Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Báo cáo tốt nghiệp : " Những giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển ngành thủy sản Nghệ An"

tăng nhiều lần làm tăng khả năng canh tranh, tăng thu nhập cho doanh nghiệp và nhà n-
ớc.
Nghệ An có lợi thế về mặt nớc, thời tiết khí hậu có lợi cho sự phát triển của ngành
thuỷ sản. chính vì vậy ngành càng có vị trí quản trọng trong ngành kinh tế và có vai trò
chủ yếu trong việc tăng khả năng tích luỹ cho công cuộc CNH-HĐH nền kinh tế.
Ngành thuỷ sản phát triển tạo thêm nhiều việc làm cho ngời lao động, phần lớn ở
các ngành nông thôn và ven biển. Nó còn thu hút lợng lớn lao động nông nhàn, làm tăng
thu nhập đảm bảo đời sống, góp phần làm giảm đi làn sóng di dân vào thành thị.
Phát triển sản xuất thuỷ sản sẽ tạo ra thị trờng tiêu thụ rộng lớn của công nghiệp
bao gồm cả thị trờng TLSX và TLTD. Việt tăng cầu trong khu vực thuỷ sản và nông
thông sẽ tác động trực tiêp đến khu vực phi nông nghiệp, tạo điều kiện thuân lợi cho
công nghiệp phát triển.
Ngành thuỷ sản còn có vai trò to lớn trong công cuộc bảo vệ môi trờng và sự phát
triển bền vững trong nên kinh tế. Bảo vệ mội trờng nớc sự đa dạng sinh học của biển
đồng nghĩa với việc bảo vệ sự sống trên hành tinh chúng ta. Ngành thuỷ sản đợc coi là
ngời đi tiên phong trong việc tìm kiếm các giải pháp duy trì sự phát triển bền vững của
môi trờng nớc, đặc biệt là sinh vật biển.
ở Nghệ An phát triển sản xuất thuỷ sản gắn liền với việc xoá đói giảm nghèo, đặc
biệt vùng cao, vùng sâu. Thực phẩm thuỷ sản sản xuất tại chỗ còn làm giảm tỷ lệ suy
dinh dỡng, còi xơng ở trẻ em miền núi. Việc sản xuất thuỷ sản tập trung ở ven sông suối,
ao, hồ còn giúp soá bỏ tập quán du canh du c, tăng cờng an ninh biên giới trên đất liền.
Ngoài ra phát triển các đội tào khai thác biển cũng là góp phần tăng cờng an ninh quốc
phòng, bảo vệ lãnh hải chủ quyền, biên giới hải đảo.
II - Vốn đầu t với ngành nuôi trồng thủy sản Nghệ An
II.1 - Đặc điểm của vốn đầu t với ngành nuôi trồng thủy sản Nghệ An.
II.1.1 - Khái niệm vốn đầu t :
Vốn đầu t là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh
dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và các nguồn khác đợc đa và sử dụng trong
quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực lớn
hơn trong sản xuất kinh doanh dịch vụ sinh hoạt xã hội và sinh hoạt của mỗi gia
đình.
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ lần đầu tiên đợc hình thành,
vốn đầu t đợc dùng để xây dựng nhà xởng, mua sắm trang thiết bị, nguyên
nhiên vật liệu
5
Đối với những cơ sở sản xuất đang hoạt động, vốn đầu t đợc dùng để mua
sắm thêm trang thiết bị, máy móc, xây dựng thêm một số nhà xởng và tăng
thêm vốn lu động nhằm mở rộng quy mô hoạt động hiện có, sửa chữa và mua
sắm thêm tài sản cố định đã bị hỏng, hao mòn.
Quá trình sử dụng vốn đầu t xét về mặt bản chất chính là quá trình thực
hiện chuyển hóa vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu tố cơ
bản của sản xuất, kinh doanh. Nh vậy, quá trình sử dụng vốn đầu t là nhằm duy
trì tiềm lực sẵn có hoạch tạo tiềm lực lớn hơn cho cơ sỏ sản xuất kinh doanh
dịch vụ.
Đầu t vốn để phát triển Thủy sản là tái tạo và nâng cao những năng lực sản
xuất của tài sản cố định trong ngành Thủy sản, thúc đẩy quá trình chuyển giao
công nghệ và tiến bộ kỹ thuật trong ngành Thủy sản mà trớc hết là nâng cao
năng suất, chất lợng sản phẩm trong khâu chế biến, nuôi trồng thủy sản. Qua
đó, chúng ta nhận biết rằng nếu chính sách đầu t đúng sẽ tạo lập một hành lang
kinh tế cho việc sử dụng có hiệu quả và triệt để vốn đầu t trong ngành thủy sản
với mục tiêu đã định trên cơ sở năng lực sản xuất kinh doanh của từng vùng,
từng công đoạn, từng lĩnh vực cụ thể trong ngành Thủy sản Nghệ An hiện nay.
Đầu t vào ngành Thủy sản Nghệ An trớc hết là phải có vốn bằng tiền, bắt
đàu phát triển sản xuất vật chất thì tiền là vấn đề then chốt. Tiền ở đâu ra ?
chính là câu hỏi đặt ra để câu trả lời là cần có giải pháp huy động vốn đầu t thật
tốt.
Khi đã huy động đợc tiền thì việc đầu t vào ngành thủy sản Nghệ An
không phải đơn giải. Việc đa nguồn lực, công nghệ, t liệu sản xuất hay tìm ra
mục dích sản xuất là cha đủ, mà còn cần hoạch định chính sách đầu t hợp lý,
kết hợp nhuần nhuyễn các nguồn lực đầu vào với các điều kiện do khách quan
và kinh nghiệm lâu năm tạo ra một ngành ngề kinh tế hoạt động có hiệu quả.
Đây chính là câu trả lởi cho câu hỏi sử dụng vốn đầu t nh thế nào để mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
II.1.2 - Đặc điểm vốn đầu t đối với ngành nuôi trông thủy sản Nghệ An.
6
Trong công tác đầu t vốn vào kinh tế thủy sản, các nhà đầu t cần chú ý các
đặc điểm sau đây :
Một là :
Đầu t trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn và đặc biệt là đầu t trong
ngành Thủy sản thờng có thời gian thu hồi vốn dài hơn đàu t vào các ngành
kinh tế khác, hiện tại vốn đầu t cần rất lớn, mặc dù sinh lợi cao nhng kinh doanh
theo mùa vụ sẽ kéo theo chu kỳ kinh doanh dài nên khấu hao lớn. Tính rủi ro và
kém ổn định trong sản xuất kinh doanh trong ngành thủy sản sẽ ảnh hởng
không nhỏ đến khả năng thu hồi vốn đầu t dẫn đến nó sẽ ảnh hởng gián tiếp đến
khả năng thu hồi vốn đầu t của các ngành kinh tế gián tiếp (dịch vụ, cơ sở sản
xuất kinh doanh ) có sử dụng nguyên liệu thủy sản và liên quan đến ngành
thủy sản.
Hai là :
Hoạt động đầu t trong thủy sản thờng gắn với phạm vi trong không gian
rộng lớn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, khác nhau, dẫn đến cơ cấu giống loài,
trữ lợng, năng suất phân bổ và đạt đợc không đều. Tiếp đó là cơ cấu dân số cũng
rất phức tạp do phải lao động theo mùa vụ nên việc di dân tự do từ vùng này
sang vùng khác, từ nơi này đến nơi kia lại không thông qua một quy luật nào cả,
điều động lao động trong ngành Thủy sản gặp rất nhiều khó khăn cả về nhân lực
lẫn cơ cấu nguồn lực. Thế là nguồn tìm vốn, vốn tìm nguồn cứ luẩn quẩn vòng
trong bát quái không có lối ra nào thoả đáng.
Ba là :
Đặc điểm địa lý, khí hậu của Nghệ An đã đẫn đến việc vốn đầu t có lúc rất
cần số lợng lớn, có lúc lại quá nhãn rỗi. Khi đầu t vào ngành thủy sản, gặp mùa
ma bão thì tiền thành nhàn rỗi, mà mùa ma bão thời gian lại kéo dài. Khi tới
mùa đánh bắt, nuôi trồng thì lại cần lợng lớn của vốn. Vì vật hiệu quả sử dụng
vốn sẽ không cao.
7
Bốn là :
Do sản phẩm của ngành Thủy sản hầu nh sinh trởng và phát triển dới nớc
nên việc tính toán lợng thu sản phẩm rất khó từ đó việc hoạch định kế hoạch sản
xuất cũng nh nhu cầu về vốn cũng gặp không ít khó khăn.
Năm là :
Khi đầu t vào ngành thủy sản Nghệ An cần nắm bắt, tính toán sự ảnh hởng
của các điều kiện tự nhiên, biển, sông ngòi, ao hồ, dân số, thị tờng đã nêu ở trên
để đạt đợc hiệu quả sử dụng cao.
Sáu là :
Những bộ phận cấu thành vốn cố định có nguồn gốc sinh học. Đó là những
đàn cá, đàn tôm bố mẹ đợc nuôi dỡng đặc biệt để làm nhiệm vụ nhân giống. Giá
trị sử dụng của chúng phụ thuộc vào quy luật sinh học, khác với t liệu lao động
có nguồn gốc kỹ thuật.
Bảy là : Vốn SX tác động vào quá trình nuôi trồng và khai thác thủy sản
không bằng cách trực tiếp mà phải thông qua môi trờng nớc và vật nuôi. Vì vậy,
cơ cấu vốn SX phải phù hợp với tng loại hình mặt nớc, SX Thủy sản và giống
loài thủy sản.
II.2 - Vai trò của vốn đàu t trong phát triển ngành Thủy sản Nghệ
An :
Từ sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, nớc nhà thống nhất hai miền
nam bắc tình hình kinh tế nghệ An lúc này vẫn còn là bức tranh vẽ còn giang
dở, các gam màu vẫn bị phủ một lớp dày bụi khói trong chiến tranh. Sau khi ký
hiệp định Giơ-Ne-Vơ (1954), Nghệ An đã và đang dần tiến lên xây dựng Chủ
nghĩa xã hội một các ổn định, do đó hàng hóa sản xuất để tiêu dùng thì bên
cạnh đó còn cố gắng phục vụ cho đồng bào miền Nam đánh giặc để cùng tiến
lên xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, do vậy nền kinh tế Nghệ An lúc này có thể
đang gặp khó khăn nhng Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tiếp thu định hớng của Đảng
8
và nhà nớc rất rõ về tiềm năng xây dựng tỉnh nhà bằng nông nghiệp. Vừo thoát
khỏi chiến tranh, mặc dù nguồn vốn vẫn còn eo hẹp, lực lợng lao động không
qua đào tạo bằng kinh nghiệm lẫn truyền thống từ xa để lại, tuy năng suất cha
cao nhng Tỉnh ủy, UBND đã định hớng rất rõ ràng về tiềm năng xây dựng đất n-
ớc bằng nông nghiệp, trong đó ngành thủy sản chiếm một phần quan trọng.
Công cuộc đánh đuổi kẻ thù đã đa đến tình trạng nguồn vốn eo hẹp, lực lợng lao
động không qua đào tạo cơ bản thờng là lao động bằng kinh nghiệm lẫn truyền
thống từ xa để lại, tuy năng suất cha cao, nhng Tỉnh ủy, UBND tỉnh nhận thức
rõ vai trò Thủy sản, nông thôn trong quá trình xây dựng đất nớc, tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Nên ngay từ bớc đầu của thời kỳ hòa bình lập lại, Tỉnh ủy, UBND
tỉnh đã có hớng đầu t rất đúng mực để tác động vào ngành nuôi trong thủy sản
rất mạnh mẽ. Bên cạnh đó, Tỉnh ủy, UBND tỉnh còn đa ra những chính sách cho
vay, mợn theo một cách hợp lý đén từng địa bàn, vùng loại đất, thậm chí đến
từng loại hộ nông dân, đầu t xây dựng nhà máy chế biến thủy sản, trên cơ sở
căn cứ đó lập ra kế hoạch trớc mắt cũng nh lâu dài để tạo lòng tin cho nhân dân
mà yên tâm lao động sản xuất. Vì những chính sách đầu t hợp lý nói trên mà
ngành Thủy sản của tỉnh Nghệ An trong lúc này phát triển có chiều hớng khả
quan hơn, ổn định từng bớc tăng dần theo hàng năm. Nh vậy qua đây chúng ta
mới thấy không bất cứ một ngành sản xuất nào mà không cần đến đầu t cơ bản,
đầu t là then chốt trong mọi hoạt động để sản xuất ra của cải vật chất cho mọi
hoạt động và cuộc sống của con ngời. Với những giải pháp và hớng đi hợp lý thì
đầu t không những là động lực thúc đẩy sự phát triển mà nó còn bao hàm cả
tính quyết định thành bại của vấn đề. Trong những năm gần đây Tỉnh ủy,
UBND luôn luôn coi ngành thủy sản là một trong những mặt trận hàng đầu,
nông thôn là địa bàn chiến lợc trong xây dựng và phát triển ngành Thủy sản vì
hàng hóa sản xuất ra từ ngành này phục vụ cho nhu cầu dinh dỡng của con ngời,
sản phẩm của thủy sản là một trong thế mạnh xuất khẩu của nớc ta. Trên cơ sở
đó Tỉnh ủy, UBND tỉnh vẫn luôn dành một khoản đầu t rất đáng kể trong tổng
số đầu t của tỉnh từ ngân sách của các ngành khác băng việc huy động các loại
nguồn vốn khác nhau nh : nguồn viện trợ, nguồn vốn vay, vốn tự có của các
ngành sản xuất khác, các hợp tác xã đều dành một phần thỏa đấng đẻ nạp ngân
9
sách từ đó tỉnh đầu t xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ ngành Thủy sản.
Qua đó, nhờ vốn đầu t mà chúng ta phần nào đã khắc phục đợc những hạn chế
rủi ro do thiên nhiên tạo ra bằng cách xây dựng, nâng cấp các công trình, thủy
lợi lớn nhỏ, đại thủy nông đến trung và tiểu thủy nông, các khu trại giống, đào
ao, hồ thả cá phục vụ cho ngành đánh bắt, chăn nuôi thủy sản. Tình hình sản
xuất, giải quyết vấn đề khai hoang, phục hóa các đất chua phền, nạo vét các
kênh mơng, ruộng đồng ở các vùng chiêm trũng và sông hồ.
Nh các vấn đề đã nêu trên, cùng căn cứ các vấn đề đã và đang xây dựng
cũng nh sắp xây dựng đều toát lên đợc cái quan trọng của vốn đầu t trong chiến
lợc hoàn thành các dự án, các mục tiêu xây dựng ngành thủy sản của Tỉnh ủy và
UBND tỉnh qua việc tiêu biểu các biện pháp, giải pháp huy động vốn cho công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa ngành thủy sản là mối quan tâm hàng đầu
của tất cả các cấp, các ngành the phơng châm : "Vón trong nớc là quyết định,
vốn ngoài nớc là quan trọng".
Trong những năm gần đây, với chiều hớng đầu t ngày càng đợc mở rộng và
đúng quy mô phát triển đi đến đa dạng về hình thức nên hiệu quả vốn đầu t xây
dựng là một vấn đề luôn luôn đợc đề cập đến một cách rõ ràng, trên cơ sở đó
xác địng các phơng hớng trớc mắt cũng nh lâu dài nên ngày càng khẳng định đ-
ợc vai trò của mình trong công cuộc hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nớc. Trên
cơ sở đó Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã có những chính sách, mục đích để xác định
những khuynh hớng cụ thể nhằm đầu t một cách có hiệu quả qua từng thời kỳ
nhằm đa ngành thủy sản lên từng bớc, thúc đẩy đời sống nhân dân trong vùng
nông thôn phần nào đợc cải thiện, đa thu nhập từng ngời dân lên một bớc để xoá
đói, giảm nghèo, một phần hỗ trợ đợc cuộc sống của mình.
Thời kỳ 1954 - 1965 : Tỉnh ủy, UBND tỉnh bớc đầu u tiên vốn ngân sách
để đầu t cho ngành Thủy sản cụ thể nh sau :
Thời kỳ 1955 - 1961 : UBND đã đàu t vào Thủy sản để tu bổ công cụ
thuyền bè, chài lới, xây dựng các trạm nghiên cứu giống. Trong kế hoạch 3 năm
10
từ năm 1958 - 1960, vốn đầu t cho Thủy sản lên tới hàng triệu đồng góp phần
khôi phục Thủy sản phát triển một cách nhanh chóng.
Thời kỳ 1961 - 1965 : Tổng số vốn đầu t cho Thủy sản tăng gấp 3 lần, mức
bình quân cho một lao động thủy sản gấp 1,7 lần. Song song với nguồn vốn
ngân sách Đảng, Nhà nớc còn huy động thêm vốn từ các HTX sản xuất Thủy
sản nhờ đó hệ thống sản xuất, chăn nuôi cung cấp giống và nuôi trồng thủy sản
đợc hình thành và phát triển một cách nhanh chóng. Mặc dù với sự quan tâm rất
đặc biệt và huy động nguồn vốn một cách nhanh chóng, kịp thời nên nguồn vốn
đầu t, phát triển Thủy sản so với các ngành kinh tế khác tại thời điểm đó là tơng
đối lớn nhng vẫn cha đủ, không đáp ứng đợc nhu cầu đầu t, bên cạnh đó còn bị
thất thoát, rò rỉ nên hiệu quả vẫn còn ở mức khiêm tốn.
Thời kỳ 1966 - 1975 : Đây là thời kỳ miền Bắc chuyển sang kinh tế thời
chiến nên vốn đầu t vào lĩnh vực Thủy sản có sự biến động nhng vẫn đợc coi
trọng. Song vì chiến tranh thơng xảy ra trên biển và trên đồng bằng cùng với
việc phải u tiên cho các ngành khác trong đó có quốc phòng nên mức đầu t và tỷ
trọng vốn Thủy sản bị giảm đi (chủ yếu chỉ còn nuôi trồng) nên ngành Thủy sản
vào thời kỳ này phát triển chậm, có khi còn dẫm chân tại chỗ, thay vào đó là
những công trình đợc khôi phục lại sau chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ.
Thời kỳ 1976 - 1988 : Sau khi miền nam đợc hoàn toàn giải phóng, Việt
Nam đợc hoàn toàn thống nhất đi lên CNXH, kinh tế Thủy sản bớc vào giai
đoạn phát triển mới, với những khó khăn và thuận lợi mới. Thế nhng Tỉnh ủy,
UBND tỉnh đã dành trên 8% tổng số vốn đầu t từ ngân sách tỉnh nhà cho Thủy
sản.
Qua những ý kiến khái quát trên, chúng ta thấy rằng dù cho tình hình phát
triển qua các thòi kỳ khác nhau thế nào đi chăng nữa, đầu t vào Thủy sản là một
trong những chiến lợc hết sức quan trọng, nó đảm bảo đợc tính ổn định kinh tế
xã hội, cung cấp thức ăn dinh dỡng cho nhân dân, cũng vừa tăng GDP của đất n-
ớc. Đây là nguồn cung cấp nguyên liệu dồi dào cho phát triển công nghiệp chế
biến.
11
Thời kỳ 1989 đến nay : Đại hội toàn quốc lần thứ VI của đảng đã đề ra, nó
đánh dấu mốc lịch sử quan trọng, mở ra một thời kỳ mới của phát triển Thủy
sản nớc ta. Ngành Thủy sản đối mới, cải cách quản lý kết hợp với sự quan tâm
đầu t đúng mức của Tỉnh ủy, UBND tỉnh ngành thủy sản Nghệ An đã tiếp nhận
lợng vốn đầu t lớn từ các nguồn để kiến thiết cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà máy
chế biến, cải tiến công nghệ đánh bắt, đầu t máy móc hiện đại cho thuyền ra
khơi từ đó hành thành một ngành kinh tế mạnh, đóng góp vào lợng hàng hóa
cho tỉnh nhà.
Trong những năm tới, Thủy sản Nghệ An đang tích cực đầu t lớn hơn nữa
vào tái sản xuất để mở rộng quy mô, đa dạng hóa làng nghề, đa ngành đánh bắt,
nuôi trồng chế biến trở thành ngành kinh tế mũi nhọn mang lại kim nghạch xuất
khẩu to lớn cho tỉnh nhà.
II.3 - Một só chỉ tiêu đấnh giá hiệu quả vốn đầu t .
II.3.1 - Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn
+ Để đánh giá hiệu quả việc huy động vốn, trớc tiên chúng ta cần xem xét
khối lợng vốn huy động trong một năm, quy mô huy động lớn hay nhỏ, tăng
dần theo hàng năm hay không.
Khối lợng huy động trong một năng càng lớn thì việc huy động càng có
hiệu quả
Tiếp đến ta xét xem mức vốn huy động có đáp ứng đủ nhu cầu đầu t của
ngành Thủy sản hay không ? Đáp ứng đợc bao nhiêu % lợng vốn cần dùng :
Khối lợng vốn huy động đợc
Tỷ lệ huy động vốn đạt đợc = x 100%
Khối lợng vốn cần có
Tỷ lệ càng cao thì chứng tỏ việc huy động càng có hiệu quả.
II.3.2 - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu t
Đế đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ngời ta thờng dùng các chỉ tiêu
sau đây:
12
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định (VCĐ)
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Doanh thu tiêu thụ hàng hóa
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
VCĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ thu đợc sử dụng vốn
cố định vào kinh doanh
Nguyên giá TSCĐ + Nguyên giá TSCĐ
cần khấu hao đầu năm cần khấu hao cuối năm
VCĐbình quân =
2
Mức sinh lời vốn cố định
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh
Mức sinh lời vốn cố định =
Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân tham gia
vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động
Hiệu suất sử dụng vốn lu động
Hiệu suất sử dụng vốn lu động =
Doanh thu tiêu thụ hàng hóa
Vốn lu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lu động làm ra bao nhiêu đồng
doanh thu. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lu động
tốt.
Mức sinh lợi vốn lu động
Mức sinh lời vốn lu động =
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh
Vốn lu động bình quân
13
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn lu động, cho biết 1
đồng vốn lu động làm ra đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận. Mức sinh lợi vốn
lu động càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lu động càng cao.
Tốc độ luân chuyển vốn lu động
Đây là chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất lợng công tác sử
dụng vốn của doanh nghiệp
Tốc độ luân chuyển vốn lu động đợc biểu hiện bằng 2 hình thức : số
vòng quay của vốn lu động và số ngày luân chuyển của 1 vòng quay vốn
- Số vòng quay vốn: là số lần luân chuyển vốn trong kỳ:
Số vòng luân chuyển trong
năm
=
Doanh thu thuần
Vốn lu động

Số vòng quay vốn lu động thể hiện vốn lu động của doanh nghiệp
chu chuyển đợc bao nhiêu lần trong kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ
vốn lu động luân chuyển càng nhanh, hoạt động tài chính càng tốt, doanh
nghiệp cần ít vốn nhng tỷ suất lợi nhuận cao.
- Số ngày luân chuyển một vòng quay vốn
Số ngày của vòng luân
chuyển
=
Số ngày trong năm
Số vòng luân chuyển

Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để vốn lu động quay đợc một
vòng. Số ngày của vòng luân chuyển càng ít thì tốc độ luân chuyển và
hiệu quả sử dụng vốn lu động càng cao.
Các chỉ tiêu trên đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhng nó chỉ cho
các doanh nghiệp biết mình có thể sử dụng vốn có hiệu quả hay không
chứ không thể cho biết tại chỗ nào với sản lợng là bao nhiêu, doanh thu
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét