Năm 1823, Công ty BHNT bệnh viện Massachusettes tại Boston,
tiểu bang Massachusettes đã thiết kế ra quyển sổ tay tính phí. Nhờ quyển sổ
tay con con này mà các Đại lý thời đó có thể đi khắp nơi xa xôi hẻo lánh để
bán BHNT. Quyển sổ tay vẫn còn đợc xem là " bửu bối" của các đại lý ngày
nay.
Năm 1844 đánh dấu một bớc quan trọng trong ngành BHNT, khi
chứng kiến việc khách hàng mua bảo hiểm nhân thọ muốn ngng hợp đồng
giữa chừng những không đợc công ty bảo hiểm nào trả tiền cho họ, ông
Elizur Wright, nhà tính phí ngời Mỹ đã cho răng điều này không công bằng.
Từ đó ông nghĩ ra một công thức toán học tính phí giá trị giải ớc để hoàn lại
phí cho khách hàng một cách hợp lý.
Đối với nhà nớc Mỹ, nền kinh tế chỉ có thể phát triển khi các công
ty bảo hiểm tồn tại. Họ chủ trơng rằng mua BHNT phải là một sự mua bán
lâu dài, năm, mời, mời lăm, hai mơi năm, hay suốt cuộc đời của ngời khách
hàng. Nếu mọi khách hàng đều muốn rút tiền về sớm thì công ty bảo hiểm
không thể hoạt động và tồn tại lâu năm, và tình hình kinh tế nớc Mỹ cũng
không thể phát triển đợc. Do đó, họ chấp nhận khái niệm " giá trị giải ớc" của
ông Wright và cho áp dụng cách tính này. Theo đó, nếu khách hàng ngng
hợp đồng càng sớm thì số tiền nhận lại càng ít.
Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential của Anh đợc thành lập năm
1853 và là công ty đi đầu trong công nghiệp bảo hiểm. Và thực tế cho đến
nay công ty này vẫn đang phát triển lớn mạnh trên rất nhiều nớc trên thế giới.
Ngành BHNT thực sự trở thành một nhu cầu lớn tại các nớc đã
và đang phát triển. ở châu á, Nhật Bản là nớc có công ty bảo hiểm nhân thọ
đầu tiên hoạt động dới hình thức kinh doanh là Công ty Meji. Sau 7 năm độc
quyền ở Nhật Bản, đến năm 1889, hai Công ty bảo hiểm lớn ra đời là Công ty
BHNT Teikoku và Nippon.
Các Công ty BHNT của Anh và Nhật đóng vai trò quan trọng trong
việc phát triển BHNT ở các nớc Châu á khác. Ví dụ ở Triều Tiên, các Công
ty BHNT của Anh hoạt động ỏ hầu hết trên khắp đất nớc, cho đến năm 1905
thì Nhật Bàn giành lại hoàn toàn quyền quản lý BHNT trên đất nớc Triều
Tiên. Công ty BHNT SIM đợc thành lập năm 1929, là Công ty duy nhất do
ngời Triều Tiên quản lý. Đến những năm 60, nền công nghiệp BHNT hiện đại
của Triều Tiên thực sự bắt đầu phát triển.
Tại Singapore, các Công ty BHNT của Anh đóng vai trò chính trong
việc phát triển kinh doanh BHNT, Công ty BHNT trong nớc của Singapore ra
đời năm 1908, công nghiệp BHNT của Singapore thực sự phát triển vào năm
1965.
Nh vậy, BHNT ở trên thế giới ra đời từ rất lâu và nó trở thành một
ngành dịch vụ không thể thiếu đợc trong cuộc sống của mỗi ngời dân.
Mặc dù BHNT ra đời muộn hơn so với nhiều loại hình bảo hiểm
khác nhng nó đã nhanh chóng giữ một vị trí quan trọng trong lĩnh vực bảo
hiểm. Thực tế hoạt động và kết quả triển khai BHNT ở các nớc đã chứng tỏ vị
trí quan trọng của các sản phẩm BHNT trên thị trờng. Hiện nay tham gia
BHNT là một nhu cầu tất yếu của nhân dân các nớc đang phát triển, đặc biết
là ở Châu á. Một số nớc có nền kinh tế phát triển nh Nhật Bản, Đài Loan,
Hồng Kông BHNT giữ một vị trí trọng yếu trong nền kinh tế. Thị phần
BHNT trong một số thị trờng tơng đối lớn, thể hiện ở tỷ lệ doanh thu phí
BHNT so với phí thu của toàn ngành bảo hiểm. Theo thống kê năm 1992 của
tạp chí Signa ( Thuỵ Sỹ), doanh thu phí nghiệp vụ BHNT thế giới là 1466 tỷ
USD, trong đó phí BHNT chiếm 52,4%. Tuy nhiên sự phát triển của BHNT
rất không đồng đều. Nếu nh ở Châu Mỹ - La Tinh, phí BHNT rất thấp, chỉ
chiếm 21,4%, thì ở Châu Âu đạt tỷ lệ cân đối trong khoảng từ 41,8% - 49%.
Tỷ lệ phí BHNT ở Châu Đại Dơng là 52,3% của toàn bộ nghiệp vụ bảo hiểm.
Tốc độ phát triển của nghiệp vụ BHNT trên thế giới không ngừng tăng
vợt hơn so với nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Tỷ lệ phí BHNT năm 1993
đã lên tới 53% toàn bộ nghiệp vụ. Đến năm 1995 thì tổng số phí BHNT đạt
con số kỷ lục là 1236,6 tỷ USD trong tổng số 2143,4 tỷ USD, tơng đơng với
57,7% tổng số phí bảo hiểm gốc.
Cũng theo thống kê của tạp chí Signa ( Swiss Re) năm 1995. ngời
Nhật Bản chi tiêu nhiều nhất về bảo hiểm : 5008 USD/ ngời, trong đó BHNT
chiếm 80,1%, Thuỵ Sỹ theo sau Nhật Bản với 4057 USD/ ngời. Phần lớn các
nớc công nghiệp đạt mức chi bảo hiểm đầu ngời cao, từ 1200- 2400 USD/ ng-
ời. Mức chi bình quân đầu ngời cho BHNT là hệ quả của sự kết hợp giữa mức
sống cao hơn và tỷ trọng lớn hơn của ngành BHNT trong mối tơng quan với
toàn nền kinh tế. Sở dĩ có đợc kết quả nh vậy là do việc sử dụng rộng rãi
BHNT nh là một phơng tiện đầu t tài chính và dự trữ cá nhân.
Bảng 1: Phí bảo hiểm nhân thọ bình quân đầu ngời ở một số nớc Châu á năm
1995.
Tên nớc Phí bảo
hiểm / ng-
ời (USD)
Phí BHNT
/ ngời
(USD)
Phí
BHNT/
phí bảo
hiểm (%)
Phí
BHPNH/
ngời (USD)
Phí
BHPNT/
Phí bảo
hiểm (%)
Nhật Bản 5088,3 4075,8 80,1 1012,5 19,9
Hàn Quốc 1337,6 1042,1 77,9 295,5 22,1
Đài Loan 678,5 459,3 67,7 219,2 32,3
Singapore 1190,8 826,1 69,4 364,7 30,6
Hồng Kông 813,8 495,5 60,9 318,3 39,1
Thái Lan 67,6 32,2 47,6 35,4 52,4
( Nguồn: Tạp chí Signa- SwissRe số 268 năm 1995)
Cho đến năm 1998 thì đã có 5 thị trờng BHNT lớn nhất thế giới là
Nhật, Anh, Mỹ, Pháp và Đức. Theo số liệu thống kê năm 1998 phí BHNT của
5 thị trờng này đợc thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Cơ cấu phí BHNT của 5 thị trờng lớn nhất thế giới năm
1993.
Tên nớc
Tổng doanh
thu phí bảo
Cơ cấu phí bảo hiểm (%) Thị phần thế
giới(%)
Nhân thọ Phi nhân thọ
1. Mỹ 522.468 41,44 41,44 42,55
2. Nhật 320.143 73,86 73,86 22,42
3. Đức 107.403 39,38 39,38 6,67
4. Anh 102.360 65,57 65,57 6,62
5. Pháp 84.303 56,55 56,55 4,58
( Nguồn : Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, tháng 8/ 1996)
Kể từ khi ra đời, BHNT phát triển rất nhanh. Theo số liệu thống kê
năm 2001, doanh thu phí BHNT đã vợt xa doanh thu phí BHPNT, mức tăng
trởng kỷ lục lại diễn ra ở Châu á và Châu Phi. Cụ thể ta có bảng sau:
Bảng 3: Cơ cấu phí BHNT và BHPNT theo khu vực năm 2001.
STT Khu vực Cơ cấu phí bảo hiểm (%)
BHPNT BHNT
1 Châu á 25 75
2 Bắc Mỹ 57 43
3 Châu Âu 50 50
4 Nam Mỹ 80 20
5 Châu Phi 29 71
6 Các khu vực khác 60 40
7 Toàn thế giới 43 57
( Nguồn: Bản tin thị trờng bảo hiểm năm 2001)
Cụ thể nhìn vào bảng trên ta thấy, ở Châu á doanh thu phí BHNT
chiếm 75% trong tổng doanh thu phí, trong khi đó doanh thu phí BHPNT chỉ
chiếm tới 25%. Tại Châu phi doanh thu phí BHNT lên tới 71% trong tổng
doanh thu phí toàn ngành bảo hiểm, còn doanh thu phí BHPNT chỉ chiếm tới
29%. Trên góc độ toàn thế giới nói chung, doanh thu phí BHNT chiếm 57%
trong tổng doanh thu phí toàn ngành bảo hiểm , trong khi đó, doanh thu phí
BHPNT chiếm 43%. Điều này có thể cho chúng ta thấy rõ mặc dù ra đời sau
bảo hiểm phi nhân thọ nhng nó lại có tiềm năng phát triển và có doanh thu
lớn hơn hẳn BHPNT trên toàn thế giới.
Nh vậy, ngày nay lợi nhuận và những lợi ích xã hội mà BHNT
mang lại đã tạo cho nó chỗ đứng vững vàng trong nền kinh tế xã hội. Các
công ty bảo hiểm đã có mặt ở hầu hết các nớc trên thế giới và nhiều sản
phẩm ngày càng đa dạng và hoàn hảo hơn. Kỹ thuật tính toán và các phần
mềm máy tính ứng dụng cũng nh các dịch vụ đi kèm sản phẩm ngày càng
hoàn thiện.
BHNT từng bớc trở thành nhu cầu thiết thân đối với mỗi ngời dân.
Ngời ta đã thống kê đợc ở Nhật Bản và ở Mỹ cứ 10 ngời dân thì có 9 ngời
mua BHNT, ở Singapore cứ 10 ngời dân thì có 5 ngời tham gia BHNT, ở
Indonesia, một nớc có nền kinh tế xã hội gần giống với Việt Nam, cũng có
10% số hợp đồng BHNT.
Bảo hiểm nhân thọ đã xuất hiện ở Việt Nam từ cuối những năm 80, nh-
ng sự kém phát triển của nền kinh tế và sự không ổn định của đồng tiền trong
thời gian đó đã không cho phép triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này. Cụ thể:
Năm 1987, Bảo Việt đã tổ chức nghiên cứu đề tài " Lý thuyết về BHNT
và sự vận dụng thực tế vào Việt Nam" đã đợc Bộ Tài Chính công nhận là đề
tài cấp bộ. Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu phân tích các điều kiện triển
khai BHNT ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế- xã hội cuối thập kỷ 80. Việc
triển khai BHNT ở Việt Nam phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà vào
những năm cuối thập kỷ 80 ở Việt Nam cha có đợc:
- Tỷ lệ lạm phát lúc đó rất cao và cha ổn định.
- Thu nhập của nhân dân thời gian đó rất thấp. Hơn thế nữa, tỷ lệ lạm
phát cao nên thu nhập của đa số nhân dân chỉ đủ để chi tiêu cho những nhu
cầu tối thiểu thờng ngày, phần giành ra để tiết kiệm rất ít.
- Phí bảo hiểm thu đợc vẫn cha có điều kiện đầu t phát triển. Công ty
bảo hỉêm lúc đó cha đợc phép sử dụng phí bảo hiểm đi đầu t, môi trờng đầu t
cha phát triển.
- Cha có những quy định mang tính chất pháp lý để điều chỉnh mối
quan hệ giữa Công ty bảo hiểm và khả năng thanh toán của các công ty này.
Với những phân tích trên, việc vận dụng đề tài này chỉ dừng lại ở mức
độ triển khai bảo hiểm sinh mạng cá nhân có thời hạn 1 năm( bắt đầu triển
khai từ tháng 2/ 1990). So với loại hình bảo hiểm con ngời trớc đây thì phạm
vi bảo hiểm đã đợc mở rộng ( chết do mọi nguyên nhân). Tuy nhiên, thực tế
triển khai bảo hiểm sinh mạng cá nhân cho thấy:
- Việc lo xa cho gia đình khi không may ngời chủ gia đình bị mất đi,
mà chỉ tính đến trong vòng một năm là không hấp dẫn. Tâm lý ngời tham gia
loại hình bảo hiểm này không thoải mái. Do đó, loại hình bảo hiểm này chỉ
đáp ứng đợc nhu cầu tham gia của những ngời già.
- Mọi ngời đều thắc mắc sau 5, 10 năm sau tham gia bảo hiểm mà
không có rủi ro nào thì có nhận lại đợc gì không?
Đến thời kỳ đổi mới, nền kinh tế đã có những bớc phát triển đáng kể,
tiền tệ ổn định, tỷ lệ lạm phát đã đợc kiểm soát, đời sống nhân dân càng đợc
nâng cao, đã tạo điều kiện thuận lợi cho bảo hiểm nhân thọ hình thành và
phát triển ở Việt Nam.
Với thực tế trên, cùng với việc đánh giá các điều kiện kinh tế - xã hội
Việt Nam trong những năm đầu thập kỷ 90, Bảo Việt đã bắt đầu tiến hành
nghiên cứu triển khai BHNT vào cuối năm 1993.
Ngày 20/3/1996, Bộ Tài Chính đã ký quyết định cho phép Bảo Việt triển
khai hai loại hình BHNT đầu tiên ở Việt Nam là BHNT có thời hạn 5, 10 năm
và Bảo Hiểm trẻ em.
Ngày 22/6/1996, Bộ Tài Chính đã ký Quyết định số 568/QĐ/TCCB cho
phép thành lập công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt. Sự kiện đó đã đánh dấu
một bớc ngoặt mới của ngành BHNT Việt Nam.
Tháng 8/1996 những đơn bảo hiểm nhân thọ đầu tiên đã suất hiện
trong nhân dân, bớc đầu còn bỡ ngỡ nhng nhờ sự hoạt động tích cực của
mạng lới đại lý và nhờ sự đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phơng
tiện thông tin đại chúng, sự hiểu biết của nhân dân về bảo hiểm nhân thọ từng
bớc đợc nâng cao. Bên cạnh đó nhờ sự nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà n-
ớc, môi trờng pháp lý thông thoáng cũng dần đợc hình thành, tạo điều kiện
thu hút các nhà đầu t nớc ngoài vào Việt Nam.
Trớc đây những năm 1996 đến 1999 chỉ có một mình công ty Bảo Việt
trên thị trờng bảo hiểm Việt Nam, nhng đến nay trên thị trờng bảo hiểm Việt
Nam đã có rất nhiều công ty kinh doanh BHNT. Tính đến thời điểm này, thị
trờng BHNT Việt Nam đã có tất cả là 8 công ty BHNT đang hoạt động trong
đó chỉ có một doanh nghiệp Nhà nớc, một doanh nghiệp t nhân, còn lại là
những doanh nghiệp có 100% vốn đầu t nớc ngoài, cụ thể qua bảng sau:
STT Tên doanh nghiệp Năm thành lập
tại Việt Nam
Xuất xứ Hình thức sở hữu Nguồn vốn điều
lệ
1 BHNT Việt Nam 1996 Việt Nam Nhà nớc 589 Tỷ VN đồng
2 Prudential 1999 Anh 100 % vốn nớc ngoài 65 Triệu USD
3 AIA 2000 Mỹ 100% vốn nớc ngoài 25 Triệu USD
4 Bảo Minh CMG 1999 Việt- úc Liên doanh 10 Triệu USD
5 Manulife 1999 Đức 100% vốn nớc ngoài 10 Triệu USD
6 ACE 2005 Mỹ 100% vốn nớc ngoài
7 Prévoice 2005 Pháp 100% vốn nớc ngoài 10 Triệu USD
8 BHNT Hàn Quốc 2006 Hàn Quốc 100% vốn nớc ngoài
Ngày nay với xu hớng hội nhập, thị trờng bảo hiểm Việt Nam trở nên
hấp dẫn hơn với nhiều các công ty nớc ngoài, những công ty đã có nhiều kinh
nghiệm hoạt động ở nớc ngoài, kèm theo cơ chế tài chính, thù lao linh hoạt,
thị trờng BHNT Việt Nam thực sự bớc vào một giai đoạn mới- giai đoạn sôi
động, cạnh tranh toàn diện và phát triển với tốc độ cao. Sự cạnh tranh thể
hiện trên tất cả các mặt nh thu hút khách hàng, các sản phẩm đổi mới ngày
càng đáp ứng thiết thực hơn với nhu cầu khách hàng, dịch vụ khách hàng, địa
bàn hoạt động, thu hút đại lý, quảng cáo, khuyến mãi Và thực chất kinh
doanh BHNT là một ngành kinh doanh mang có tơng lai phát triển lớn mạnh
thể hiện ở doanh thu của BHNT qua bảng sau qua các năm:
Bảng 4: Doanh thu phí BHNT toàn thị trờng qua các năm ( tỷ đồng)
Năm 199
6
199
7
199
8
199
9
200
0
200
1
200
2
200
3
200
4
2005
Doan
h thu (
tỷ
đồng)
0,95 17,5 203 492 129
2
278
6
461
5
644
6
780
0
8012,8
Trong xu hớng hội nhập toàn cầu hiện nay, thị trờng bảo hiểm Việt
Nam nói chung, thị trờng BHNT nói riêng sẽ có nhiều cơ hội phát triển hơn
nữa, mạng lới kinh doanh sẽ phủ kín toàn quốc, lực lợng đại lý, cán bộ ngày
càng đông đảo, mô hình tổ chức và quản lý các quy trình nghiệp vụ ngày một
hoàn thiện, chất lợng khai thác bảo hiểm từng bớc đợc nâng cao. Bên cạnh đó
cũng sẽ phải đối mặt với những diễn biến phức tạp ảnh hởng đến hoạt động
kinh doanh bảo hiểm. Song thị trờng BHNT Việt Nam là một thị trờng còn
nhiều tiềm năng, hứa hẹn nhiều bớc phát triển mới.
2. Vai trò của BHNT.
BHNT có vai trò rất lớn, BHNT không chỉ thể hiện trong từng gia đình
và đối với từng cá nhân trong việc góp phần ổn định cuộc sống, giảm bớt khó
khăn về tài chính khi gặp rủi ro, mà còn thể hiện rõ trên phạm vi toàn xã hội.
Trên phạm vi toàn xã hội, BHNT góp phần thu hút vốn đầu t nớc ngoài, huy
động vốn trong nớc từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi trong dân c. Nguồn
vốn này không chỉ có tác dụng đầu t dài hạn, mà còn góp phần thực hành tiết
kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động góp
phần hỗ trợ ngân sách nhà nớc giải quyết đợc một số khó khăn về kinh phí
đảm bảo xã hội và đầu t phát triển. Cụ thể :
2.1. BHNT góp phần ổn định cuộc sống cho các cá nhân, gia đình và là
chỗ dựa tình thần vững chắc cho ngời tham gia bảo hiểm.
Trong cuộc sống, con ngời dù đã có những biện pháp đề phòng hạn
chế nhng rủi ro vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Hậu quả của rủi ro thật khôn
lờng, nó không những ảnh hởng đến sức khoẻ, sinh mạng của con ngời mà
còn ảnh hởng đến tình hình tài chính của mỗi cá nhân, mỗi gia đình. Nhiều
cá nhân, gia đình trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong
gia đình là trụ cột bị chết hoặc bị thơng tật toàn bộ vĩnh viễn. Khi đó gánh
nặng đè lên gia đình ngoài những chi phí mai táng, chôn cất, chi phí nằm
viện, thuốc men, chi phí phẫu thuật mà những khoản thu thờng xuyên cũng bị
mất đi. Khó khăn hơn là một loạt các nghĩa vụ và trách nhiệm mà ngời chết
cha kịp hoàn thành nh: phụng dỡng cha mẹ, nuôi dạy con cái ăn học, trả
nợ Dù rằng hệ thống bảo trợ xã hội và các tổ chức xã hội có thể trợ cấp khó
khăn, nhng cũng chỉ mang tính tạm thời trớc mắt, cha đảm bảo lâu dài về mặt
tài chính. Tham gia BHNT sẽ phần nào giải quyết đợc những khó khăn đó.
Qua các sản phẩm của mình thể hiện việc hỗ trợ nh: khắc phục hậu quả rủi
ro, hỗ trợ tài chính khi không còn khả năng lao động, cơ chế bù đắp tài chính
có thể khẳng định rằng BHNT đã, đang và sẽ góp phần tích cực giảm nhẹ
những khó khăn cho cá nhân, gia đình, giảm nhẹ các khoản trợ cấp của Nhà
nớc, của xã hội đối với các cá nhân gặp khó khăn, ngoài ra còn thực hiện xã
hội hoá các đảm bảo xã hội.
Nh vậy, tham gia BHNT là việc ngời đợc bảo hiểm đã chuyển phần
rủi ro của mình sang công ty bảo hiểm, đã giải toả đợc nỗi lo lắng về những
thiệt hại xảy ra đối với mình và yên tâm công tác.
2.2. BHNT góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh cho
các doanh nghiệp, tạo lập mối quan hệ gần gũi, gắn bó ngời lao động với
ngời sử dụng lao động.
Trong sản xuất kinh doanh nếu nh doanh nghiệp bị mất đi những ngời
chủ chốt, những ngời mang lại cho doanh nghiệp những lợi nhuận, những kết
quả kinh doanh thì doanh nghiệp đó có thể rơi vào tình trạng khó khăn, và
không đạt đợc lợi nhuận nh mong muốn. Ngày nay, tuỳ theo đặc điểm ngành
nghề kinh doanh mà chủ doanh nghiệp thờng mua bảo hiểm sinh mạng, bảo
hiểm tập thể cho ngời làm công, đặc biệt là những ngời chủ chốt trong
doanh nghiệp nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống và tạo ra sự lôi cuốn, gắn bó
ngay cả trong lúc doanh nghiệp gặp khó khăn, tránh cho doanh nghiệp sự bất
ổn định về tài chính, bên cạnh đó góp phần quan trọng là giúp doanh nghiệp
ổn định sản xuất, tránh đợc sự thua thiệt về tài chính và những tai nạn rủi ro
gây nên mà vẫn có chi phí bù đắp.
2.3. BHNT góp phần thu hút vốn đầu t nớc ngoài, tạo kênh huy động và
cung cấp vốn đầu t lớn cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế- xã hội phát
triển.
Tại các nớc phát triển trên thế giới, thời gian trớc đây khi BHNT bắt
đầu hình thành thì phí bảo hiểm thu đợc cũng cha thực sự dùng cho hoạt
động đầu t, số tiền này còn nằm trong các ngân hàng rất lớn và nh thế lợi
nhuận thu từ việc đầu t là cha cao, cụ thể ta có thể thấy ở Mỹ trong những
năm 1970 số vốn các công ty BHNT cung cấp chỉ là 9 tỷ USD, trong khi đó
cung cấp vốn qua hệ thống ngân hàng để đầu t là 37 tỷ USD. Nhng chỉ đến
năm 2001 số vốn do các công ty BHNT đầu t là 100,2 tỷ USD, trong khi hệ
thống ngân hàng trong nớc chỉ có 95,7 tỷ USD. Còn các nớc ở khu vực Châu
á từ khi mở cửa thị trờng bảo hiểm nhân thọ cho các công ty nớc ngoài đầu t
vào thị trờng trong nớc thì vốn của các công ty đã lớn mạnh hơn rất nhiều.
Tại Việt Nam nguồn vốn đầu t mà các công ty BHNT mang lại ngày
càng tăng lên điều này thể hiện rõ qua bảng 5 sau đây:
Bảng 5: Quỹ đầu t của các công ty BHNT ở Việt Nam cung cấp cho nền
kinh tế.
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Quỹ đầu t( tỷ đồng) 0,7 15 178 582 1654 4000
( Nguồn: Tạp chí bảo hiểm số 6/ 2002)
( Ghi chú: quỹ đầu t ớc tính vào cuối năm, tơng ứng với quỹ dự phòng
nghiệp vụ, không tính nguồn vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu)
Nhìn vào bảng trên ta thấy rõ quỹ đầu t của các công ty BHNT vào nền
kinh tế ngày càng tăng một cách nhanh chóng. Điều này cũng góp phần to
lớn trong việc phát triển nền kinh tế - xã hội của nớc ta vì đây là một khoản
tiền hoàn toàn không nhỏ, thúc đẩy các hoạt động kinh doanh phát triển thu
đợc lợi nhuận lớn hơn từ các khoản đầu t này. Với chức năng gom nhặt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét