Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

23 Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm






*) Ban giám đốc gồm: một giám đốc và một phó giám đốc:
- Giám đốc: là ngời đứng đầu, phụ trách điều hành chung cho toàn bộ sản
xuất kinh doanh của xí nghiệp, từ việc huy dộng vốn, đảm bảo cho sản xuất
kinh doanh có lãi, ổn định việc làm cho công nhân viên trong xí nghiệp cho đến
việc phân phối thu nhập và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nớc. Giám đốc còn
có trách nhiệm báo cáo đầy đủ, kịp thời lên công ty kết quả kinh doanh của xí
nghiệp.
*) Phó giám đốc kinh doanh: chịu trách nhiệm trong công tác lập kế hoạch
kinh doanh, các khâu sản xuất, quy trình kỹ thuật, giao thiệp với khách hành,
mở rộng thị trờng.
- Phòng tổ chức kinh doanh: có nhiệm vụ tham mu cho ban giám đóc
về các chính sách, chế độ tài chính. Quản lý thu chi tổ chức theo các
quy định tổ chức kế toán liên hành phản ánh trung thực, kịp thời
tình hình tổ chức của xí nghiệp, tổ chức giám sát phân tích các hoạt
động kinh tế từ đó giúp giám đốc nắm bắt đợc tình hình cụ thể của xí
nghiệp, tổ chức hạch toán kế toán, phản ánh các nhiệm vụ kinh tế phát
sinh đảm bảo cung cấp đầy đủ các nhu cầu về vốn cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh.
- Phòng kế hoạch: xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh sao cho đạt
hiệu quả cao nhất.
- Phòng kỹ thuật: thực hiệnkhai thác các mặt hàng cho các phân xởng
theo đúng quy trình công nghệ.
- Phòng kinh doanh: nghiên cứu tiêu thụ sản phẩm mở rồng thị trờng.
- Phòng tổ chức, hành chính: có nhiệm vụ giúp giám đốc thực hiện
khâu biên chế, sắp xếp nhân sự cho phân xởng sản xuất, giải quyết
các mặt hành chính nội vụ của xí nghiệp.
III) Chức năng, nhiệm vụ của sản xuất và kinh doanh vật t phụ tùng:
- Sản xuất phụ tùng ô tô: bộ lọc dầu, nhíp các loại, lò xo supac.
- Sản xuất long đen vênh và các thiết bị, phơng tiện giao thông vận tải.
5
GIáM ĐốC
Phó giám đốc kd
Phòng
kĩ tthuật
Phòng
KD
Phòng kế
hoạch
Phòng tổ
chức HC
Phòng
TC - KT
- Sản xuất dao cắt nghiền đá.
- Kinh doanh vật t, thiết bị, phụ tùng ô tô, máy kéo.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu vật t thiết bị, phơng tiện giao thông vận
tải
III) Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất ở xí nghiệp:
Quy trình sản xuất ở phân xởng nhíp là quy trình sản xuất liên tục qua
nhiều công đoạn chế tạo và sản xuất, đây là căn cứ quan trọng để xác định đốu
tợng tập hợp chi phí và tình giá thành. Đây sà phân xởng duy nhất sản xuất hoàn
chỉnh một loại sản phẩm. Xởng gồm đầy đủ các công đoạn chế tạo nh sau:
Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất xởng nhíp:
1. Kiểm nhập thép: kiểm tra chiều dài, bề dầy, bản rộng
theo kế hoạch.
2. Cắt phôi theo kích thớc: cắt theo cụ thể từng loại nhíp
mà chọn phôi theo bề dày, bản rộng khác nhau.
3. Cuốn đầu: tuỳ từng loại nhíp mà cuốn đầu khác nhau
theo bản vẽ kỹ thuật.
4. Khoan, đột giữa: có loại nhíp khoan giữa, khoan lịch
hoặcđột lỗ giữa.
5. ép đuôi: có loại nhíp cần ép đuôi, có loại nhíp không
cần.
6. Tôi nhíp: tất cả nhíp cho vào lò điện950C nung đỏ
mềm ép vào ga đình hình, cho vào bể dầu làm mát.
7. Ram nhíp: làm mát song cho vào lò điện 540C ram
giữ nhiệt trong hai giờ để đảm bảo sự đàn hồi tốt.
8. Làm sạch nhíp: loại bỏ rỉ sắt, bụi sắt.
9. Sơn nhíp: Sơn lên mặt nhíp ( hai mặt ) đều bóng đẹp.
6
Kiểm nhập
thép
Cắt phôi
theo kích
thớc
Cuốn đầu
Khoan, đột
Khoan, đột
Tôi nhíp
Ram nhíp
Làm sạch
nhíp
Sơn nhíp
10. Kiểm nhập kho: thành phần nhíp đảm bảo chất lợng
và tiêu chuẩn kĩ thuật.
V)Nhiệm vụ khó khăn thuận lợi của xí nghiệp trong những năm qua
1.Mục tiêu: Củng cố và hoàn thiệnbộ máy tổ chức, tăng cờng công tác quản lý,
hạch toán, đợi ổn định nền tài chính chung của toàn công ty, đảm bảo việc làm,
đời sống cho ngời lao động, thực hiện tăng trởng kinh tế, công bằng xã hội.
2.Nhiệm vụ: Xí nghiệp thực hiện nhiệm vụ theo sự uỷ quyền của giám đôc công
ty giao cho nên xí nghiệp phải thực hiện tốt nghĩa vụ đối với công ty phấn đấu
giảm tai nạn lao động đến mức thấp nhất. Đợc công ty tiếp tục đầu t cho trang
thiết bị sản xuất; bảo hộ lao động. Khuyến khích cán bộ công nhân viên trong
toàn xí nghiệp có trình độ tay nghề sản xuất cao.
3.Khó khăn và thuận lợi:
a)Thuận lợi: Ban đầu xí nghiệp chỉ là một phân xởng sản xuất nhỏ, sản xuất
nhíp ô tô phục vụ cho nhu cầu thị trờng với qui mô sản xuất nhỏ, nay sản phẩm
của xí nghiệp sản xuất ra đáp ứng nhu cầu và sự đồng tình ủng hộ của khách
hàng trên thị trờng Hà Nội, Hà Đông, Huế, Bình Định, Quản Trị với số lợng
khá lớn và cũng đạt đợc lợi nhuận cao.
Có đợc nh vậy là do sự sáng suốt, chịu khó tìm tòi, học hỏi và tìm hiểu nhu
cầu thị trờng của ban lãnh đạo, các phòng ban trong xí nghiệp.
Mặt khác trong hoàn cảnh khó khăn xí nghiệp đã quan tâm đào tạo đợc một
số cán bộ, công nhân lành nghề ít nhiều họ cũng đã đủ điều kiện kịp tham gia
thi công các qui trình sản xuất yêu cầu kĩ thuật cao.
b) Khó khăn:
- Do phân xởng sản xuất của xí nghiệp là đi thuê nên cũng gặp rất
nhiều khó khăn.
- Một số đội sản xuất thiếu chủ động trong công tác quản lý điều hành
trong quá trình trực hiện nhiệm vụ từ đó nảy sinh t tởng ỷ lại vào xí
nghiệp nh vậy khó có thể đáp ứng đợc việc sản xuất kinh doanh trong
cơ chế thị trờng sôi động và khắc nghiệt hiện nay.
- Quy trình sản xuất cha cao vẫn còn lạc hậu làm tốn công sức lao động
của công nhân.
- Máy móc của xí nghiệp tất cũ cha đợc hiện đại.
VI) Kết quả sản xuất kinh doanh đạt đ ợc trong năm 2001
Xí nghiệp sản xuất và kinh doanh vật t phụ tùng có tổng giá trị tài sản
đến cuối năm 2001 là: 2.735.444.914đ. Nguồn hình thành tổng số bao gồm:
- Giá vốn hàng bán: 2.401.937.017đ
- Lợi nhận gộp: 333.512.897đ
- Chi phí bán hàng: 34.170.163đ
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: 193.280.419đ
- Thu nhập hoạt động tài chính: 45.841đ
- Chi phí hoạt động tài chính : 137.024.197đ
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính: (136.978.356)đ
- Tổng lợi nhuận trớc thuế: 56.301.063đ
7
Kiểm nhập
kho
VII) Trình tự ghi sổ và hạch toán của xí nghiệp sản xuất và kinh doanh vật
t phụ tùng
1)Tình hình chung về công tác kế toán ở xí nghiệp :
Hình thức tổ chức kế toán xuất phát từ chức năng nhiệm vụ hình thức tổn
chức hạch toán kế toán tập trung. Tất cả mọi hoạt động tổ chức hạch toán chi
phí sản xuất đợc thực hiện tại cuối quí ở xí nghiệp, sau đó kế toán xí nghiệp báo
cáo lên phòng tổ chức kế toán công ty từ đó kế toán công ty kiểm tra từ các
chứng từ gốc ban đầu đến hết quá trình hạch toán. Tất cả chứng từ lu tại xí
nghiệp, các báo cáo lu lại công ty, công ty hạch toán lợi nhuận.
2) Tổ chức công tác kế toán của xí nghiệp:
*) Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ ban đầu xí nghiệp sản xuất và
kinh doanh vật t phụ tùng thuộc đối tợng nộp thuế giao thông vận tải theo ph-
ơng pháp khâú trừ để tiến hành tập hợp chi phí sản xuất và tính tổng sản phẩm,
kế toán sử dụng các chứng từ sau:
- Phiếu xuất kho
- Phiếu tính lơng sản phẩm, bảng thanh toán tiền lơng.
- Hoá đơn giao thông vận tải, phiếu chi.
- Các chứng từ khác có liên quan
*) Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản: Để tập hợp, ghi chép các số liệu
phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp thì công ty đã
đăng ký sử dụng hầu hết các tài khoản trong hệ thống tài khoản kế toán
thống nhất của bộ tài chính ban hành theo quyết định 1141QĐ/TC/CĐKT
ngày 01/11/1995.
3)Hình thức tổ chức bộ máy kế toán
Phòng kinh tế của xí nghiệp với chức năng, nhiệm vụ và cung cấp các
thông tin kinh tế cho ban lãnh đạo xí nghiệp, định hớng trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Và để phù hợp với công tác quản lý tài chính của xí nghiệp, hình
thức kế toán và hệ thống sổ kế toán vì là đơn vị phụ thuộc, hạch toán kinh tế
phụ thuộc nên xí nghiệp chỉ có hai nhân viên kế toán.
3.1. Kế toán thống kê: theo dõi tất cả các công đoạn sx, cuối tháng thông báo
chi tiết số lợng nguyên vật liệu chính , nguyên vật liệu phụ xuất dùng trong quá
trình sản xuất, sản lợng sản phẩm hoàn thành nhập kho, bán thành phẩm dở
dang cuối tháng và đánh giá mức độ dở dang.
3.2. Kế toán hạch toán: căn cứ vào số liệu mà kế toán thống kê đã tập hợp và
kết hợp với các chứng từ thu chi để tập hợp chi phí và tính giá thành
.
Sơ đồ bộ máy kế toán nh sau:

8
Kế toán trởng công ty
4)Tổ chức vận dụng hình thức kế toán
Để đáp ứng nhu cầu công tác quản lý kinh tế tổ chức phù hợp với điều
kiện kinh doanh của xí nghiệp áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ bao
gồm:
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ: là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian. Sổ này vừa
dùng để đăng ký các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, quản lý chứng từ ghi
sổ, vừa để kiểm tra, đối chiếu số kiện với bảng cân đối sổ phát sinh.
- Sổ cái ( các TK ): là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh theo thống kê kế toán đợc quy định trong chế độ
thống kê kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp. Số liệu trên sổ cái đ-
ợc dùng để kiểm tra, đối chiếu với số liệu ghi trên sổ Đăng ký chứng
từ ghi sổ, các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết, dùng để lập các báo cáo tài
chính.
- Sổ, thẻ kế toán chi tiết ( các thống kê ): là dùng để phản ánh chi tiết
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo từng đối tợng kế toán riêng biệt
mà trên cơ sở kế toán tổng hợp cha phản ánh đợc. Số liệu trên sổ kế
toán chi tiết cung cấp chỉ tiêu chi tiết về tình hình tài sản, vật t, tiền
vốn, tình hình hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và làm căn cứ để lập báo cáo tài chính. Đặc trng cơ bản vủa
hình thức kế toán chứng từ ghi sổ: căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán
tổng hợp là chứng từ ghi sổ. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp là bao gồm:
+ Ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
+ Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái.
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ gốc hoặc
bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại, có cùng nội dung kinh tế.
*) Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ đợc thể hiện qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ


9
Kế toán thống
kê ở xí nghiệp
Kế toán hạch toán
(KTZ) ở xí
nghiệp sản
xuất và kinh
Chứng từ gốc
Báo cáo quỹ
hàng ngày
Bảng kê chứng
từ gốc
Sổ (thẻ) kế
toán chi tiết
Chứng từ ghi sổ
Sổ đăng ký
chứng từ ghi
sổ
Sổ cáiChứng từ ghi sổ
Bảng tổng hợp
số liệu chi tiết
phát sinh
Báo cáo tài
chính
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
Phần II:
Những vấn đề lý luận về hạch toán chi phí sản xuất
và tính tổng sản phẩm.
I) Đặc điểm của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và kinh doanh
vật t phụ tùng:
1)Chi phí sản xuất và công tác quản lý chi phí sản xuất ở
*) Đặc điểm chi phí sản xuất ở xí nghiệp:
10
Do tính đặc thù của xí nghiệp là sản xuất các loại nhíp ô tô nên chi phí
cấu thành chủ yếu là nguyên vật liệu chính định mức chi phí cho một đơn vị sản
phẩm là 60% chi phí nguyên vầt liệu trực tiếp 13%, chi phí nhân công trực tiếp
27% chi phí sản xuất chung.
Xí nghiệp đã không ngừng cải tiến quy trình cộng nghệ, mẫu mã sản
phẩm để tăng giá trị sử dụng của thiết bị, giảm chi phí một cách hợp lí để hạ
giá thành sản phẩm. Nguyên vật liệu chính để cấu tạo nên thực thể sản phẩm là
sắt thép các loại 80 ì 10, 90 ì 10
Nguyên vật liệu phụ để hoàn thiện sản phẩm là sơn, bu lông, ốc vít, than
đầu bọc nhíp tai nhíp, đinh tán hầu hết các loại nguyên vật loệu chính đều do
công ty TRADEVICO cung cấp cho xí nghiệp sản xuất và kinh doanh vật t phụ
tùng phục vụ quá trình sản xuất sản phẩm.
Do đặc điểm trên, mỗi sản phẩm của xí nghiệp khi hoàn thành có khối l-
ợng tơng đối lớn và cũng tơng đối lớn cả về giá trị.
*) Công tác quản lý chi phí sản xuất ở xí nghiệp:
trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp luôn quan tâm đến các chi phí bỏ
ra, luôn tìm biện pháp để hạ thấp chi phí nhằm thu lợi nhuận tối đa. Do đó việc
tổ chức công tác quản lý chi phí sản xuất đợc đăt lên hàng đầu trong quá trình
sản xuất kinh doanh và chế tạo sản phẩm.
Từ mục đích trên, lãnh đạo xí nghiệp sản xuất và kinh donh vật t phụ
tùng đã có những biện pháp đặt ta để tiết kiệm chi phí đầu vào xây dựng định
mức chi phí cho phù hợp với thực tế chi phí sản phẩm tại xí nghiệp. Xây dựng
mức tiêu hao nguyên vật liệu, quản lý chặt chẽ công tác xuất nhập các nguyên
vật liệu, các chi phí v/c phuc vụ cho quá trình sản xuất của phân xởng nhíp làm
sao cho chi phí là thấp nhất, giá thành thực tế nguyên vật liệu mua vào đợc ổn
định và giảm dần.
2) Đối t ợng kế toàn tập hợp chi phí sản xuất ở xí nghiệp :
Một trong những điều kiện quan trọng để tổ chức hạch toán chính xác chi phí
sản phẩm là việc xác định đúng đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong
mỗi doanh nghiệp sản xuất. Xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là khâu
đầu trong toàn bộ công tác hạch toán quá trình sản xuất đó là việc xác định nội
dung chi phí và các phạm vi giới hạn cần tập hợp chi phí đó về cơ bản, để xác
định đợc đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất cần căn cứ vào đặc điểm quy
trình công nghệ sản xuất giản đơn hay phức tạp, liên tục loại hình sản xuất đơn
chiếc hay đồng loạ, về đặc điểm tổ chức sản xuất mục đích, công dụng của chi
phí và yêu cầu, trình độ quản lý của doanh nghiệp có thể đa ra các phơng pháp
tập hợp chi phí sản xuất khác nhau phù hợp với đối tợng chi phí sản xuất
Đối với xí nghiệp sản xuất và kinh doanh vật t phụ tùng thì có qui trình công
nghệ sản xuất giản đơn, chu kỳ sản xuất ngắn nên đối tợng hay giới hạn tập hợp
chi phí là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong toàn bộ quy trình sản xuất ra
sản phẩm hoàn thành nhập kho với số lợng bán thành phẩm không nhiều khi kết
thúc chu kì sản xuất vào cuối tháng.
II) Bản chất và nội dung kinh tế của hạch toán chi phí và tính giá thành:
1) Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
1.1. Khái niệm và bản chất chi phí sản xuất:
11
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống
và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản
xuất trong một thời kỳ nhất định ( tháng năm, quý ).
Nói cách khác, chí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà
doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một thơì kỳ để thực hiện quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí sản xuất của một doanh nghiệp là quá
trình tạo ra các sản phẩm theo yêu cầu của thị trờng đó chính là quá trình mà
doanh nghiệp kết hợp sự hài hoà giữa ba yếu tố cơ bản của một quá trình sản
xuất t liệu lao động, đối tợng lao động và lao động sống. Hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp là quá trình lao động sử dụng t liệu lao động tác động vào
đối tợng lao động sản xuất ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu trong xã hội. Sự tăng
gia của các yếu tố sản xuất vào quá trình sản xuất có sự khác nhau và nó hình
thành nên các khoản chi phí khác tơng ứng. Các khoản chi phí này cấu thành
nên giá trị sản phẩm, lao vụ
Giá trị này bao gồm ba bộ phận:
Giá trị sản phẩm, lao vụ = C + V + M
Trong đó:
C: là toàn bộ giá trị t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản
phẩm nh: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu gọi là chi
phí lao động vật hoá.
V: là toàn bộ chi phí về tiền lơng. Tiền công trả cho ngời lao động tham
gia vào quá trình sản xuất gọi là chi phí lao động sống.
M: là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình sản xuất sản
phẩm hay còn gọi là giá trị thặng d.
Nh vậy, ở góc độ doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm, dịch vụ thì doanh
nghiệp phải bỏ ta hai bộ phận chi phí đó là C và V. Và trong điều kiện còn tồn
tại quan hệ hàng hoá tiền tệ thì các chi phí này đợc thể hiện dới hình thái tiền tệ.
Sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo nên giá trị sản phẩm là tất
yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời, chi phí
sản xuất phát sinh có tính chất thờng xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất.
Chi phí của doanh nghiệp đợc thể hiện qua các khoản chi và đợc quy ra bằng
tiền cho hoạt động của doanh nghiệp . Nó đợc coi là những khoản chi phí có
mục đích, có chủ động. Chi phí của doanh nghiệp vận động qua ba giai đoạn
của quá trình sản xuất kinh doanh: Cung cấp - sản xuất tiêu dùng. Nh vậy,
chi phí sản xuất năm trong quá trình sản xuất. Ngoài những chi phí sản xuất còn
những chi phí không mang tính chất sản xuất, là những chi phí nằm trong hai
giai đoạn còn lại của quá trình sản xuất kinh doanh . Vì vậy, khi nghiên cứu chi
phí sản xuất thì cần phải phân biệt rõ giữa chi phí sản xuất và chi tiêu.
Chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho cả ba quá trình:
Cung cấp sản xuất và tiêu thụ. Còn chi phí sản xuất trong kỳ của doanh
nghiệp bao gồm toàn bộ phần tài sản hao mòn hay tiêu dùng hết cho quá trình
sản xuất trong kỳ Chỉ có những khoản chi phí sản xuất bỏ ra để tiến hành hoạt
động sản xuất mới đợc gọi là chi phí sản xuất còn chỉ tiêu chỉ là sự giảm đi đơn
thuần của các loại tài sản, vật t, tiền vốn không kể nó dùng vào việc gì. Nói
chung, chi tiêu phạm vi rộng hơn chi phí, những chi phí là cơ sở của chi tiêu,
không có chi tiêu thì không có chi phí. Chúng có sự khác nhau về lợng và thời
gian phát sinh. Chi tiêu có thể là chi phí trong trờng hợp mua nguyên vật liệu
12
không quá khó mà đa ngay vào sản xuất, cũng có thể cha phải là chi phí trong
trờng hợp mua nguyên vật liệu nhập kho nhng cha xuất ra cho sản xuất.
1.2/ Khái niệm và bản chất giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Về thực chất, chi phí và giá thành là hai mặt khác nhau của quá trình sản
xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm
phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả
sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh ( phát sinh trong kỳ, kỳ trớc
chuyển sang ) và những khoản chi phí tính trớc có liên quan đến khối lợng sản
phẩm, lao vụ, dịch vụ để hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản
phẩm.
Nghiên cứu chi phí sản xuất cha cho ta biết chi phí cần thiết cho việc
hoàn thành khối lợng sản phẩm, lao vụ dịch vụ và trong lĩnh vực hoạt động kinh
doanh khi quyết định lựa chọn phơng án kinh doanh mỗi loại sản phẩm nào đó,
doanh nghiệp tính đến lợng chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó.
Do vậy, doanh nghiệp cần phải xác định giá thành sản phẩm. Gía thành sản
phẩm đợc tính toán xác định theo từng loại sản phẩm cụ thể, theo từng đối tợng
tính giá thành và chỉ tính cho những sản phẩm hoàn thành trên toàn bộ quy trình
sản xuất ( thành phẩm ) hoặc hoàn thành một số giai đoạn, bộ phận sản phẩm
nhất định ( bán thành phẩm ).
Với bản chất giá thành sản phẩm nh trên, có thể nói giá thành sản phẩm
vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách quan thể hiện ở
hao phí lao động kết tinh thông qua sự chuyển dịch giá trị của t liệu sản xuất và
hao phí lao động sống trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tính chủ quan thể
hiện ở cách phản ánh của việc hạch toán, do lợng hao phí lao động do đó và
biểu hiện bằng tiền.
1.3/ Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp sản xuất
Để làm rõ bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Ta hãy xét
chúng trong mối quan hệ với nhau:
Chi phí sản xuất và giá thành công xởng có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Gía thành công xởng đợc tính trên cơ sở chi phí sản phẩm đă đợc tập hợp
và số lợng sản phẩm đã hoàn thành. Nội dung của giá thành công xởng cũng
chính là nội dung chi phí sản xuất đợc tính cho số lợng và loại sản phẩm đó.
Tuy vậy, phạm vi và nội dung của chúng có những điểm khác nhau:
Chi phí sản xuất chỉ tính trong một thời kỳ còn giá thành sản phẩm liên
qua đến chi phí sản xuất của kỳ trớc chuyển sang kỳ sau.
Chi phí sản xuất không gắn liền với khối lợng sản phẩm hoàn thành trong
khi giá thành sản phẩm lại gắn liền với khối lợng sản phẩm hoàn thành đó.
Sơ đồ mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Số d đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

13
Giá thành Số d cuối kỳ
Qua sơ đồ ta thấy: Giá thành sản phẩm = số d + chi phí phát sinh trong kỳ
d cuối kỳ
Khi giá trị CPDD (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuốikỳ bằng nhau
hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì giá thành sản phẩm =
chi phí phát sinh trong kỳ.
Chi phí sản xuất là cơ sở để xây dựng giá thành bán (giá cả hay giá trị
trao đổi hàng hoá). Giá thành và giá cả có mối quan hệ mật thiết với nhau, giá
thành là giới hạn tối thiểu về lợng của giá cả, dới mức đó thì không thực hiện đ-
ợc quá trình tái sản xuất giản đơn. Vì vậy, trong điều kiện giá bán không thay
đổi thì việc giảm giá thành sẽ làm tăng lợi nhuận sản xuất. Do đó phấn đấu để
không ngừng hạ thấp giá thành là nhiệm vụ quan trọng và thờng xuyên của
công tác quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp.
2./ Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
2.1 Phân loại chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất có nhiều loại với tính chất khác nhau Để quản lý vàkiểm
tra chặt chẽ việc thực hiện định mức chi phí tính toán hiệu quả ,tiết kiệm , kế
toán cần tiến hành phân loại chi phí .Tuỳ theo yêu cầu quản lý và xem xét chi
phí dới góc độ khác nhau mà lựa chọn tiêu thức phân loại cho phù hợp .
Thực tế cho thấy có một số tiêu thức phân loại chính nh sau:
2.1.1/Phân loại theo lĩnh vực kinh doanh :
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt độngkinh doanh ,toàn bộ
chi phí chia làm ba loại :
+Chi phí sản xuất kinh doanh
+Chi phí hoạt động tài chính
+Chi phí bất thòng
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí chính xác phục
vụ cho việc tính giá thành ,xác định chi phí và kết quả của từng hoạt
động kinh doanh.
2.1.2 Phân loại theo yếu tố chi phí:
Để phục vụ cho việc tập hợp ,quản lý ch i phí theo nội dung kinh tế
ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đén công dụng cụ thể,địa điểm
phát sinh của chi phí ,chi phí đợc phân theo yếu tố chi phí .Theo quy định
hiện hành ở Việt Nam , toàn bộ chi phí đợc chia thành bảy yếu tố sau:
+Yếu tố nguyên vật liệu
+Yếu tố nhiên liệu ,động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh
doanh .
+Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng.
+Yếu tố bảo hiểm xã hội ,bảo hiểm y tế ,KPCĐ tính theo tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lơng phải trả công nhân viên.
+Yếu tố khấu hao tài sản cố định.
+Yếu tố dịch vụ mua ngoài.
+Yếu tố chi phí khác bằng tiền.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét