.
Việc định ra chính sách trước hết phải phụ thuộc vào quan niệm về yếu tố
con người. Trong lĩnh vực này đã từng có những trường phái khác nhau, trên
cơ sở đó đã nảy sinh ra cách cư xử với con người theo những chính sách khác
nhau và tất nhiên mang lại những kết quả khác nhau. Nếu điểm lại, ta có
những quan điểm tiêu biểu sau:
1.5.1. Trường phái cổ điển
Trường phái cổ điển đại diện là Fayol, Gant. Theo trường phái này cho
rằng:
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Đại đa số con người, bản chất đều không muốn làm việc dựa trên sự đánh
giá tiêu cực của ông.
- Cái mà con người làm không quan trọng bằng cái mà họ kiếm được.
- Ít người có thể và muốn làm một công việc đòi hỏi sáng tạo tự quản, sáng
kiến hoặc tự kiểm tra.
Với quan điểm như trên, các nhà quản lý muốn phát huy được hiệu quả của
công tác quản trị lao động cần phải:
- Cần kiểm tra giám sát chặt chẽ cấp dưới.
- Cần phân chia công việc thành những nguyên công đơn giản, lặp đi lặp
lại, dễ học dễ làm.
- Cần phải thiết lập những phương pháp và thói quen làm việc tỉ mỉ, xây
dựng và thực hiện những chính sách một cách khoa học cương quyết nhưng
đảm bảo sự công bằng giữa các thành viên.
- Thường xuyên quan tâm, lắng nghe tâm tư nguyện vọng và áp dụng các
đãi ngộ tạo điều kiện để người lao động có thể cùng tham gia vào quá trình
hoạt động những chính sách chiến lược kinh doanh.
Nhưng trong quá trình quản lý lao động cần quán triệt những nguyên tắc
sau:
- Thống nhất trong việc đưa ra quy tắc quản lý.
- Phân chia công việc một cách khoa học và phù hợp với đối tuợng được
giao.
- Có cơ chế hợp tác kiểm tra giám sát lẫn nhau.
- Đảm bảo đối xử công bằng đối với mọi thành viên.
- Có sự phù hợp giữa mức đóng góp và trách nhiệm của người lao động.
Nếu thực hiện tốt những biện pháp và nguyên tắc quản lý cơ bản trên thì sẽ
mang lại những kết quả chủ yếu như sau:
- Con người chịu đựng được những công việc mà họ được giao nếu được
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quan tâm trả lương tương xứng và người chủ công bằng.
- Con người sẽ tự giác chấp hành tốt mọi nhiệm vụ được giao dưới sự kiểm
soát chặt chẽ của nhà quản lý.
- Nếu nhiệm vụ được đơn giản hóa và con người bị kiểm soát một cách
chặt chẽ có thể đạt được các mức sản xuất đã quy định.
Tuy nhiên trường phái này có những hạn chế cơ bản sau:
- Trong quá trình chia nhỏ công việc nếu không phân tích kỹ lưỡng thì có
thể xảy ra những phần việc đơn giản lặp đi lặp một cách nhàm chán. Không
tạo ra được sự hào hứng hay hứng thú làm việc của con người.
- Việc quản lý một cách thường xuyên còn làm người lao động mất sự tự
chủ trong hoạt động của mình dẫn đến hạn chế sự sáng tạo của họ trong công
việc. Và công tác quản lý thường xuyên cũng gây khó khăn cho người điều
hành.
- Đánh giá thấp con người là làm tổn thất tài nguyên của quốc gia.
1.5.2.Trường phái tâm lý xã hội:
Đại biểu cho trường phái này là Mayol và Goner. Theo trường phái này con
người được nhìn nhận như sau:
- Con người muốn cảm thấy mình có ích và quan trọng. Họ không muốn bị
coi là một cái máy, mà là một thực thể cảm xúc, tình cảm.
- Con người muốn được tham gia vào công việc chung và được nhìn nhận
như những con người.
- Muốn khuyến khích động viên con người làm việc cần thấy những nhu
cầu của họ quan trọng hơn là tiền.
Để tác động làm tăng hiệu quả của lao động thì cần thực hiện những công
việc để động viên khuyến khích người lao động.
Muốn phát huy khả năng làm việc của mỗi con người thì cần thực hiện
những chính sách chủ yếu sau:
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Nhiệm vụ chủ yếu của người điều khiển là làm sao cho mỗi người cảm
thấy có ích và quan trọng.
- Thường xuyên thông tin cho cấp dưới và lắng nghe những ý kiến của họ
để góp vào kế hoạch.
- Làm cho con người có được quyền tự chủ, tự kiểm soát và tự chịu trách
nhiệm trong khuôn khổ những quy định của doanh nghiệp.
Để phát huy những khả năng của người lao động cần thực hiện tốt những
chính sách mang những nguyên tắc cơ bản sau:
- Phân quyền cụ thể hơn tới từng bộ phận và công nhân người lao động để
tạo thêm quyền tự chủ cho người lao động.
- Cố gắng tạo điều kiện thuận lợi để mỗi người lao động cùng tham gia vào
công việc chung.
- Tạo ra bầu không khí tâm lý thoải mái trong lao động.
- Thường xuyên trao đổi thông tin qua lại giữa các công nhân và giữa
những người quản lý với công nhân viên.
- Phát triển công việc theo tổ, nhóm, nâng cao tư tưởng tự kiểm tra, tự chịu
trách nhiệm về công việc mình đảm nhận.
Nếu doanh nghiệp thực hiện đầy đủ những chính sách và biện pháp quản lý
trên sẽ mang lại kết quả thể hiện như sau:
- Việc chia sẻ những thông tin cho cấp dưới và cho họ tham gai các quyết
định sự vụ, vụn vặt thoả mãn nhu cầu của người lao động. Làm cho họ cảm
thấy mình quan trọng.
- Hạn chế cơ bản sự chống đối của một số người lao động với những nhà
quản lý đồng thời tạo ra sự hợp tác tự nguyện và tương đối toàn diện của
người lao động.
- Tạo cho mọi người lao động cảm thấy luôn thoải mái trong quá trình thực
thi nhiệm vụ được giao.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.5.3. Trường phái hiện đại
Đại biểu là Simon, March. Theo trường phái này nhìn nhận con người dưới
quan điểm như sau:
- Bản chất con người không phải là không muốn làm việc. Mà họ luôn có
mong muốn được góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu mà bản thân
họ cũng được cùng xây dựng và đề ra.
- Đa số con người đều có những khả năng sáng tạo, tự quản tự kiểm tra tự
chịu trách nhiệm đối với những công việc mà họ được giao thậm chí khả năng
của họ còn có thể cao hơn cả những yêu cầu mà việc làm hôm nay của họ đòi
hỏi.
Các chính sách quản lý lao động cần phải tập trung thực hiện một cách
khoa học dựa theo những nguyên tắc chủ yếu sau:
- Cách thức tác động của người quản lý đối với doanh nghiệp và người lao
động phải mềm dẻo linh hoạt phù hợp với mỗi người lao động cụ thể.
- Tìm mọi biện pháp để không ngừng cải thiện điều kiện lao động nâng cao
chất lượng cuộc sống.
- Phải sử dụng những biện pháp để khuyến khích người lao động tham gia
vào việc thực hiện những nhiệm vụ tự quản, tự kiểm tra, tự chịu trách nhiệm.
- Phải xác định một kế hoạch và chiến lược làm việc khoa học.
Với quan điểm trên để đem lại hiệu quả trong công tác quản lý như sau:
- Tìm ra các biện pháp thích hợp để khai thác những tiềm năng còn tiềm ẩn
trong mỗi người lao động.
- Tìm ra môi trường thuận lợi để người lao động có thể tham gia tối đa theo
khả năng của họ.
- Cần khuyến khích để người lao động được tham gia vào những vấn đề
quan trọng thường xuyên mở rộng tự quản và tự kiểm soát của công nhân
người lao động.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Khuyến khích về vật chất và tinh thần để người lao động tham gia nhiệt
tình vào công việc. Từ đó họ tham gia tối đa khả năng cho doanh nghiệp.
Tuỳ vào những hoàn cảnh cụ thể mà có những quan điểm khác nhau.
Nhưng nó đều được các nhà quản lý áp dụng để đưa ra các chính sách, vì mỗi
phương pháp đều có hạn chế vì vậy nên dùng chúng một cách tổng hợp để có
thể khắc phục hạn chế của nhau. Bên cạnh đó các chính sách cần thực hiện tốt
các nguyên tắc là: tôn trọng con người, chính sách phải vừa cứng rắn vừa
mềm dẻo, tạo môi trường để con người phát triển toàn diện.
2. Lý luận về chất lượng lao động
2.1. Khái niệm về chất lượng lao động
Chất lượng lao động là trạng thái nhất định của nguồn lao động thể hiện
mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn lao
động. Chất lượng nguồn lao động không phải chỉ tiêu phản ánh trình độ phát
triển về mặt đời sống xã hội. Bởi lẽ chất lượng lao động cao sẽ tạo ra động lực
mạnh mẽ hơn so với tư cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn
thể hiện mức độ mối liên hệ của một xã hội nhất định chất lượng lao động
được thể hiện qua một số hình thức chỉ tiêu chủ yếu như: sức khoẻ, trình độ
văn hoá, lối sống
2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng lao động
2.2.1. Trạng thái sức khoẻ của dân cư
Sức khỏe là trạng thái thoải mái về tinh thần, thể chất và xã hội chứ không
phải đơn thuần là không có bệnh tật. Sức khoẻ là tổng hòa nhiều yếu tố tạo
nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.
2.2.2. Trình độ văn hoá của người lao động
Trình độ văn hoá cuả người lao động là sự hiểu biết cuả người lao động đối
với kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội. Trong chừng mực nhất định,
trình độ văn hoá của dân cư biểu hiện bằng mặt bằng dân trí của quốc gia đó.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trình độ văn hoá được biểu hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ như:
- Số lượng người biết chữ và chưa biết chữ.
- Số lượng người có trình độ trung học.
- Số lượng người có trình độ phổ thông cơ sở.
- Số lượng người có trình độ phổ thông trung học.
- Số lượng người có trình độ đại học và trên đại học.
Trình độ văn hoá của dân số hay nguồn lực lao động là chỉ tiêu hết sức
quan trọng phản ánh chất lượng của lao động và có tác động mạnh mẽ tới phát
triển kinh tế - xã hội. Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng
một cách nhanh chóng những trình độ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn.
2.2.3. Trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn
nào đó. Nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên
nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công
việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn của người lao động
được đo bằng
Trong mỗi chuyên môn có thể chia thành những chuyên môn nhỏ hơn như
Đại học bao gồm kĩ thuật, kinh tế, ngoại ngữ Thậm chí trong từng chuyên
môn lại chia thành những chuyên môn nhỏ hơn nữa.
Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của người lao
động được đào tạo ở các trường kỹ thuật, biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:
- Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông.
- Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng.
- Trình độ tay nghề theo cấp bậc.
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau thông
qua chỉ tiêu số lượng lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng
thời kỳ.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.2.4 Chất lượng lao động còn được thể hiện thông qua chỉ số phát triển con
người HDI
Chỉ số này được tạo bởi 3 yếu tố:
Tuổi thọ bình quân, thu nhập bình quân trên đầu người, trình độ học vấn.
Như vậy, HDI không chỉ đánh giá phát triển con người về mặt kinh tế mà còn
nhấn mạnh tới chất lượng cuộc sống và sự công bằng tiến bộ xã hội.
2.2.5. Một số chỉ tiêu khác
Ngoài những chỉ tiêu trên có thể lượng hoá được chúng ta còn xem xét chỉ
tiêu năng lực sản xuất của người lao động. Chỉ tiêu này phản ánh mặt định
tính mà khó có thể định lượng được. Nội dung của chi tiêu này được xem xét
thông qua các mặt.
- Truyền thống dân tộc bảo vệ Tổ quốc
- Truyền thống văn hóa văn minh dân tộc
- Phong tục tập quán, lối sống, ý thức kỷ luật.
Nói chung chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý trí năng lực tinh thần của người
lao động đặc biệt là chỉ tiêu ý thức thái độ của người lao động.
2.3. Sự cần thiết nâng cao chất lượng lao động
Việc nâng cao chất lượng lao động là một đòi hỏi khách quan bởi lẽ:
Nhu cầu về lao động là nhu cầu dẫn xuất do nhu cầu sản xuất sản phẩm
nhất định, nhu cầu sản xuất sản phẩm lại xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của
con người. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhu cầu của con người ngày
càng phong phú và đa dạng, sản phẩm sản xuất ra càng nhiều hơn và chất
lượng hơn. Do đó chỉ có thể đo được cho loại lao động có trình độ cao sản
xuất ra nên không thể tránh khỏi không chăm lo đối với việc nâng cao chất
lượng lao động.
Nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống tăng cường sức khỏe, mở rộng tri
thức, nâng cao trình độ tay nghề không chỉ do kết quả của sự phát triển sản
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
xuất mà nó còn xuất phát từ nhu cầu của chính bản thân con người muốn nâng
cao chất lượng cuộc sống. Do vậy việc nâng cao chất lượng lao động không
chỉ xuất phát từ nhu cầu sản xuất mà còn xuất phát từ chính nhu cầu của con
người điều đó tạo ra điều kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng lao động hiện
nay.
Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là xu thế tất yếu của lịch
sử, là quá trình thiết bị công nghệ kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân.
Trong lĩnh vực lao động đã tạo ra sự chuyển biến về chất. Từ lao động thủ
công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ.
Nước ta tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hoá từ một mặt bằng kinh tế
thấp kém và đội ngũ cán bộ trình độ thấp vì vậy để tiến hành công nghiệp hoá
hiện đại hoá một đòi hỏi cấp bách là không thể không nâng cao chất lượng
nguồn lao động.
Đối với công ty: việc nâng cao chất lượng lao động đánh giá khả năng nâng
cao năng suất lao động trong việc sản xuất. Nó giúp cho công ty ngày càng
phát triển không chỉ về chiều rộng mà cả về chiêu sâu. Bên cạnh đó nâng cao
chất lượng lao động cao nó thể hiện bộ mặt của công ty giúp cho việc đầu tư
vào phát triển công ty sẽ thuận lợi vì các nhà đầu tư khi họ định đầu tư vào
bất kỳ một lĩnh vực ngành nào họ đều phải nghiên cứu xem lĩnh vực hay công
ty đó có triển vọng và phát triển mạnh trong tương lai hay không. Mà việc
nâng cao chất lượng lao động là một trong những yếu tố quan trọng để thực
hiện vấn đề băn khoăn trên của các nhà đầu tư.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
14

Xem chi tiết: tc231


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét