Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Báo cáo thực hiện quản lý rừng bền vũng ở việt nam


5
Trong bối cảnh lâm nghiệp Việt Nam như đã nêu trên, quản lý rừng bền vững
là định hướng chiến lược quan trọng nhằm phát huy tối đa tiềm năng của ngành
góp phần đóng góp vào nền kinh tế quốc dân; cải thiện đời sống người dân vùng
rừng núi; bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng. Nhận thức rõ điều này,
Nhà nước đã và đang từng bước hoàn thi
ện khuôn khổ thể chế chính sách và thúc
đẩy các hoạt động thực tiễn để quản lý rừng được bền vững.
1. Nhận thức về quản lý rừng bền vững
Trong khi khái niệm “bền vững” được thế giới bắt đầu sử dụng từ những
năm đầu thế kỷ 18 để chỉ lượng gỗ lấy ra khỏi rừng không vượt quá lượng gỗ mà
rừ
ng có thể sinh ra, tạo tiền đề cho quản lý rừng bền vững sau này thì ở Việt Nam
mãi đến cuối thế kỷ 20 mới dùng khái niệm “Điều chế rừng” để quản lý, kinh
doanh lâm nghiệp với hy vọng sản lượng rừng được duy trì ở những lần khai thác
tiếp theo. Phương án điều chế rừng đầu tiên của Việt Nam (được thực hiện 7/1989)
là Phương án điều chế r
ừng lâm trường Mã Đà (Đồng Nai) với sự trợ giúp của
chuyên gia nước ngoài (Dự án VIE/82/002 do UNDP/FAO trợ giúp) để phát triển
Phương thức điều chế rừng ở Việt Nam. Nhiệm vụ chính là xây dựng một mẫu
phương án tiêu chuẩn; hướng dẫn lập kế hoạch điều chế và đưa ra những đề xuất
cho việc điều chế rừng lâm trường Mã Đà.
Cho đến nay, ngành lâm nghi
ệp vẫn đang dùng thuật ngữ “Điều chế rừng”,
coi nó như một công cụ, một phương pháp truyền thống để quản lý rừng của các
chủ rừng. Nghĩa là, tất cả các chủ rừng cho đến nay đều quản lý rừng theo cách lập
phương án điều chế được thực hiện theo những quy định tại Quyết định
40/2005/QĐ-BNN, ngày 7/7/2005 của Bộ NN-PTNT về Quy chế
khai thác gỗ và
lâm sản khác.
Mặc dù khái niệm quản lý rừng bền vững đã có từ những năm cuối thập kỷ
80 của thế kỷ 20 và không ngừng phát triển nhưng đến nay đối với cán bộ lâm
nghiệp khái niệm này vẫn còn khá mơ hồ về mục đích và các hoạt động của quản
lý rừng bền vững. Thật vậy, một kết quả điều tra mớ
i đây của ORGUT cho thấy:
có 85% số người được phỏng vấn trả lời là có biết về thuật ngữ Quản lý rừng bền
vững. Nhưng khi hỏi tiếp theo là: Những hoạt động chính để tiến tới quản lý rừng
bền vững là gì? thì có tới 75 % trong số đó trả lời là không biết (Báo cáo Đánh gía
nhu cầu đào tạo về quản lý rừng bền vững của Việt Nam do ORGUT th
ực hiện
trong khuôn khổ Chương trình quản lý bền vững rừng tự nhiên và tiếp thị lâm sản
- GTZ tài trợ)
Ngoài ra, việc chuyển đổi từ quản lý rừng truyền thống sang quản lý rừng
bền vững hiện nay đang được thúc đẩy bởi một công cụ thị trường là “Chứng chỉ
rừng”. Ý tưởng cấp chứng chỉ rừng do Hội đồng Quản trị Rừng (FSC) đề c
ập đến
từ những năm đầu thập kỷ 90 như là một “công cụ hữu hiệu, giúp cải thiện quản
lý rừng của thế giới”; “là công cụ chính sách mạnh mẽ nhất” trong quản lý rừng.

6
Nhiều nước trên thế giới đã khá thành công trong việc cấp chứng chỉ rừng
nên đã góp phần đáng kể quản lý rừng bền vững. Tính đến 11/2007, Hội đồng
quản trị rừng quốc tế (FSC) đã cấp 913 chứng chỉ rừng cho 78 nước với tổng diện
tích 93.898.717 ha. Trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, FSC đã cấp 81
chứng chỉ với diện tích 3.144.345 ha trong đó Trung Quốc, Newzelands,
Indonesia, Úc là các nước dẫn đầ
u về diện tích rừng được cấp chứng chỉ
Như trên đã nêu, Chứng chỉ rừng đã được các nước trên thế giới biết đến và
sử dụng từ gần 20 năm nay; trong khi đó, ở Việt nam hiện nay khái niệm Chứng
chỉ rừng đang còn là rất mới mẻ với cán bộ, người dân hoạt động trong lĩnh vực
lâm nghiệp. Tại cuộc điều tra
đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý rừng bền vững
do ORGUT thực hiện vào tháng 9/2007 tại các cơ quan lâm nghiệp ở trung ương
và địa phương cho thấy: 45 % số người được phỏng vấn có biết về khái niệm
chứng chỉ rừng. Nhưng trong số này chỉ có 34 % có hiểu biết rất mơ hồ về điều
kiện được cấp chứng chỉ rừng.
Thực t
ế hiện nay cho thấy: Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng là
những khái niệm rất mới mẻ, chưa có tiền lệ và chưa có thực tế nên chưa hề có
kinh nghiệm. Thậm chí đang có sự tranh cãi về những điểm khác nhau của hai
khái niệm này; nhiều người cho rằng: Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ rừng là tiêu
chuẩn quản lý rừng bền vững; khi một đơn vị
được cấp chứng chỉ rừng thì có
nghĩa là ở đơn vị đó đạt quản lý rừng bền vững. Đây là những vấn đề cần được
tiếp tục thảo luận trên các diễn đàn lâm nghiệp.
2. Các chính sách liên quan đến quản lý rừng bền vững
Các chính sách cam kết của Chính Phủ là nhân tố quan trọng để quản lý
rừng bền vững. Các chính sách liên quan đến quản lý rừng bề
n vững được hiểu là
những chính sách điều tiết, chi phối trực tiếp và có tác động đến việc quản lý và sử
dụng nguồn tài nguyên rừng và đất rừng một cách bền vững. Cho đến nay đã có 25
văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý rừng bền vững. Trong đó, số
văn bản thuộc các cấp ban hành là: Quốc hội: 3, Chính phủ: 7, Thủ tướng Chính
phủ: 5, Bộ NN-PTNT: 10 (Chi tiế
t xem Phụ biểu 1). Các đạo luật lâm nghiệp và
Chiến lược lâm nghiệp quốc gia thể hiện cam kết thực hiện quản lý rừng bền vững.
Các vấn đề về Quản lý rừng bền vững là một yếu tố chủ chốt trong các
chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam. Điều này được thể
hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây:
- Luật bả
o vệ và phát triển rừng, năm 2004: Việc sửa đổi Luật Bảo vệ và
phát triển rừng năm 2004 dựa trên quan điểm áp dụng quản lý rừng bền vững với
tất cả các khu rừng ở Việt Nam. Đây là đạo luật quan trọng nhất về lâm nghiệp.
Trong đó tại Điều 9 đã quy định các hoạt động để đảm bảo quản lý rừng bền v
ững:
Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh
tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ

7
và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do
Thủ tướng Chính phủ quy định.
- Luật Bảo vệ môi trường, năm 2005; trong Chương IV: Bảo tồn và sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) đã đưa ra những
quy định liên quan tới quản lý rừng bền vững thuộc các lĩnh vực, như: Đ
iều tra,
đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Bảo vệ thiên nhiên; Bảo
vệ đa dạng sinh học; Bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; Bảo vệ môi
trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Phát
triển năng lượng sạch.
- Luật Đất đai, năm 2003 đã quy định: Việc sử dụng đất phải tôn trọng các
nguyên tắc sau đây: Tiết kiệm, có hiệu quả, bả
o vệ môi trường và không làm tổn
hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh (Điều 11).
- Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020: Có thể nói cam
kết của Việt Nam về quản lý rừng bền vững được chính thức hóa vào năm 2006
khi mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược lâm nghiệp. Trong bản Chiến
lược, Việt nam đã khẳng định quan đi
ểm phát triển lâm nghiệp là: Quản lý, sử
dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp. Các hoạt
động sản xuất lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng quản lý bền vững thông qua quy
hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng
rừng. Phải kết hợp bảo vệ, bảo tồn và phát triển với khai thác rừng hợp lý (tr 11).
Đồng thời, trong Chiến lược cũng đã đề ra 5 chương trình hành động, trong đó
Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững là Chương trình trọng tâm và ưu
tiên số 1.
Trong Chiến lược này, nhiệm vụ được đặt ra là: Quản lý bền vững và có
hiệu quả 8,4 triệu ha rừng sản xuất, trong đó 4,15 triệu ha rừng trồng và 3,63 triệu
ha rừng tự nhiên. Phấn đấu ít nhất có được 30% diện tích rừng s
ản xuất có chứng
chỉ rừng.
3. Những tồn tại của các chính sách hiện nay
- Như trên đã nêu, mặc dù Việt Nam đã có định hướng rõ ràng về quản lý
rừng bền vững được thể hiện trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Chiến lược
lâm nghiệp quốc gia. Nhưng các chính sách cụ thể dưới các đạo luật này (Nghị
định, Quyết định, Thông tư ) lại chưa có hướng d
ẫn đầy đủ, nhất là chưa đưa ra
các tiêu chuẩn để đánh giá rừng được quản lý bền vững nhằm đảm bảo mọi tác
động đối với rừng đạt được sự bền vững.
- Chính sách, thể chế, trình độ, năng lực của Việt nam vẫn chưa phù hợp
với tiêu chuẩn cấp chứng chỉ rừng của Hội đồng quản trị rừ
ng thế giới (FSC), cần
nâng cấp, sửa đổi, thay thế.
- Các chính sách bảo tồn rừng của Việt Nam mới chỉ chú trọng vào rừng
đặc dụng mà ít quan tâm tới sản xuất là chưa phù hợp với tiêu chuẩn số 9 của FSC
về các khu rừng có giá trị bảo tồn cao.

8
- Chưa có chính sách đào tạo, giáo dục và phổ cập về quản lý rừng bền
vững cho học sinh, sinh viên. Nên cán bộ sau khi tốt nghiệp đại học lâm nghiệp
hoặc các chuyên ngành liên quan chưa được giới thiệu về quản lý rừng bền vững
và chứng chỉ rừng, chưa biết lập kế hoạch quản lý rừng bền vững, chưa biết xây
dựng cơ sở dữ liệu, công tác giám sát và đ
ánh giá….
- Thực tế cho thấy, tại các cơ quan lâm nghiệp ở trung ương và địa phương
phần lớn (68%) số người được phỏng vấn cho rằng khung chính sách hiện nay
chưa phù hợp với yêu cầu của quản lý rừng bền vững; chỉ có rất ít (32%) số người
được phỏng vấn nói là khá phù hợp (Kết quả điều tra đánh giá nhu cầu đào tạo về
quản lý rừng bền v
ững do ORGUT thực hiện vào tháng 9/2007).
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu hiểu biết về quản lý rừng bền
vững nêu trên là do:
- Thiếu các văn bản quy phạm pháp luật lâm nghiệp mà trong đó đưa ra các
tiêu chí để quản lý rừng bền vững; các hướng dẫn kỹ thuật để thực hiện các hoạt
động liên quan đến quản lý rừng bền vững.
- Các nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp chưa đề ra các giải pháp cụ th

và mạnh mẽ để chuyển đổi từ quản lý rừng truyền thống sang quản lý rừng bền
vững; thiếu sự học hỏi kinh nghiệm các nước, nhất là các nước trong khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương.
- Các trường đại học lâm nghiệp hoặc đại học nông lâm chưa đổi mới kịp
thời giáo trình cho phù hợp với phương pháp tiếp cận tiên tiến trong quản lý rừng
nên trong chương trình giảng dạ
y của nhà trường chưa coi Quản lý rừng bền vững
là môn học độc lập mà thường được lồng ghép với các môn chuyên môn khác như:
Quy hoạch sử dụng đất; Thiết kế kinh doanh rừng; Trồng rừng và Khai thác
rừng
- Ngành lâm nghiệp chưa đưa ra được lộ trình của quá trình đạt được quản
lý rừng bền vững đối với các loại rừng, mà trước mắt là hơn 10 triệu ha rừng được
quy hoạch là lâm phận ổn định quốc gia. Nhưng lại ít chú trọng và đầu tư xây
dựng mô hình quản lý rừng bền vững để rút kinh nghiệm.
Vì vậy, việc xây dựng và bổ sung để hoàn thiện khuôn khổ chính sách và
các quy định về kỹ thuật liên quan đến quản lý rừng bền vững đang là yêu cầu cấp
bách hiện nay. Chỉ có như thế thì chủ trương quản lý rừng bền vững trong sản xuất
kinh doanh lâm nghiệp mới trở thành hiện thực.
4. Kết quả hoạt động quản lý rừng bền vững
4.1. Ở cấp Trung ương
4.1.1. Tuyên truyền, tập huấn đào tạo về quản lý rừng bền vững: Ở Việt Nam,
công tác tuyên truyền về quản lý rừng bền vững bắt đầu được tiến hành từ đầu
năm 1998 chủ yếu do Tổ công tác quốc gia thực hiệ
n với sự hỗ trợ của các tổ chức
như: Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), Dự án cải cách hành chính (REFAS) của GTZ,

9
WWF Đông dương…Hình thức phổ cập về quản lý rừng bền vững rất phong phú,
gồm: hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh; giảng dạy, tập huấn và phổ cập kiến
thức
4.1.2. Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động quản lý rừng bền vững, bao
gồm:
a./ Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp, giai đoạn 2006-2020 có 5
chương trình trọng đi
ểm là:
(1) Quản lý và phát triển rừng bền vững
(2) Bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển dịch vụ môi trường
(3) Chế biến thuwong mại lâm sản
(4) Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm
(5) Đổi mới thể chế, chính sách, kế hoạch, giám sát ngành
Trong đó, chương trình quản lý rừng bền vững là trọng tâm với 3 nội dung
chính của chương trình là:
(1) Xây dựng và hoàn thiện các đ
iều kiện cần thiết để quản lý rừng bền
vững; như: (i) Thiết lập lâm phận ổn định trên cơ sở quy hoạch 3 loại rừng; (ii)
Hoàn thiện hệ thống đánh giá tài nguyên rừng, cơ sở dữ liệu; (iii) Cải cách quyền
sở hữu, quyền sử dụng rừng bằng giao khoán, cho thuê; (iv) Hoàn thiện các tiêu
chuẩn quản lý rừng bền vững, lâm sinh, sử dụng rừng.
(2) Th
ực hiện quản lý bền vững rừng tự nhiên; gồm: (i) Xây dựng và thực
hiện phương án điều chế rừng (Kế hoạch quản lý rừng); (ii) chứng chỉ rừng.
(3) Thực hiện quản lý rừng bền vững cho rừng trồng; gồm: (i) Quy hoạch
rừng nguyên liệu gắn kết với chế biến trong mọi thành phần kinh tế; (ii) Cải thiện
giống, phương thức lâm sinh, sả
n lượng và điều chế rừng; (iii) Thử nghiệm và mở
rộng chứng chỉ rừng trồng mọi quy mô, mọi thành phần kinh tế.
Một chương trình quan trọng khác của Chiến lược đã được tập trung vào là:
Bảo vệ, bảo tồn rừng và cung cấp dịch vụ môi trường. Chương trình này được kết
nối chặt chẽ với chương trình quản rừng bền vững; vì cả hai ch
ương trình sẽ rất
cần thiết trong việc đạt được quản lý bền vững đối với tất cả các loại rừng ở Việt
Nam.
4.1.3. Xây Xây dựng lộ trình thực hiện quản lý rừng bền vững: Theo đề xuất của
Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng thì sẽ có hai giai đoạn: Giai đoạn 1
(2006-2010): Xây dựng các điều kiện cầ
n và đủ để tiến hành quản lý bền vững
rừng tự nhiên và rừng trồng. Giai đoạn 2 (sau năm 2010): Tiến hành quản lý rừng
bền vững.
4.1.4. Xây dựng các điều kiện để quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng

10
- Ở Việt Nam hiện nay, do diện tích lâm phận ổn định chưa được xác định
trên thực địa, quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chưa hoàn chỉnh; chất lượng rừng
thấp; độ che phủ rừng thấp…Vì vậy, để tiến hành quản lý bền vững rừng tự nhiên
và rừng trồng; trước mắt cần xây dựng “các điều kiện cần và đủ”; việc làm này
được thự
c hiện trong giai đoạn 2006-2010; với các hoạt động sau: (i) Tiếp tục dự
án 661 để có đủ diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất. (ii) Rà soát và quy
hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ và rừng sản xuất và rừng đặc dụng). (iii) Quy
hoạch sử dụng đất vĩ mô
- Đồng thời với việc “xây dựng các điều kiện cần và đủ”, tại những khu
rừng đ
ã có đủ điều kiện như: có quy hoạch sử dụng đất lâu dài đã hợp lý, có diện
tích và ranh giới rừng ổn định thì vẫn tiến hành việc quản lý rừng bền vững.
4.1.5. Thực hiện chứng chỉ rừng:
- Hiện nay, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng (thuộc Hội
KH-KT Lâm nghiệp Việt Nam) đã dự thảo xong Tiêu chuẩn cấp chứ
ng chỉ rừng,
đang trình Tổ chức chứng chỉ rừng của thế giới công nhận. Do vậy, việc cấp
chứng chỉ rừng ở Việt Nam chưa được thực hiện mà đang trong quá trình thí điểm
cấp chứng chỉ và xây dựng lộ trình để cấp chứng chỉ rừng. Đến năm 2006, ở Việt
Nam mới có một đơn vị duy nhất được cấp chứ
ng chỉ rừng của FSC với diện tích
9.904 ha rừng trồng của Công ty liên doanh trồng rừng New O.J tại Quy Nhơn
(Bình Định).
Theo đề xuất của Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng thì lộ trình
cấp chứng chỉ rừng từ 2006 đến 2020, như sau:
- Xây dựng bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững quốc gia: Đã hoàn thành
dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 10 nguyên tắc, 55 tiêu chí và 158 ch
ỉ số và các
kiểm chứng phản ánh đặc thù về chính sách và tập quản sản xuất lâm nghiệp của
Việt nam, đã trình FSC và đang chờ thẩm định.
- Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về Chứng chỉ rừng cho các chủ
rừng và các bên liên quan, cho cộng đồng dân cư sống trong rừng và gần rừng.
- Đào tạo năng lực về nghiệp vụ cấp chứng chỉ rừng cho cán bộ lâm nghi
ệp
- Đánh giá chất lượng quản lý từng khu rừng do chủ rừng thực hiện (2008-
2010)
- Tổ chức mạng lưới các mô hình Quản lý rừng bền vững tự nguyện (2006-
2015)
- Cấp chứng chỉ rừng (2008-2020).
4.6. Các hoạt động khác liên quan đến thực hiện quản lý rừng bền vững:
- Hợp pháp hóa lâm nghiệp cộng đồng; ví dụ: giao các quyền sử dụng và
quản lý rừng cho cộng đồng theo Lu
ật Bảo vệ và PTR năm 2004.

11
- Các hoạt động về xây dựng các hướng dẫn, thủ tục, tài liệu đào tạo,
chương trình khuyến lâm….hỗ trợ công tác quản lý rừng cộng đồng.
- Xây dựng các phương pháp tiếp cận lập kế hoạch quản lý rừng bền vững.
- Sự tham gia vào các sáng kiến “Thực thi pháp luật lâm nghiệp và thương
mại gỗ” - FLEGT và nỗ lực để giảm khai thác gỗ và săn bắn bất hợp pháp các loài
động v
ật hoang dã.
4.2. Ở cấp địa phương
Một số hoạt động liên quan đến quản lý rừng bền vững đã và đang diễn ra ở cấp
địa phương , bao gồm:
4.2.1. Hiện nay các chủ rừng đang sử dụng “Điều chế rừng” như một công cụ,
một phương pháp truyền thống để quản lý rừng: “Điều chế rừng là xây dựng mộ
t
kế hoạch tác nghiệp cụ thể, chỉ rõ thời gian và các biện pháp kỹ thuật thích hợp
cho từng khoảnh, tiểu khu rừng, trong một hay nhiều luân kỳ khai thác, để tạo điều
kiện thuận lợi cho việc điều hành và thực thi sản xuất, nhằm đảm bảo cho rừng sản
xuất được lâu dài, liên tục với năng suất, chất lượng cao, bền vững” (Điều 2, Q
Đ
40/2005/QĐ-BNN). Thực chất của Phương án điều chế rừng là xây dựng kế hoạch
tác nghiệp cụ thể, trong đó đưa ra thời gian và các biện pháp kỹ thuật thích hợp
cho từng khoảnh, tiểu khu trong một hay nhiều chu ký khai thác.
Tuy nhiên, khi sử dụng “Điều chế rừng” để quản lý rừng cũng bộc lộ nhiều
hạn chế nhất định, rõ nét nhất là nội dung phương án
điều chế (Điều 8 của Quyết
định 40), chủ yếu là xây dựng kế hoạch khai thác, kinh doanh rừng từng năm, 5
năm của đơn vị. Trong khi đó, hàng loạt các hoạt động liên quan đến mục tiêu bảo
vệ môi trường và mục tiêu xã hội lại chưa được Phương án điều chế quy định một
cách cụ thể.
Từ đó dẫn đến phương án đi
ều chế rừng hiện nay của các chủ rừng thường
tập trung vào việc đảm bảo mục tiêu kinh tế của rừng, nghĩa là rừng cho nhiều sản
phẩm, có năng suất cao và lâu dài liên tục. Nên các mục tiêu quan trọng khác như
môi trường và xã hội lại chưa được chú ý đúng mức đến trong phương án điều chế
rừng của các đơn vị sản xuất.
Khảo sát tình hình tại 5 tỉnh: Hòa Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa,
Đắc lắc
và Ninh Thuận, gần đây cho thấy các đơn vị quản lý cơ sở (lâm trường, công ty
lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ ) chỉ tập trung vào việc lập kế hoạch khai
thác hoặc trồng rừng theo các chỉ tiêu kế hoạch được giao từ cấp trên còn các nội
dung xã hội và môi trường thường làm sơ sài. Nguyên nhân của tình trạng trên là
thiếu một văn bản hướng dẫn lập kế hoạch quản lý r
ừng bền vững trên cả ba
phương diện kinh tế, xã hội và môi trường cho một đơn vị quản lý rừng cấp cơ sở
(Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng năm 84 cũng chỉ hướng dẫn chi tiết về việc
lập các kế hoạch tác nghiệp lâm nghiệp).

12
4.2.2. Thí điểm về quản lý rừng bền vững tại lâm trường: Trong khuôn khổ hoạt
động của “Chương trình sử dụng và quản lý rừng bền vững rừng tự nhiên và tiếp
thị lâm sản” do GTZ tài trợ, thí điểm về quản lý rừng bền vững được thực hiện tại
5 lâm trường thuộc Thanh Hóa, Ninh Thuận, Yên Bái, Hòa Bình và Đắc Lắc.
Ngoài ra, WWF cũng đang thí điểm quản lý rừng b
ền vững tại 2 lâm trường.
4.2.3. Thí điểm Cấp chứng chỉ rừng “theo nhóm” tại Yên Bái do Viện Quản lý
rừng bền vững và chứng chỉ rừng thực hiện nhằm giúp các chủ rừng quy mô nhỏ
tiếp cận được với việc cấp chứng chỉ rừng. Theo thí điểm này, một số tổ chức địa
phương đóng vai trò “trung gian” giữa tổ chức cấp chứng ch
ỉ và những nhà sản
xuất gỗ nhỏ để để giúp họ nhận chứng chỉ “theo nhóm”. Cấp chứng chỉ “theo
nhóm” đã được áp dụng thành công ở các nước Đông và Tây nước Anh và Papua
New Guinea trong khuôn khổ chương trình sinh thái lâm nghiệp do EU tài trợ.
4.2.4. Quỹ rừng nhiệt đới (TFT) tại Việt nam đang tiến hành hỗ trợ thực hiện quản
lý rừng và chững chỉ rừng cho các đơn vị quản lý rừng sau: Công ty lâm nghiệ
p
Lơ Ku và Công ty lâm nghiệp Hào Quang tỉnh Đăk Nông; Trạm Lập tỉnh Gia Lai;
Công ty lâm nghiệp Long Đại tỉnh Quảng Bình; Công ty lâm nghiệp Bảo Yên tỉnh
Lào Cai.
Tóm lại: Mặc dù trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp đã được đặt ra là:
sử dụng bền vững 8,4 triệu ha rừng sản xuất (phấn đấu ít nhất có được 30% diện
tích có chứng chỉ rừng); 5,6 triệu ha rừng phòng hộ và 2,16 triệu ha rừng đặc
dụng. Như
ng đến nay vẫn chưa xác định được diện tích lâm phận ổn định quốc gia
nêu trên đế có kế hoạch quản lý rừng bền vững. Cho nên có thể nói một cách tổng
quát: Tại các địa phương đến nay chưa có nơi nào tiến hành quản lý rừng bền
vững; chưa có một diện tích rừng nào được quy hoạch và có kế hoạch đưa vào
quản lý rừng bền vững.
5. Những khó khăn, trở ngạ
i khi thực hiện quản lý rừng bền vững
Việc chuyển đổi các phương thức quản lý thông thường sang phương thức
quản lý rừng bền vững đòi hỏi một loạt thay đổi về khuôn khổ chính sách ở cấp
trung ương; thái độ, quan điểm và sự đồng thuận của các sơ sở sản xuất kinh
doanh lâm nghiệp và ngay cả người dân địa phương. Do tính phức tạp này nên khi
th
ực hiện quản lý rừng bền vững thường gặp những khó khăn, trở ngại; được thể
biện ở các khía cạnh sau đây:
Về chính sách và công nghệ: Như trên đã phân tích và dẫn chứng, khuôn
khổ chính sách thường lạc hậu lại không đồng bộ; các chính sách không theo kịp
với nhu cầu và phương thức quản lý tiến bộ trong phát triển lâm nghiệp. Hiện nay
chúng ta còn thiếu các chính sách, những hướng dẫn kỹ thuậ
t và tiêu chuẩn cụ thể
về quản lý rừng bền vững. Ngoài ra, Quy trình kỹ thuật điều tra, thiết kế kinh
doanh rừng lạc hậu, chậm áp dụng các thiết bị và công nghệ tiên tiến.

13
Về sinh thái: Rừng của Việt Nam có tính đa dạng và phức tạp rất cao của
các hệ sinh thái. Việc xác định các tiêu chuẩn để quản lý bền vững mỗi một hệ
sinh thái là điều rất khó khăn.
Về kinh tế: Thiếu nguồn vốn cho chuẩn bị, thực hiện và giám sát các kế
hoạch quản lý rừng bền vững. Chưa xác định nguồn vốn cụ thể cho các ho
ạt động
quản lý rừng bền vững của các công ty lâm nghiệp, các lâm trường và của các chủ
rừng. Thiếu cơ chế đảm bảo sự tham gia của các đối tượng hữu quan vào quản lý
nguồn tài nguyên rừng. Các điều kiện thị trường, nhu cầu về sản phẩm có chứng
chỉ chưa rõ ràng.
Về xã hội: Quyền sở hữu và sử dụng rừng và đất r
ừng của người dân sống
trong vùng rừng đã được thể hiện trong các chính sách hiện hành. Nhưng lợi ích
đem lại từ quản lý và bảo vệ rừng hiện tại chưa thực sự hấp dẫn với họ. Người dân
địa phương chưa thực sự tham gia vào các quá trình ra quyết định liên quan đến
môi trường sống của họ.
Về chứng chỉ rừng. Mặc dù Chứng chỉ r
ừng là một công cụ hữu hiệu để
quản lý rừng bền vững. Nhưng những điều kiện để được cấp chứng chỉ rừng lại rất
khắt khe, khó khăn mà chúng ta phải đối mặt, đó là: Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ của
FSC quá cao, đây là lo ngại chính của các nhà sản xuất gỗ. Chi phí để đạt được
tiêu chuẩn chứng chỉ rừng thường cao hơ
n nhiều so với giá bán gỗ đã được cấp
chứng chỉ.
Tất cả những khó khăn trở ngại nêu trên sẽ là những thách thức đối với các
nhà lâm nghiệp trong quá trình chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà
trong đó nghiên cứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng bền
vững là bước ban đầu rất quan trọng.
6. Bài học kinh nghiệm
Trong quá trình thực hiệ
n quản lý rừng bền vững ở Việt Nam, mặc dù mới
được thực hiện trong những năm gần đây nhưng có thể rút ra một số kinh nghiệm
chính sau đây:
- Các chủ rừng cần xây dựng một phương án quản lý rừng bền vững và
chững chỉ rừng tuân theo tiêu của của FSC thay cho phương án điều chế rừng đơn
giản hiện nay. Có sự hỗ trợ từ phía Chính Ph
ủ khi triển khai thực hiện phương án
quản lý rừng bền vững và chững chỉ rừng.
- Xây dựng một lộ trình cho sản phẩm lâm nghiệp quốc gia tiếp cận một
cách vững chắc với các yêu cầu khắt khe của thị trường gỗ quốc tế.
- Các chủ rừng cần nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện quản
lý rừng bền v
ững và cấp chứng chỉ rừng.
- Tăng cường sự tham gia tích cực của các bên liên quan trong quá trình
thực hiện quản lý rừng bền vững thông qua việc thường xuyên giải thích, tuyên
truyền lợi ích của việc thực hiện cấp chứng chỉ rừng đối với các chủ rừng. Xây

14
dựng năng lực quản lý của các chủ rừng để có thể nhanh chóng tiếp cận được các
tiêu chuẩn của thế giới.
- Sự tham gia của người dân, của cộng đồng là một trong những yếu tố căn
bản giúp cho việc quản lý rừng bền vững được tốt hơn. Kinh nghiệm thực tế cho
thấy: Cộng đồng là người trực tiếp tác động đến tài nguyên rừng theo hai h
ướng
tích cực và tiêu cực: được hưởng lợi từ rừng đồng thời cũng chịu các tác động do
suy thoái rừng. Trong quản lý rừng, cộng đồng là lực lượng trực tiếp quyết định
đến việc thành công của bảo vệ và phát triển rừng; là nhân tố ảnh hưởng quan
trọng trong tiến trình quản lý rừng bền vững.
- Thông thường đào tạo giáo dục quản lý rừng hiện nay chủ yế
u thực hiện
tại các trường đaị học, chưa quan tâm tới đối tượng cộng đồng - liên quan trực tiếp
và chặt chẽ với quản lý rừng bền vững. Vì vậy, thiết lập một hệ thống giáo dục đào
tạo đến cộng đồng để nâng cao nhận thức về rừng, môi trường, kỹ năng quản lý
rừng cho cộng đồng sẽ góp phần thúc
đẩy có hiệu quả tiến trình quản lý rừng bền
vững dựa vào cộng đồng
7. Một số kiến nghị đối với thực hiện quản lý rừng bền vững ở Việt nam
(1). Cần nhà quản lý rừng có nhiều kinh nghiệm thực tiễn: Nhân tố cơ bản
góp phân thành công trong quản lý rừng nhiệt đới là những nhà quản lý rừng được
đào tạo rất cơ bả
n và giàu kinh nghiệm thực tiễn. Thực tế cho thấy, sự yếu kém
trong quản lý gây tác hại nhiều hơn bất kỳ nhân tố nào khác trong việc quản lý
rừng nhiệt đới. Kiến thức tốt về kỹ thuật, tổ chức, điều phối, lập kế hoạch, lập dự
toán và theo dõi giám sát các hoạt động là các nhân tố quan trọng giúp nhà quản lý
có thể ra quyết định và ứng phó với những biến
động thường xuyên của quá trình
phát triển.
(2). Xây dựng lâm phận ổn định để bảo vệ rừng tự nhiên: Một yêu cầu đặc
biệt quan trọng giúp quản lý rừng bền vững thành công là xây dựng lâm phận ổn
định, cho cả mục tiêu phòng hộ và mục tiêu sản xuất. Việc thành lập lâm phận ổn
định sẽ giúp thường xuyên kiềm chế được mức độ khai thác và có thể đảm bảo
cung c
ấp một lượng gỗ thường xuyên cố định cho ngành công nghiệp. Sự ổn định
đó cũng củng cố niềm tin cho doanh nghiệp, giúp họ có những quyết định đầu tư
dài hạn để phát triển sản xuất.
Xác định ranh giới rừng ổn định lâu dài, rõ ràng trên hiện trường là rất cần
thiết, là bước đi quan trọng trong việc xác định và lập bản đồ lâm phận ổn đị
nh.
Đây là yếu tố quyết định đến hiện trạng rừng. Thực tế cho thấy là không thể xác
định được diện tích rừng được quản lý bền vững hoặc diện tích, vị trí, hình dạng
của khu rừng dự định khai thác hàng năm nếu không có ranh giới rõ ràng trên hiện
trường.
(3). Trao quyền sử dụng đất rừng lâu dài cho chủ sử dụng: Trao quyền sử
dụng tài nguyên rừng và đất r
ừng lâu dài cho các cơ quan quản lý lâm nghiệp, các
hợp tác xã, các công ty lâm nghiệp tham gia vào thực hiện, quản lý các chương

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét