Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
1.2. Khái niệm kiểm toán
Kiểm toán là một lĩnh vực còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nó thực sự mới
xuất hiện và du nhập vào nước ta từ hơn một chục năm cuối thế kỷ XX. Do đó
hiện nay trong quá trình áp dụng và phát triển kiểm toán, chúng ta vẫn chưa có
sự thống nhất chung trong việc hiểu và dùng các khái niệm chuyên ngành đặc
biệt đối với thuật ngữ “ Kiểm toán”. Tuy nhiên có thể khái quát khái niệm kiểm
toán theo ba loại quan điểm chính như sau:
- Quan điểm truyền thống về kiểm toán: Theo quan điểm này, kiểm toán
được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một chức năng của bản thân kế
toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán. Nội dung của hoạt động này là
rà soát các thong tin từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán. Quan
điểm này chỉ phù hợp trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Trong điều
kiện kiểm tra chưa phát triển, nhà nước vừa là chủ sở hữu, vừa là người
lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường hiện
nay, những đối tượng quan tâm đến thông tin kế toán không chỉ có Nhà
nước mà còn có các nhà đầu tư, nhà quản lý, khách hang, người lao
động… Do đó, công tác kiểm tra cần phải được thực hiện rộng rãi, đa
dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực, đủ sức thuyết phục và
tạo niềm tin cho những người quan tâm. Trong điều kiện đó, tách kiểm
toán thành một môn khoa học độc lập ra khỏi hoạt động kế toán là một
xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử.
- Quan điểm về kiểm toán theo thời điểm phát triển: phát sinh cùng thời
với cơ chế thị trường. Theo quan điểm đó, “Kiểm toán là hoạt động xác
minh và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tài chính của các thực thể kinh
Nguyễn Tiến Phong 5 Kiểm toán 46B
Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
tế do các kiểm toán viên độc lập thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý
có hiệu lực.
- Quan điểm hiện đại về kiểm toán. Theo quan điểm này, kiểm toán bao
gồm 4 lĩnh vực:
1. Kiểm toán về thông tin hướng vào việc đánh giá tính trung thực và
hợp pháp của các tài liệu (thông tin) làm cơ sở pháp lý cho việc giải
quyết các mối quan hệ về kinh tế và tạo niềm tin cho những người quan
tâm đến tài liệu kế toán.
2. Kiểm toán tính quy tắc hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện
các chế độ, thể lệ, luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt
động.
3. Kiểm toán hiệu quả có đối tượng trực tiếp là các yếu tố, các nguồn
lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản xuất hay dịch
vụ… Kiểm toán loại này giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định chính
sách và phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện hoặc cải tổ hoạt
động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.
4. Kiểm toán hiệu năng được đặc biệt quan tâm ở khu vực công cộng
(kể cả các xí nghiệp công và các chương trình đầu tư từ ngân sách Nhà
nước) nơi mà lợi ích và hiệu quả không còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa
của nó như trong nghiệp, nơi mà năng lực quản lý cần được đánh giá
toàn diện và bồi bổ thường xuyên nhằm không ngừng nâng cao hiệu
năng quản lý của đơn vị kiểm toán. Tất nhiên loại kiểm toán này cũng
cần và có thể ứng dụng đối với quản lý toàn bộ doanh nghiệp hoặc với
từng bộ phận quản lý của mọi đơn vị kiểm toán.
Nguyễn Tiến Phong 6 Kiểm toán 46B
Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
Các quan điểm nêu trên đều có mặt đúng xét trên khía cạnh nó phù hợp
với điều kiện phát triển kinh tế của từng giai đoạn. Tuy nhiên để đảm bảo tính
thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ và sự đầy đủ, chính xác về mặt ý nghĩa
chúng ta có thể đi đến một kết luận như sau:
“Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được
kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài
chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên
cở sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”. (Giáo trình Lý thuyết kiểm toán)
1.3. Khái quát các cách phân loại kiểm toán.
Để tìm hiểu về một sự việc hay một hiện tượng nào đó ta cần xem xét nó
trên các góc độ khác nhau và với mỗi góc độ đó ta có thể phân loại được sự vật,
hiện tượng ấy. Do vậy khi tìm hiểu về kiểm toán chúng ta có thể phân loại theo
một số tiêu thức sau:
- Theo đối tượng cụ thể, kiểm toán có thể phân thành kiểm toán (báo
cáo) tài chính, kiểm toán nghiệp vụ (hoạt động) và kiểm toán liên kết.
- Theo lĩnh vực cụ thể của kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm
toán thông tin, kiểm toán quy tắc (tuân thủ), kiểm toán hiệu năng và
kiểm toán hiệu quả.
- Theo phương pháp áp dụng trong kiểm toán, có thể phân kiểm toán
thành kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ.
- Theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán có thể phân kiểm
toán thành nội kiểm và ngoại kiểm.
Nguyễn Tiến Phong 7 Kiểm toán 46B
Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
- Theo phạm vi tiến hành kiểm toán có thể phân kiểm toán thành kiểm
toán toàn diện và kiểm toán chọn điểm (điển hình).
- Theo tính chu kỳ của kiểm toán có thể phân kiểm toán thành kiểm toán
thường kỳ, kiểm toán định kỳ, kiểm toán bất thường (đột xuất).
- Theo quan hệ về thời điểm kiểm toán với thời điểm thực hiện nghiệp
vụ, kiểm toán bao gồm kiểm toán trước, kiểm toán hiện hành, kiểm
toán sau.
- Theo quan hệ pháp lý của kiểm toán có thể có kiểm toán bắt buộc và
kiểm toán tự nguyện.
- Theo tổ chức bộ máy kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm toán
nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.
- Theo tính chất và phạm vi của kiểm toán có thể phân kiểm toán thành
kiểm toán ngân sách và tài sản công, kiểm toán dự án và các công trình,
kiểm toán các đơn vị dự toán…
- V.v…
1.4. Phân loại kiểm toán theo hệ thống bộ máy tổ chức
1.4.1. Kiểm toán Nhà nước
1.4.1.1. Khái niệm
Sự hình thành, ra đời và phát triển của kiểm toán Nhà nước gắn liền với sự
hình thành, ra đời và phát triển của tài chính công mà chủ yếu là ngân sách nhà
nước, xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của việc kiểm tra, kiểm soát việc chi tiêu ngân
sách và công quỹ quốc gia từ phía Nhà nước.
Do vậy có thể hiểu: “Kiểm toán Nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn
của Nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán tài sản công”.
Nguyễn Tiến Phong 8 Kiểm toán 46B
Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
1.4.1.2. Đặc trưng của kiểm toán Nhà nước
- Chủ thể kiểm toán: Kiểm toán nhà nước được thực hiện bởi các kiểm
toán viên nhà nước. Họ là những công chức, viên chức nhà nước làm nghề kiểm
toán nên được tuyển chọn và hoạt động do tổ chức kiểm toán nhà nước phân
công. Đồng thời, họ được xếp vào các ngành bậc chung của công chức (theo tiêu
chuẩn cụ thể của từng nước trong từng thời kỳ):
• Kiểm toán viên.
• Kiểm toán viên chính.
• Kiểm toán viênc cao cấp.
Chức năng và quyền hạn cụ thể của từng ngành bậc cũng được quy định cụ
thể tuỳ theo từng nước song noi chung cũng có sự gần gũi giữa các quốc gia và
có mối quan hệ tương ứng với cá chức danh của kiểm toán viên. Riêng kiểm toán
viên cao cấp thường giữ cương vị lãnh đạo cơ quan kiểm toán nhà nước hoặc là
những chuyên gia cao cấp có chức năng và quyền hạn trong kiểm toán, trong tư
vấn (kể cả soạn thảo luật pháp) thậm chí trong phán xử (như một quan toà)… tuỳ
quy định cụ thể của từng nước.
- Hiệp hội của các tổ chức kiểm toán viên nhà nước: Đây là hiệp hội do các
kiểm toán viên nhà nước tập hợp lại; là tổ chức quốc tế (hoặc khu vực) của tất cả
các tổ chức kiểm toán nhà nước khác nhau.
- Khách thể kiểm toán:
Khách thể của kiểm toán nhà nước thường bao gồm tất cả các đơn vị, cá
nhân có sử dụng Ngân sách nhà nước (NSNN) như:
• Các dự án, công trình do Ngân sách đầu tư.
• Các doanh nghiệp nhà nước: 100% vốn NSNN.
Nguyễn Tiến Phong 9 Kiểm toán 46B
Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
• Các xí nghiệp công cộng thuộc sở hữu nhà nước (100% vốn
NSNN).
• Các cá nhân có nguồn từ NSNN…
- Lĩnh vực kiểm toán: Lĩnh vực kiểm toán của kiểm toán nhà nước là kiểm
toán tài chính và kiểm toán tuân thủ. Ngoài ra, kiểm toán nhà nước còn tiến hành
các cuộc kiểm toán nghiệp vụ nhằm đánh giá và góp phần nâng cao tính kinh tế,
tính hiệu lực, tính hiệu quả trong quá trình quản lý, sử dụng NSNN
1.4.1.3. Mô hình của kiểm toán Nhà nước
Bộ máy kiểm toán nhà nước là hệ thống tập hợp những viên chức nhà
nước để thực hiện chức năng kiểm toán ngân sách và tài sản công.
Như vậy, trong quan hệ với hệ thống bộ máy nhà nước, kiểm toán nhà
nước là một phân hệ thực hiện chức năng kiểm toán. Xét trong hệ thống kiểm
toán nói chung, kiểm toán nhà nước lại là phân hệ thực hiện chức năng này với
một đối tượng cụ thể là tài sản nhà nước trong đó có ngân sách Nhà nước. Xét
trong quan hệ với kiểm toán viên nhà nước, kiểm toán nhà nước là một hệ thống
tập hợp các kiểm toán viên này theo một trật tự xác định… Trong hàng loạt mối
liên hệ phức tạp đó đã hình thành những mô hình tổ chức khác nhau tuỳ theo
phạm vi các mối liên hệ.
Trước hết khi xem xét trong quan hệ với bộ máy nhà nước, kiểm toán nhà
nước có thể độc lập với hệ thống lập pháp và hệ thống hành pháp hoặc trực thuộc
một phía hành pháp hoặc lập pháp.
Mô hình tổ chức độc lập giữa cơ quan kiểm toán nhà nước với các cơ quan
lập pháp và hành pháp (sơ đồ 1.1) được ứng dụng ở hầu hết các nước có nền
Nguyễn Tiến Phong 10 Kiểm toán 46B
Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
kiểm toán phát triển, có nhà nước pháp quyền được xây dựng có nền nếp… Nhờ
đó kiểm toán phát huy được đầy đủ tính độc lập trong việc thực hiện các chức
năng của mình
Sơ đồ 1.1 Kiểm toán nhà nước tổ chức độc lập với các cơ quan lập pháp
và hành pháp
Ban hành luật
Duyệt Ngân sách
Bổ nhiệm Giám sát
Ghi chú:
: Liên hệ trong tổ chức.
: Quan hệ chỉ đạo.
: Quan hệ đặt hang kiểm toán.
: Quan hệ kiểm toán
Mô hình tổ chức cơ quan kiểm toán trực thuộc cơ quan hành pháp được áp
dụng không giống nhau giữa các nước: ở một số nước, kiểm toán nhà nước được
Nguyễn Tiến Phong 11 Kiểm toán 46B
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
KIỂM TOÁN
NHÀ NƯỚC
QUỐC
HỘI
CHÍNH
PHỦ
TOÀ
ÁN
CÁC BAN CỦA QUỐC HỘI
CÁC BỘ CỦA
CHÍNH PHỦ
Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
tổ chức thành cơ quan hành chính như một bộ song có quyền kiểm toán các bộ
khác của Chính phủ (kể cả Bộ Tài chính); ở một số nước khác, kiểm toán nhà
nước được tổ chức như một cơ quan chuyên môn bên cạnh nội các hoặc Thủ
tướng Chính phủ. Mô hình này giúp chính phủ điều hành nhanh nhạy quá trình
thực hiện ngân sách và các hoạt động khác.
Mô hình tổ chức cơ quan kiểm toán trực thuộc cơ quan lập pháp (Quốc hôi)
được ứng dụng ở một số nước như Mỹ, Nga, Anh… Với mô hình này, kiểm toán
nhà nước trợ giúp đắc lực cho Nhà nước không chỉ ở kiểm tra thực hiện pháp luật
mà cả trong việc soạn thảo và xây dựng các sắc luật cụ thể.
Xét về liên hệ nội bộ, cơ quan kiểm toán nhà nước lại có thể liên hệ theo
chiều dọc (liên hệ dọc) và theo chiều ngang (liên hệ ngang).
Liên hệ dọc của tổ chức kiểm toán nhà nước có thể khái quát trong hai mô
hình chủ yếu:
- Mô hình I: Cơ quan kiểm toán nhà nước trung ương có mạng lưới ở tất
cả các địa phương. Mô hình này thích hợp với các nước có quy mô lớn,
các địa phương phân bố rộng và phân tán, khối lượng tài sản công ở
mỗi địa phương lớn và quan hệ phức tạp. Đồng thời mỗi địa phương
cũng có khối lượng công sản, tài sản tương đối đồng đều… Tình hình
đó đòi hỏi phải có tổ chức kiểm toán nhà nước ngay tại địa phương.
- Mô hình II: Cơ quan kiểm toán nhà nước trung ương có mạng lưới
kiểm toán ở từng khu vực. Những khu vực này trước hết có khối lượng
công sản đủ lớn và thường ở xa trung tâm nên đòi hỏi có tổ chức kiểm
toán nhà nước tại thực địa để thực hiện chức năng của kiểm toán nhà
nước. Mô hình này thích ứng với những nước có quy mô nhỏ song địa
Nguyễn Tiến Phong 12 Kiểm toán 46B
Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
bàn tương đối phân tán. Ở một số nước nhỏ và tương đối tập trung có
thể không có liên hệ dọc; cũng có trường hợp liên hệ dọc này thực hiện
ngay trong liên hệ ngang bằng cách bố trí kiểm toán một vài khu vực
nào đó thành một bộ phận trong bộ phận chuyên môn.
Liên hệ ngang là mối liên hệ nội bộ trong cơ quan kiểm toán cùng cấp
(trung ương hay khu vực hoặc địa phương). Liên hệ này có thể trực tuyến hoặc
chức năng.
Trong liên hệ trực tuyến tổng kiểm toán trưởng (hoặc phó tổng kiểm toán
được uỷ nhiệm) trực tiếp chỉ huy các hoạt động của kiểm toán nhà nước. Liên hệ
trực tuyến có ưu điểm bảo đảm lệnh của Tổng kiểm toán trưởng được chuyển
trực tiếp đến các kiểm toán viên, bảo đảm điều hành nhanh nhạy và thông tin
ngược xuôi kịp thời. Tuy nhiên, mô hình này chỉ thích hợp trong điều kiện quy
mô kiểm toán và số lượng nhân viên kiểm toán không quá lớn.
Trong liên hệ chức năng quyền điều hành công việc được phân thành
nhiều khối, mỗi khối lại chia thành nhiều cấp khác nhau. Mô hình này thích hợp
với bộ máy kiểm toán có quy mô lớn.
Ngoài mối liên hệ trong bộ máy, liên hệ giữa việc thực hiện các chức năng
kiểm toán với bộ máy kiểm toán cũng hình thành những mô hình tổ chức kiểm
toán nhà nước khác nhau. Trong việc thực hiện chức năng xác minh, thông
thường kiểm toán nhà nước chỉ thực hiện xác minh bảng khai tài chính và nghiệp
vụ của các đơn vị thuộc khu vực công cộng. Công việc xác minh các vụ việc cụ
thể do khiếu tố hoặc phát giác bất thường, thông thường do các tổ chức thanh tra
đảm nhận. Tuy nhiên, ở một số nước cả những công việc thanh tra này cũng
được thống nhất trong tổ chức kiểm toán nhà nước. Trong việc bày tỏ ý kiến,
Nguyễn Tiến Phong 13 Kiểm toán 46B
Đề án môn học Kiểm toán Khoa kế toán
thông lệ phổ biến là các cơ quan kiểm toán nhà nước chỉ thực hiện chức năng tư
vấn kể cả kiến nghị giải quyết thực trạng tài chính, pháp lý, thậm chí cả khởi thảo
và tham gia xây dựng luật pháp.
Như vậy, cơ quan kiểm toán nhà nước chứa đựng rất nhiều mối liên hệ về
tổ chức phụ thuộc và đặc điểm của đối tượng, của phạm vi, của khác thể kiểm
toán, tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nước và hàng loạt quan hệ khác
bên trong và bên ngoài hệ thống kiểm toán.
1.4.2. Kiểm toán độc lập
1.4.2.1. Khái niệm
Kiểm toán độc lập là một hoạt động đặc trung của kinh tế thị trường. Đây
là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách
hang. Ở các nước sớm phát triển theo cơ chế thị trường, kiểm toán độc lập đã
hành nghề trước khi có những chuẩn mực chung (về kiểm toán viên) và chuẩn
mực chuyên ngành (về công tác kiểm toán). Cho đến nay trên thế giới đã có hàng
trăm ngàn tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư
vấn tài chính.
1.4.2.2. Những đặc trưng của kiểm toán độc lập.
- Chủ thể kiểm toán: Người thực hiện kiểm toán độc lập là các kiểm toán
viên độc lập. Kiểm toán viên độc lập thường có hai chức danh:
• Kiểm toán viên: Thường đã tốt nghiệp đại học và sau bốn năm làm
thư ký (hoặc trợ lý) kiểm toán và tốt nghiệp thi tuyển kiểm toán viên
(quốc gia hoặc quốc tế) để lấy bằng (chứng chỉ) kiểm toán viên.
Nguyễn Tiến Phong 14 Kiểm toán 46B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét