coi họ là ngời cha thành niên. Định nghĩa này không xác định độ tuổi cụ thể.
Từ điển Luật học đa ra định nghĩa cụ thể hơn,
theo đó "ngời cha thành niên" là ngời dới 18 tuổi, tuy nhiên theo định nghĩa này
thì khi cha thành niên sẽ không đợc pháp luật coi là có đủ khả năng để sử dụng
quyền, làm nghĩa vụ và chịu trách nhiệm. Nhng mỗi ngành luật lại có những quy
định khác nhau căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của ngời cha thành niên, ý thức
của họ khi tham gia vào các quan hệ xã hội bị điều chỉnh bởi những quy phạm của
ngành luật đó. Ví dụ, Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Ngời cha
thành niên từ đủ 14 tuổi đến dới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình
sự", tuy cha đủ 18 tuổi (cha coi là thành niên) họ vẫn bị pháp luật quy định là
phải chịu trách nhiệm hình sự; Điều 18 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Ngời từ
đủ 18 tuổi trở lên là ngời thành niên. Ngời cha đủ 18 tuổi là ngời cha thành
niên". Cũng theo quy định của Bộ luật ngời cha thành niên vẫn đợc tham gia vào
các quan hệ dân sự, mà khi đó họ phải đợc pháp luật công nhận là có khả năng "sử
dụng quyền, làm nghĩa vụ và chịu trách nhiệm"; Điều 119 Bộ luật Lao động 2002
quy định: "ngời lao động cha thành niên là ngời lao động dới 18 tuổi", theo đó
Bộ luật cũng quy định các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngời lao động cha
thành niên. Nh vậy định nghĩa này là cha chính xác.
Bên cạnh đó, còn có khái niệm "trẻ em". Theo Công ớc về quyền trẻ em
1989: "Trẻ em là mọi ngời dới 18 tuổi, trừ trờng hợp pháp luật áp dụng với trẻ
em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn". Tại Điều 11 Quy tắc tối thiểu phổ
biến của Liên hợp quốc về bảo vệ ngời cha thành niên bị tớc quyền tự do năm
1990 đã quy định: "Những ngời cha thành niên là ngời dới 18 tuổi". Có thể thấy
qua hai văn bản pháp lý quốc tế trên, khái niệm "trẻ em" và khái niệm "ngời cha
thành niên" đều để chỉ ngời dới 18 tuổi.
Lại có ý kiến cho rằng, theo pháp luật Việt Nam thì khái niệm "trẻ em" và
khái niệm "ngời cha thành niên" có sự khác nhau với dẫn chứng Bộ luật Dân sự
Việt Nam năm 2005 quy định: "Ngời cha đủ 18 tuổi là ngời cha thành niên", còn
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em đợc quy định trong
5
Luật này là công dân Việt Nam dới 16 tuổi" (Điều 1). Theo đó, khoảng cách giữa
"trẻ em" và "ngời cha thành niên" là khoảng cách 2 năm.
Về độ tuổi của ngời cha thành niên, có rất nhiều ý kiến khác nhau nh: ngời
cha thành niên là ngời ở độ tuổi 14 đến 17 tuổi (Spranger); từ 11 đến 15 tuổi
(Bromlei); từ 12 đến 15 tuổi (J. Piagie) hay có sự phân biệt giữa nam và nữ nh:
nam là từ 14 đến 16 tuổi, nữ là 11 đến 13 (Buhler); nam 12 đến 17 tuổi, nữ là 12
đến15 tuổi (Grimn) [6, tr.60].
Có thể thấy rằng, việc xác định độ tuổi ngời cha thành niên là rất khó, không
thể đồng nhất hai khái niệm "ngời cha thành niên" và "trẻ em", cũng không nên
xem khái niệm nào có nội hàm rộng hay hẹp hơn. Nhìn chung các ý kiến đều
thống nhất cho rằng giới hạn độ tuổi cao nhất của ngời cha thành niên là dới 18
tuổi. Chúng tôi cho rằng không nhất thiết phải có một khái niệm cụ thể về ngời ch-
a thành niên, chỉ cần xác định ngời cha thành niên bao gồm những ngời ở lứa tuổi
nào? hợp lý nhất đó là những ngời ở độ tuổi từ đủ 12 đến dới 18 tuổi, bởi đây là
giai đoạn mà theo tâm lý học thì tâm sinh lí của ngời cha thành niên đợc thể hiện
rõ nhất. Mặt khác, khi nghiên cứu về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối
với ngời cha thành niên, theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, Điều 7
quy định về Xử lý ngời cha thành niên vi phạm hành chính thì: "ngời từ đủ 14 đến
dới 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo", "ngời từ đủ 16 tuổi đến d-
ới 18 tuổi vi phạm hành chính thì bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành
chính quy định tại Điều 12", và ngời cha thành niên từ đủ 12 tuổi có thể bị áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính khác. Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính
cũng không có một điều nào quy định cụ thể ngời cha thành niên là ngời ở độ tuổi
nào nhng có thể thấy đối tợng ngời cha thành niên bị áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính là những ngời từ đủ 12 tuổi đến dới 18 tuổi.
Nh vậy, có thể kết luận ngời cha thành niên là ngời từ đủ 12 tuổi đến dới
18 tuổi.
1.1.2. Đặc điểm
Dới góc độ tâm lí học, con ngời phải trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển
khác nhau, mà mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm tâm sinh lí riêng, đặc trng
6
cùng với tác động bên ngoài làm hình thành những những hành vi ứng xử khác
nhau. Giai đoạn cha thành niên là giai đoạn có vị trí đặc biệt quan trọng trong cả
quá trình phát triển và hoàn thiện ấy. Nghiên cứu ngời cha thành niên qua các đặc
điểm về tâm lí, sinh lí sẽ giúp chúng ta lí giải đợc cơ sở khoa học của những quy
định pháp luật nói chung và của Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính nói riêng đối
với đối tợng này. Sau đây là một vài đặc điểm đặc trng về tâm sinh lí của ngời cha
thành niên.
Ngời cha thành niên gồm những ngời ở độ tuổi từ đủ 12 đến dới 18 tuổi. Cần
phải nói rằng, tuổi chỉ có ý nghĩa là yếu tố thời gian trong quá trình phát triển của
con ngời. Với ngời cha thành niên, họ cần có thời gian chuẩn bị về mọi mặt để
chuyển sang một giai đoạn mới: giai đoạn trởng thành (để lớn lên về cơ thể, mở
rộng quan hệ xã hội, tích luỹ tri thức, phơng thức hoạt động ). Tuổi không quy
định trực tiếp sự phát triển nhân cách. Tuổi có thể phù hợp với trình độ phát triển
tâm lí của con ngời, tuổi cũng có thể đi chậm hơn hoặc đi nhanh hơn là còn phụ
thuộc vào điều kiện hoàn cảnh xung quanh. Tuy nhiên ngời cha thành niên sống
trong hoàn cảnh nào cũng có những đặc điểm chung, đặc trng cho lứa tuổi. Đó là
đặc điểm của một giai đoạn mà cách gọi thôi cũng cho thấy tính phức tạp và tầm
quan trọng của nó: "thời kì quá độ" (cha phải là ngời lớn cũng không còn là trẻ
con), "tuổi khủng hoảng" (cả về sinh lí lẫn tâm lí), "tuổi khó bảo" (các em ở độ
tuổi này trở nên bớng bỉnh và khó bảo), "tuổi bất trị"
Thứ nhất, đặc điểm sinh lí
Thời kì này, cơ thể phát triển mạnh mẽ nhng không đồng đều, biểu hiện bên
ngoài là các em lớn lên trông thấy. Tuỳ thuộc vào độ tuổi, ngay trong cùng giai
đoạn mà sự phát triển giữa nam và nữ là khác nhau, nh cùng trong giai đoạn cha
thành niên nhng ở độ tuổi 12-13, các em nữ phát triển hơn các em nam về hình
dáng thì ở độ tuổi 14-15, cơ thể các em nam lại phát triển hơn. Tuy nhiên ở cả
nam và nữ đều có những đặc điểm chung của lứa tuổi.
Sự phát triển của hệ xơng mà chủ yếu là sự phát triển của xơng tay, xơng
chân rất nhanh nhng xơng ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm. Do đó, cơ thể
7
phát triển không cân đối khiến các em trở nên lóng ngóng, vụng về và hay làm đổ
vỡ
Sự phát triển của hệ thống tim mạch không cân đối khiến các em dễ rơi vào
tình trạng rối loạn tạm thời với những biểu hiện nh: mệt mỏi, chóng mặt, nhức
đầu. Những biểu hiện này diễn ra không lâu nhng lại thờng xuyên, làm ảnh hởng
không nhỏ đến đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng nh tâm lý của ngời cha thành
niên.
Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh thờng dẫn đến sự rối loạn của hoạt
động thần kinh làm cho các em dễ xúc động, hay bực tức hay nổi nóng, do đó các
em hay có những phản ứng mạnh mẽ và gay gắt về những ngời xung quanh, về
những việc mà các em cảm thấy không hài lòng.
Hệ thần kinh cha có khả năng chịu đợc những kích thích mạnh và kéo dài,
dẫn đến cảm giác ức chế, uể oải, thờ ơ, lãnh đạm, tản mạn khiến các em đôi khi c
xử không đúng với bản chất của mình, nghiêm trọng hơn là có những hành vi vi
phạm đạo đức xã hội và đặc biệt là vi phạm pháp luật.
Một đặc điểm sinh lí đặc trng nữa của ngời cha thành niên đó là sự phát dục,
đây là dấu hiệu cho thấy rõ ràng nhất sự lớn lên của các em. Điều này làm xuất
hiện ở các em nhiều biểu hiện mới nh nhu cầu giao tiếp với bạn bè, đặc biệt là với
bạn bè khác giới. Các em trởng thành hơn về mặt cơ thể, nhng nhận thức vẫn còn
hạn chế.
Chính những đặc điểm về sinh lí ảnh hởng đến những đặc điểm về tâm lí, từ
đó quyết định đến hành vi của ngời cha thành niên.
Thứ hai, đặc điểm tâm lí
Song song với sự phát triển về sinh lí, ở ngời cha thành niên đã bắt đầu hình
thành sự "tự ý thức" với các câu hỏi: mình nh thế nào? mình đang làm gì? có
những ai quan tâm đến mình? Quá trình này diễn ra dần dần, cùng với diễn biến
tâm lí phức tạp, dễ xúc động, dễ bị kích động, chợt vui, chợt buồn, tình cảm bồng
bột, hăng say, hoạt động thần kinh không cân bằng, quá trình hng phấn mạnh hơn
quá trình ức chế, do đó khiến các em không thể tự kiềm chế nổi bản thân khi gặp
8
tình huống bất ngờ. Điều này sẽ dẫn đến những lỗi không đáng mắc phải, kể cả
việc vi phạm pháp luật.
Do có thể tự ý thức về bản thân, các em cũng có thể nhận thấy sự thay đổi về
sinh lí của mình và đôi khi các em có thái độ, tâm lí khó chịu với chính những
thay đổi đó. Các em biết những việc nào thì đợc phép làm, những việc nào không
nhng vẫn làm theo cách của mình với những lý do rất riêng. Do đó, khi mắc lỗi,
thay vì nhìn nhận thẳng vào vấn đề để sửa chữa khắc phục thì các em lại cố che
dấu, thể hiện ra cử chỉ điệu bộ ở bên ngoài không tự nhiên, tỏ ra mạnh dạn, can
đảm để ngời khác không chú ý đến mình; hay chỉ vì một hành động chế giễu, mỉa
mai về hình thể dáng vẻ đi lại bên ngoài cũng gây cho các em những phản ứng
mạnh mẽ
Các em luôn muốn bộc lộ cá tính, tự khẳng định mình, muốn nhanh chóng đ-
ợc trở thành ngời lớn và cố gắng để đợc đối xử nh ngời lớn, do đó hay phóng đại
năng lực bản thân mình nh ng thực chất kết thúc giai đoạn cha thành niên các em
mới chỉ phát triển khá hoàn thiện về mặt sinh lí, còn quá trình nhận thức vẫn cha
đầy đủ. Nhận thức về xã hội, đạo đức, pháp luật còn hạn chế, đặc biệt là nhận
thức về pháp luật. Đôi khi những nhận thức quan điểm về pháp luật không đợc
hình thành hoặc có nhng bị lệch lạc theo cách hiểu chủ quan của các em.
Mặc dù sống độc lập hơn và muốn tỏ ra mình là ngời lớn nhng các em ở độ
tuổi này vẫn cần có sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ, bởi những khó khăn, rắc
rối về mặt tâm lí, sinh lí là không tránh khỏi. Cha mẹ phải là ngời hiểu rõ điều đó
để quan tâm cho đúng mức, sao cho các em vẫn có thể phát huy đợc tính độc lập
của mình nhng không thể tách rời sự quản lý chặt chẽ cần thiết của cha mẹ.
Khi trở thành đối tợng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thì những đặc
điểm tâm sinh lí trên phải đợc xem xét để pháp luật có những quy định phù hợp,
đảm bảo việc bảo vệ hiệu quả nhất những quyền lợi của đối tợng "đặc biệt" này.
1.2. ảnh hởng của những đặc điểm của ngời cha thành niên
đối với việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính
9
Pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói
riêng có những quy định rất đặc thù với đối tợng là ngời cha thành niên vi phạm
pháp luật.
Tiêu biểu phải kể đến Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, là một đạo
luật chỉ quy định những vấn đề liên quan đến trẻ em, trong đó có cả ngời cha
thành niên, gồm những quy định chung, những quy định về quyền và nghĩa vụ của
trẻ em cũng nh của những đối tợng liên quan đảm bảo mang lại cho trẻ em những
điều tốt đẹp nhất: "Các quyền của trẻ em phải đợc tôn trọng và thực hiện" (khoản
1 Điều 6); "Gia đình, Nhà nớc và xã hội có trách nhiệm bảo vê tính mạng, thân
thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai
nạn cho trẻ em" (khoản 1 Điều 26)
Trong Bộ luật hình sự 1999, chơng X là chơng quy định riêng với ngời cha
thành niên, gồm các quy định về nguyên tắc xử lý đối với ngời cha thành niên
phạm tội: "Việc truy cứu trách nhiệm hình sự ngời cha thành niên phạm tội và
áp dụng các hình phạt đối với họ đợc thực hiện chỉ trong trờng hợp cần thiết và
phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân
thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm" (khoản 2 Điều 69), hoặc "không
xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với ngời cha thành niên phạm tội" (khoản
5 Điều 69); hay quy định về hình phạt tiền: "mức phạt tiền đối với ngời cha thành
niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định"
Trong Bộ luật Lao động, khi quy định về thời giờ làm việc của ngời lao động
cha thành niên thì "Thời giờ làm việc của ngời lao động cha thành niên không đ-
ợc quá bảy giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần" (khoản 1 Điều 122), trong khi đối
với ngời lao động đã thành niên thời gian đó là "không quá 8 giờ trong một ngày
hoặc 48 giờ trong một tuần" (khoản 1 Điều 68), quy định nh vậy để đảm bảo
tránh ảnh hởng xấu đến sự phát triển về thể lực và trí lực của ngời cha thành niên,
tránh tình trạng ngời cha thành niên bị lạm dụng sức lao động.
10
Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Ngời từ đủ sáu tuổi đến cha đủ mời tám tuổi
khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải đợc ngời đại diện theo pháp luật
đồng ý" (khoản 1 Điều 20)
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính cũng có những quy định riêng đối với
ngời cha thành niên vi phạm hành chính, không phải bất kì ngời cha thành niên
nào cũng bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, họ chỉ có thể bị áp
dụng các biện pháp đó khi thoả mãn một số điều kiện nhất định, gồm: thứ nhất,
phải đạt đến một độ tuổi nhất định; thứ hai, có khả năng nhận thức và có khả năng
điều khiển hành vi; thứ ba, họ phải thực hiện hành vi trái pháp luật mà theo quy
định bị áp dụng cỡng chế hành chính. Khi họ bị áp dụng các biện pháp cỡng chế
hành chính thì việc áp dụng cũng có những điểm khác biệt với việc áp dụng các
biện pháp cỡng chế này đối với ngời đã thành niên.
- Phần lớn ngời cha thành niên còn sống phụ thuộc vào gia đình, họ không có
tài sản riêng, quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phải phù hợp với
những đặc điểm đó để đảm bảo tính khả thi khi áp dụng. Khoản 1 Điều 7 Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định ngời từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi vi
phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo, khác với trớc đây quy định là phạt tiền dến
50.000 đồng, ngời từ đủ 16 tuổi đến dới 18 tuổi vi phạm hành chính mà bị áp dụng
hình thức phạt tiền thì mức tiền phạt đối với họ không đợc quá một phần hai mức
phạt đối với ngời thành niên. Biện pháp xử phạt với ngời cha thành niên chỉ mang
tính chất răn đe, giáo dục là chính, ở độ tuổi đủ 14 đến dới 16, việc quy định hình
thức phạt tiền là không cần thiết, bởi những ngời cha thành niên không có khả
năng để chấp hành biện pháp xử phạt này, thờng thì cha mẹ họ là những ngời có
trách nhiệm nộp thay. Điều đó sẽ không có tác dụng nhiều đến nhận thức của họ,
bởi vốn có nhận thức cha đầy đủ và sâu sắc, họ đợc cha mẹ thực hiện thay sẽ
không thể hiểu đợc mục đích chính của việc áp dụng xử phạt vi phạm hành chính
đối với họ là răn đe, giáo dục. Còn ở độ tuổi từ đủ 16 đến dới 18, các em đã có thể
có nhận thức đầy đủ hơn, việc phạt cảnh cáo với các em đôi khi lại cha đủ, cần
phải áp dụng hình thức xử phạt cao hơn là phạt tiền.
11
- Chỉ riêng những đặc điểm tâm sinh lí cha đủ để dẫn đến những hành vi vi
phạm pháp luật, chính những yếu tố bên ngoài từ phía gia đình, bạn bè và xã hội
khi có tác động tiêu cực đến khả năng nhận thức của các em khiến các em thực
hiện những hành vi vi phạm pháp luật. Pháp luật cũng tính đến cả những yếu tố
này khi quy định biện pháp cỡng chế đối với ngời cha thành niên.
Trong mối quan hệ với gia đình mà cụ thể là mối quan hệ với cha mẹ, sự hiểu
biết của cha mẹ về những thay đổi tâm sinh lí của con cha thành niên có ý nghĩa
rất quan trọng. Tuy nhiên, sự hiểu biết này mới chỉ dừng lại ở những thay đổi bên
ngoài, đợc thể hiện rõ nét trong một thời gian dài; còn những thay đổi tâm sinh lí
có tính chất bên trong thì cha mẹ ít quan tâm hơn. Do đó khi ý thức của ngời cha
thành niên bị lệch lạc dẫn đến vi phạm pháp luật, cha mẹ họ thờng cho rằng
nguyên nhân là do chính bản thân chúng gây ra, họ không hề phải chịu trách
nhiệm về điều đó, rất nhiều trong số đó bỏ mặc và không quan tâm đến đời sống
của con ở lứa tuổi này. Khi thiếu vắng tình cảm của cha mẹ, ngời cha thành niên
chỉ còn tìm thấy sự cân bằng, an ủi của những ngời thân khác trong gia đình, họ
hàng và bạn bè. Tuy nhiên điều đó không phải lúc nào cũng có thể mang lại cảm
giác thanh thản, yên ổn thật sự và có thể thay thế tình cảm giữa cha mẹ và con cái
trong gia đình. Khi đó, các em nhanh chóng tìm đến sự giải toả tâm lí bằng những
hành động thể hiện sự nông nổi, bồng bột của ngời cha thành niên. Có thể đa ra
một ví dụ về trờng hợp của Trơng Hữu Thân. Sinh năm 1992 tại Phong Điền (Thừa
Thiên Huế), Thân vốn là một cậu bé ngoan ngoãn sống hiếu thuận cùng gia đình.
Nhng sau đó bố mẹ Thân chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh kiếm sống. Không
còn sự quan tâm, chăm sóc của bố mẹ, Thân dần bê trễ học hành và bớc vào con đ-
ờng ham mê cờ bạc rồi trộm cắp vặt từ khi cha đầy 12 tuổi. Sau đó, lại đợc gửi đến
cho ông bà nội quản lí. Không dạy nổi cháu, mỗi lần đi đâu vắng ông nội lại đào
một cái hố rồi chôn đứng đứa cháu 12 tuổi xuống, khi về lại đào lên. Sự việc kéo dài
cho đến một đêm, thấy ông nội đã ngủ say và biết dới gối của ông có 275.000 đồng
Thân nghĩ đến chuyện lấy cắp, bị ông nội tỉnh dậy, phát hiện, tát mấy cái vào mặt,
Thân lẳng lặng bỏ đi ngủ nhng đến 3 giờ sáng Thân đã dùng búa bổ củi bổ nhiều nhát
vào mặt ông khiến ông chết ngay tại chỗ. Hành vi của Thân là do cố ý nhng ở độ tuổi
12
này Thân cha thể ý thức đợc sự cố ý của mình. Chính hoàn cảnh gia đình (bố mẹ mải
mê kiếm tiền, không quan tâm để ý; ông nội ngợc đãi) là nguyên nhân dẫn đến hành
vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của Thân. Có rất nhiều ngời cha thành niên chịu
tác động tiêu cực từ chính gia đình dới nhiều góc độ khác nhau. Do đó, hành vi của
Thân đã có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng (quy định tại Điều 93 Bộ luật
Hình sự) nhng căn cứ vào đặc điểm nhân thân, Thân không phải chịu trách nhiệm
hình sự, thay vào đó bị áp dụng một trong những biện pháp xử lý vi phạm hành
chính là đa vào trờng giáo dỡng.
Bạn bè và những tác động bên ngoài xã hội cũng là những yếu tố ảnh hởng
không nhỏ đến ngời cha thành niên, họ rất dễ bị bạn bè lôi kéo, kích động, bất kì
điều gì mới lạ diễn ra xung quanh cũng khiến họ thấy tò mò tìm hiểu trong khi
nhận thức đúng đắn cha đợc hình thành một cách vững chắc. Những lúc đó họ
thậm chí không thể nhận thức đợc hành vi của mình là đúng hay sai. Ví dụ, một
cậu bé tên Tứ, sinh năm 1991, quê ở Bình Định, khi chỉ mới vừa 14 tuổi, đã phải
vào trờng giáo dỡng cải tạo 24 tháng về tội hiếp dâm và giết ngời. Chỉ vì muốn
"thử" một hành động nh ngời lớn, Tứ đã hiếp dâm một bé gái nhà hàng xóm mới
chỉ lên 2. Với những trờng hợp đó, việc quy định và áp dụng các biện pháp cỡng
chế không thể nh với ngời thành niên, do vậy có thể hành vi của họ đã có dấu hiệu
của một tội phạm nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì căn cứ vào độ tuổi,
vào các yếu tố nhân thân, ngời cha thành niên cũng không phải chịu trách nhiệm
hình sự mà chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính, cụ thể Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính 2002 quy định: "Ngời từ đủ 12 tuổi đến dới 14 tuổi thực hiện hành vi
có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy
định tại Bộ luật hình sự" là một trong những đối tợng bị áp dụng biện pháp xử lí
hành chính khác là đa vào trờng giáo dỡng (điểm a khoản 2 Điều 24) hoặc chỉ áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn đối với "Ngời từ đủ 12 tuổi đến d-
ới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý
quy định tại Bộ luật hình sự" (điểm a khoản 2 Điều 23) mà không truy cứu trách
nhiệm hình sự với đối tợng này.
13
- Ngời cha thành niên luôn cần đợc giúp đỡ về mọi mặt, ngay cả khi họ vi
phạm pháp luật. Đôi khi họ cũng là ngời bị tổn thơng do thực hiện chính những
hành vi vi phạm của mình, "ngời bán dâm có tính chất thờng xuyên" là một ví dụ.
Với lí do đó, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định biện pháp đa vào
cơ sở chữa bệnh áp dụng với ngời nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên và ngời bán
dâm có tính chất thờng xuyên từ đủ 16 tuổi. Đặc biệt Pháp lệnh còn quy định cơ sở
chữa bệnh phải tổ chức khu vực dành riêng cho ngời dới 18 tuổi, quy định đó là
căn cứ vào đặc điểm riêng của ngời cha thành niên là những ngời cần chăm sóc
đặc biệt hơn. Tại đây họ đợc lao động, đợc học văn hoá, học nghề và chữa bệnh.
- Cũng do những đặc điểm riêng về tâm sinh lí, những hạn chế về nhận thức,
Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính quy định không áp dụng một số biện pháp c-
ỡng chế đối với ngời cha thành niên; khoản 2 Điều 25: "Không đa vào cơ sở
giáo dục ngời cha đủ 18 tuổi", khoản 2 Điều 27: "Không áp dụng quản chế
hành chính đối với ngời dới 18 tuổi" (hiện nay, theo Pháp lệnh sửa đổi một số
điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, biện pháp quản chế hành chính đã bị
bãi bỏ).
Qua phân tích trên có thể thấy những đặc điểm về tâm sinh lí của ngời cha
thành niên có ảnh hởng rất quan trọng đến quy định pháp luật nói chung và pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính nói riêng. Hiện tại và lâu dài, chúng ta cần phải
dựa vào những đặc điểm này để xây dựng và ngày càng hoàn thiện quy định của
pháp luật, đảm bảo đợc mục đích của pháp luật là phòng ngừa, ngăn chặn, giáo
dục những ngời có hành vi vi phạm đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của ngời cha thành niên.
Chơng 2
Thực trạng pháp luật về các biện pháp xử lý hành
chính đối với ngời cha thành niên
2.1. Quá trình hình thành các quy định pháp luật về biện
pháp xử lý hành chính đối với ngời cha thành niên
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét