iii
2.2.2.2. Khoảng cách thu nhập theo nhóm hộ ở tỉnh Trà Vinh 96
2.2.2.3. Phân hoá giàu nghèo - nhìn ở bình diện tổng thể tỉnh Trà vinh 98
2.2.3. Những nhân tố tác động đến tình trạng nghèo đói ở tỉnh Trà Vinh 103
2.2.3.1. Mô hình xác đònh nhân tố tác động đến nghèo đói tỉnh Trà Vinh 103
2.2.3.2. Kết quả ước lượng mô hình (mô hình logit) 104
2.2.3.3. Giải thích kết quả ước lượng của mô hình 107
Chương III: Giải pháp giảm thiểu nghèo đói và phân hoá giàu nghèo
ở tỉnh Trà Vinh 114
3.1. Quan điểm đònh hướng giải pháp chính sách XĐGN ở nước ta 114
3.2. Nhìn lại tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo ở tỉnh
Trà Vinh 119
3.3. Một số giải pháp XĐGN và nâng cao mức sống dân cư ở tỉnh
Trà Vinh 122
3.3.1. Xây dựng và từng bước thực hiện có hiệu quả mô hình
“ly nông bất ly hương” 122
3.3.2. Giải pháp về đất sản xuất 124
3.3.3. Giải pháp về tín dụng cho người nghèo 125
3.3.4. Giải pháp nâng cao kỹ thuật – công nghệ sản xuất nông nghiệp 127
3.3.5. Giải pháp cho thò trường đầu ra nông sản 128
3.3.6. Giải pháp về phát triển giáo dục - đào tạo 130
3.3.7. Giải pháp về vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình 133
3.3.8. Giải pháp đối với đồng bào dân tộc Khơme 133
Phần kết luận 143
Tài liệu tham khảo 146
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói đã, đang và trong tương lai vẫn có thể tiếp tục hoành hành
thế giới này. Nghèo đói tự thân nó không có giới hạn, tồn tại khắp mọi nơi và
đặc biệt nghiêm trọng hơn tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Hậu quả của nghèo đói, tất nhiên là rất nghiêm trọng, nó không chỉ ảnh hưởng
trực tiếp đến số phận của những con người lâm vào tình trạng cùng khổ mà
còn làm suy yếu sự thònh vượng của cả một quốc gia. Đó là lý do mà tất cả
mọi quốc gia trên thế giới, từ giàu đến nghèo đều xem mục tiêu XĐGN là
quốc sách nhằm hướng đến sự phát triển bền vững. Mục tiêu này càng trở nên
quan trọng hơn đối với các nước đang theo đuổi con đường đònh hướng XHCN
như Việt Nam. Chính vì thế, giải quyết vấn đề nghèo đói luôn được Đảng và
Nhà Nước Việt Nam đặt song hành vơí quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
Chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thò trường,
cùng với với những bước tiến bộ vượt bậc về mặt kinh tế; dẫu vậy, nghèo đói
vẫn là một nguy cơ hiện hữu và sự phân hóa giàu nghèo là một thách thức
màViệt Nam đang phải đối mặt.
Thực tiễn qua hơn hai mươi năm đổi mới cho thấy Việt Nam đã đạt
được những thành tựu rất lớn trong phát triển kinh tế, đồng thời đã không
ngừng cải thiện đời sống cho người dân, thực hiện có hiệu quả các chương
trình XĐGN. Theo đánh giá của Oxfam:"Việt Nam đã đạt được những tiến bộ
không tưởng tượng nổi trong hai thập kỷ qua. Đây là một đất nước kết hợp
tăng trưởng kinh tế cao với giảm nghèo ở mức cực kỳ cao. Vào giữa thập kỷ
80, số người nghèo chiếm gần tới ba phần tư dân chúng Việt Nam, mười lăm
năm sau, con số đó rút xuống còn một nửa". Mặc dù vậy: “Những đổi mới đầu
tiên mang lại sự tăng trưởng kết hợp với công bằng lại không được tiếp nối.
2
Trong những năm gần đây, một bức tranh đáng quan ngại đang hiện lên với
các khoảng cách chênh lệch gia tăng dần giữa các vùng giàu và nghèo của đất
nước, đặc biệt là giữa các trung tâm tăng trưởng chính và những khu vực còn
nằm bên lề của sự phát triển”
1
.
Tuy không thể phủ nhận những thành tựu giảm nghèo màViệt Nam đã
đạt được trong thời gian qua là rất nổi bật, thế nhưng chúng ta cũng cần phải
thận trọng khi xem xét. Kết quả điều tra mức sống dân cư do Tổng cục Thống
kê thức hiện cho thấy, theo chuẩn quốc tế tỉ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã
giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004. Theo đánh giá của Liên
hợp quốc, Việt Nam đã về đích trước 10 năm so với mục tiêu xóa đói giảm
nghèo trong thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ
2
. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào
ngưỡng nghèo mới của Việt Nam (mức thu nhập 200.000 đồng/người/tháng
đối với khu vực nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành
thò), tương đương chuẩn quốc tế là 2USD/ngày (tính theo PPP), thì số hộ
nghèo của Việt Nam có thể lên tới 4 triệu hộ, tăng gần 3 lần so với tiêu chí
cũ, khoảng 22% (năm 2005). Dưới góc nhìn của WB cho thấy, tốc độ giảm
nghèo của Việt Nam tăng nhanh trong giai đoạn 1993-1998, từ 58,1% xuống
37,4%, nhưng sau đó đã bò chững lại (tỉ lệ nghèo chung năm 2005 là 22,3%)
3
.
Rõ ràng, ước tính tình trạng nghèo là rất nhạy cảm do tính đại diện trong điều
tra, lựca chọn tiêu chí. Nhưng dù ước tính theo tiêu chí nào chăng nữa thì rõ
ràng, tình trạng nghèo đói hiện nay ở Việt Nam vẫn đang ở mức rất cao và
đáng quan ngại. Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh hội
nhập kinh tế toàn cầu, đòi hỏi chúng ta trong thời gian tới phải tiếp tục công
cuộc XĐGN một cách nhanh chóng và triệt để hơn nữa. Do vậy, nghiên cứu
1
Oxfam(2000). Việt Nam: Những thách thức mới trong tăng trưởng, công bằng và giảm nghèo. Tr.2,3.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam(2006). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB CTQG, HN. Tr. 157.
3
Phan Thò Hạnh Thu(2007). Tự do hóa thương mại và nghèo đói ở Việt Nam. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số
355. Tr. 8-11.
3
nghèo đói sẽ luôn là một vấn đề được quan tâm nhất và nó càng có ý nghóa
đặc biệt quan trọng đối với thực tiễn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
ĐBSCL có khoảng trên 16 triệu người sinh sống trên một vùng đất rộng
lớn, màu mỡ bậc nhất của nước ta, diện tích tự nhiên có tới gần 4 triệu ha,
trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 71,82% và chiếm hơn 30% tổng diện tích
đất canh tác nông nghiệp cả nước. Với điều kiện đòa lý, kinh tế hết sức thuận
lợi, lại được Nhà nước quan tâm đầu tư thì lẽ ra đời sống nhân dân phải ở mức
cao tương xứng. Nghòch lý là, trong khi gạo hàng hoá ở ĐBSCL nhiều nhưng
vẫn còn tình trạng nhiều hộ nông dân rơi vào tình trạng đói nghèo. Ước tính
theo chuẩn nghèo chi tiêu của WB cho thấy, tỉ lệ nghèo chung của khu vực
ĐBSCL năm 2005 ở mức 18%. Mặc dù, mức nghèo trên là khá khả quan so
với các vùng còn lại trong cả nước, song là khu vực chiếm tỉ lệ cao nhất trong
tổng số người nghèo của Việt Nam; ngoài ra, tốc độ giảm nghèo ở khu vực
này tỏ ra hết sức chậm chạp (tỉ lệ nghèo năm 2002: 23,2%)
1
. Quả thực là một
thực tế đáng thất vọng với một khu vực giàu tiềm năng bậc nhất của Việt
Nam.
Đặc biệt, ở ĐBSCL nghèo đói trở thành một hiện tượng phổ biến đối
với đồng bào dân tộc Khmer. Tuy chưa có cuộc điều tra riêng cho từng dân
tộc, nhưng theo Hà Quế Lâm (2002), qua tổng hợp các cuộc điều tra đã kết
luận rằng, các nhóm dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Khmer ở ĐBSCL có
mức độ nghèo đói gấp 2-3 lần so với mức nghèo chung theo vùng.
Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng ĐBSCL chủ yếu là người Khmer,
hiện có hơn 1 triệu người sinh sống tập trung phần lớn ở vòng cung từ các tỉnh
giáp giới Campuchia là Kiên Giang (182.056 người, chiếm 12,2% dân số), An
Giang (78.706 người, chiếm 3,8% dân số), đến các tỉnh giáp biển Đông là Cà
Mau (20.082 người, chiếm 1,9% dân số), Bạc Liêu (56.132 người, chiếm 7,6%
1
Phan Thò Hạnh Thu(2007). Tự do hóa thương mại và nghèo đói ở Việt Nam. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số
355. Tr. 8-11.
4
dân số), Sóc Trăng (336.269 người, chiếm 28,7% dân số), Trà Vinh (290.932
người, chiếm 31,1% dân số), Cần Thơ (32.788 người, chiếm 1,8% dân số). Số
liệu điều tra mức sống dân cư năm 2002 từ Tổng cục Thống kê đã cho thấy
tình trạng nghèo đói ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh – khu vực tập trung
nhiều dân tộc Khmer sinh sống nhất là rất nghiêm trọng, lần lượt là 37,5% và
33,6% (hai tỉnh có tỉ lệ nghèo cao nhất vùng ĐBSCL)
1
.
Bên cạnh đó, dường như mô hình chữ U ngược trong giai đoạn đầu của
tăng trưởng kéo theo sự gia tăng về bất bình đẳng của Kuznets đang hiện diện
hầu hết các vùng của Việt Nam; trong đó, ĐBSCL cũng không là ngoại lệ.
Theo Tổng cục Thống kê, mức phân hoá giàu nghèo được đo lường theo hệ số
GINI ở ĐBSCL năm 2002 là 0.30, một giá trò khá lý tưởng; song điều đáng
quan ngại là khoảng cách mức sống giữa nhóm dân tộc Kinh và dân tộc Thiểu
số nói chung đang doãng dần ra: 1,64 lần (1992 -1993) và 2,09 lần (2001 –
2002)
2
.
Có thể nói rằng, vấn đề nghèo đói đã, đang ngày càng trở thành một
vấn đề hết sức bức xúc và đáng quan tâm. XĐGN và giảm thiểu phân hóa
giàu nghèo, không những là nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà còn là vấn đề chính
trò; đặc biệt đối với một khu vực nhạy cảm – tập trung nhiều đồng bào dân tộc
Khmer và còn rất nhiều trong số họ đang nằm bền lề của sự phát triển như ở
khu vực ĐBSCL. Đó là lý do chúng tôi chọn Trà Vinh, tỉnh tập trung nhiều
đồng bào Khmer nhất của ĐBSCL để thực hiện đề tài: “NGHÈO ĐÓI VÀ
SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO Ở TỈNH TRÀ VINH”.
Tính cấp thiết của để tài còn là sự thể hiện quan điểm phát triển của
Đảng ta:“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi
với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”. Trên cơ sở đó, một mặt Đảng ta chủ
trương: “Tập trung xoá bỏ mọi vướng mắc, xoá bỏ mọi trở lực, cổ vũ các nhà
1
UNDP(2003). Đánh giá nghèo đói theo vùng: Vùng ĐBSCL. Tr. 37.
2
Sđd. Tr.36.
5
kinh doanh và mọi người dân ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước”; mặt
khác là:"Thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo thông qua những biện
pháp cụ thể, sát với tình hình từng đòa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ
đói, giảm mạnh các hộ nghèo"
1
.
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Như đã đề cập, nghèo đói đang trở thành một vấn nạn của toàn cầu, do
đó nó là lónh vực đã được nghiên cứu và mổ xẻ rất nhiều, sâu và rộng trên
khắp thế giới, trong đó tập trung rất nhiều cho các nước đang phát triển. Các
công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phân tích các khía cạnh về tình
cảnh nghèo đói ở trong lòng các quốc gia này; sự phân hoá giàu nghèo và
phân tầng xã hội. Có thể kể đến một số tác giả nổi bật vớiø các công trình tiêu
biểu sau đây:
- O. De Solages, 1996. Những thành công và thất bại về phát triển trong Thế
giới thứ ba. NXB CTQG, Hà Nội.
- Lusadi M., and Browing M., 1996. Household saving: Micro theories and
Micro facts. Jounal of Economic Literature, vol XXXIV, pp: 1797 - 1855.
- Todaro M. P., 1997. Economic Development. Fourth edition. Longman
Singapore Publishers.
Đối với Việt Nam, đặc biệt kể từ sau đổi mới đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo của các tổ chức và cá
nhân trong và ngoài nước đã được công bố. Những công trình nghiên cứu này
bao gồm những nhóm nội dung cơ bản sau:
Nghèo đói ở Việt Nam, nhìn từ góc độ lý luận đến thực tiễn, gồm có
các công trình tiêu biểu:
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb
CTQG.Tr.106,162,166.
6
- Oxfam, 2000. Việt Nam - những thách thức mới trong tăng trưởng, công
bằng và giảm nghèo. Hà Nội.
- Vũ Thò Ngọc Phùng, 1999. Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề
xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. NXB CTQG, Hà Nội.
- Lương Hồng Quang, 2002. Văn hóa của nhóm nghèo ở Việt Nam – thực
trạng và giải pháp. NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
- Stefan Nachuk,2001. Thức dậy một tiềm năng. NXB CTQG, Hà Nội.
- UNDP, 1995. Poverty Elimination In Viet Nam. Ha Noi, Viet Nam. October
1995.
Đánh giá thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở Việt
Nam; đặc điểm và những nguyên nhân của nghèo đói ở Việt Nam; những
giải pháp XĐGN ở Việt Nam .Có thể dẫn chứng một số công trình nghiên
cứu sâu như sau:
- Nguyễn Thò Cành, 2001. Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo
và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyễn đổi nền kinh tế
Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Lao động - Xã hội,
TP. Hồ Chí Minh.
- Naugton D., và ctv, 1994. Phát tiển kinh tế khu vực Đông Nam Á: sức khỏe
và nghèo đói ở Việt Nam. Trường Đại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh.
- Socialist Republic of Viet Nam, 2004. The government of Viet Nam
developed the Ten - Year Socio - Economic Development Strategy for the
2001 - 2010 period. The comprehemsive poverty reduction and grow strategy
(CPRGS). Approved by the prime minister at document No. 2685/VPCP-
QHQT, dated 21th May 2004, HN.
- WB, 2000. Báo cáo phát triển Việt Nam: Tấn công nghèo đói.
- WB, 2004. Báo cáo phát triển Việt Nam: Nghèo.
- WB, 2007. Báo cáo phát triển Việt Nam. Báo cáo phát triển Việt Nam 2007:
Hướng đến tầm cao mới.
7
Một số công trình có đề cập về vấn đề nghèo đói ở ĐBSCL; thực
trạng nghèo đói và mức sống của đồng bào dân tộc Thiểu số nói chung và
đồng bào Khmer nói riêng, như:
- Hà Quế Lâm, 2002. Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta
hiện nay - thực trạng và giải pháp. NXB CTQG, Hà Nội.
- WB(2000). Việt Nam: Tiếng nói của người nghèo. Báo cáo tổng hợp của
Action Aid Việt Nam, Oxfam, Quỹ cứu trợ nhi đồng Anh và chương trình phát
triển của Nông thôn và Miền núi của Việt Nam và Thụy Điển, Hà Nội.
- UNDP, 2003. Đánh giá nghèo đói theo vùng- vùng ĐBSCL.
Tuy nhiên, những công trình trên nghiên cứu ở bình diện rộng nhưng
chưa thật cụ thể, chưa phản ánh tính đặc thù như nội dung mà đề tài sẽ nghiên
cứu.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ hướng vào một số mục tiêu cơ
bản sau:
- Đánh giá thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh.
- Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số nhóm giải pháp đối với từng nhóm
đối tượng nhằm đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo đối với khu vực nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thông qua các phương pháp
nghiên cứu và phân tích sau đây:
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lòch sử, phương pháp quy
nạp nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói tạo nền tảng
và đònh hướng cho quá trình nghiên cứu.
- Sử dụng phương pháp chuyên gia để phân tích nội dung đề tài, tổ chức hội
thảo để thẩm tra, lấy ý kiến bổ sung, hoàn thiện nội dung đề tài.
- Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập số liệu theo các tiêu
thức nghiên cứu. Trên cơ sở đó, sử dụng các phương pháp thống kê mô tả,
8
phương pháp tương quan nhằm làm rõ từng vấn đề trong phân tích, đánh giá
thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh.
4.1. Phương pháp đo lường nghèo đói
Vận dụng phương pháp đo lường mức độ và tính nghiêm trọng của tình
trạng nghèo thông qua các công thức đã đïc Foster và ctv đề nghò năm
1984
1
.Công thức được xác đònh như sau:
P
α
= P
α
=
α
⎥
⎦
⎤
⎢
⎣
⎡
−
∑
=
Z
YZ
N
i
M
i
)(1
1
(i)
Trong đó:
P
α
: các chỉ số xác đònh mức độ nghèo
Y
i
: đại lượng xác đònh phúc lợi (thu nhập tính trên đầu người) cho người
thứ i xếp theo thứ tự tăng dần.
Z: ngưỡng nghèo
N: số người có trong mẫu dân cư
M: số người nghèo
α: đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa những
người nghèo.
α = 0,công thức (4.2) trở thành : P
0
=
N
M
(ia)
Công thức (ia) thể hiện bằng số người nghèo chia cho tổng số người
trong mẫu. Đây được gọi là tỉ số đếm đầu (Headcount ratio) hay chỉ số đếm
đầu (Headcount index).
α = 1,công thức (i) trở thành: P
1
=
∑
=
−
M
i
i
Z
YZ
N
1
)(1
(ib)
Công thức (ib) gọi là chỉ số khoảng cách nghèo (Poverty gap index).
Chỉ số này cho biết sự thiếu hụt trong thu nhập của các hộ nghèo so với
ngưỡng nghèo.
1
WB(2000). Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000: Tấn công nghèo đói.
9
4.2. Mô hình kinh tế lượng phân tích những nhân tố tác động đến khả
năng nghèo của hộ gia đình
Nghèo đói xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Điều đó có nghóa
là khả năng nghèo sẽ là một hàm phụ thuộc vào nhiều nhân tố.
Như vậy, xác suất một cá nhân chuyển dòch từ dưới ngưỡng nghèo lên
trên ngưỡng nghèo (theo thu nhập) được xác đònh bởi một nhóm các biến số
giải thích. Hàm số xác đònh các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo là biến số chất
lượng phụ thuộc, nhận giá trò 1 cho hộ nghèo và 0 cho trường hợp ngược lại,
và một nhóm biến số kinh tế - xã hội là những biến số giải thích (độc lập).
Theo Goldberger (1965), do biến phụ thuộc là biến không liên tục và chỉ có
hai giá trò (0,1), nên chúng tôi có thể vận dụng mô hình logit để xác đònh mức
độ ảnh hưởng của các biến độc lập khác nhau đến khả năng nghèo của một hộ
gia đình
1
. Mô hình logit cho các p
i
được xác đònh như sau:
Pr(poor = 1/Xsβs)= P
i
=
kk
kk
XX
XX
e
e
βββ
βββ
++
++
+
221
221
1
(ii)
Hay: P
i
=
)(1
)(
221
221
kk
kk
XXEXP
XXEXP
βββ
βββ
+++
++
Trong đó:
P
i
: xác suất hộ gia đình thứ i rơi vào trường hợp nghèo
P
i
: xác suất hộ gia đình thứ i rơi vào trường hợp nghèo
1 : Nếu hộ gia đình < ngưỡng nghèo
P
i
=
0 : Nếu hộ gia đình >= ngưỡng nghèo
X
k
: là các biến số độc lập, bao gồm những nhân tố tác động đến khả
năng nghèo.
Trở lại với mô hình logit tổng quát:
P
i
=
kk
kk
XX
XX
e
e
βββ
βββ
++
++
+
221
221
1
(ii)
1
Nguyễn Quang Dong (2002)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét