lớn hơn Mỹ 13%, Nhật 38% (trong đó các thị trường chính như Anh, Pháp, Đức,
Italia chiếm tới 72% GDP của EU). Đến năm 2005, tốc độ tăng trưởng GDP đạt
1,8%, năm 2007 đạt 2,6%. Tuy nhiên, tình hình lạm phát ở EU đang có xu
hướng đi lên. Năm 1998, tỷ lệ lạm phát là 1,5%, đến năm 1999 con số này giảm
xuống còn 1,3% nhưng đến năm 2000 lại tăng lên 1,8% và đến năm 2007 tình
hình lạm phát đã khá cao (lên đến 3,1%) tuy nhiên vẫn ở trong tầm kiểm soát.
Nguyên nhân là do tác động của giá dầu thế giới tăng cao.
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng và lạm phát ở EU
(Tính đến tháng 10/2007)
Nước
GDP Chỉ số giá tiêu dùng
Mức thay đổi (%) Mức thay đổi (%)
2005 2006 2007* 2008
*
2005 2006 2007* 2008*
EU 1,8 3,0 2,6 2,4 2,3 2,3 2,3 2,0
Đức 0,8 2,9 2,7 2,2 2,0 1,7 2,0 2,0
Pháp 1,8 2,2 2,0 2,3 1,9 1,9 1,5 1,8
Italia 0,2 1,9 2,0 1,8 2,2 2,2 2,0 2,0
Tây Ban Nha 3,6 3,9 4,0 3,0 3,4 3,6 2,7 2,8
Hà Lan 1,5 2,9 2,5 2,3 1,5 1,7 1,5 1,5
Bỉ 1.4 3,0 2,8 2,3 2,5 2,3 1,8 2,3
Áo 2,0 3,1 3,0 2,5 2,1 1,7 1,8 1,8
Hy Lạp 3,7 4,3 3,3 3,3 3,5 3,3 2,8 2,8
Bồ Đào Nha 0,5 1,3 2,0 2,0 2,1 3,0 2,3 2,0
Phần Lan 2,9 4,9 4,3 2,5 0,8 1,3 1,7 1,8
Ireland 5,9 5,7 5,0 4,0 2,2 2,7 3,0 2,8
Anh 1,8 2,8 2,9 2,4 2,0 2,3 2,3 1,8
Đan Mạch 3,2 3,3 2,3 2,2 0,5 1,4 2,0 2,2
Thụy Điển 2,9 4,5 3,3 2,8 2,0 2,3 1,9 2,2
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu châu âu
Ghi chú: (*) mức dự báo
Bên cạnh đó các vấn đề xã hội của khu vực EU đã được giải quyết tốt.
Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống trên toàn châu âu nhờ những thành tựu kinh tế
5
mà khu vực này đạt được: từ 11% dân số thất nghiệp năm 1995 đến năm 1998 tỷ
lệ này giảm còn 10,2%, đến năm 2000 xuống còn 9%.Và thời gian gần đây, nhờ
các tác động của sự phát triển kinh tế dự kiến số việc làm mới được tạo trong
giai đoạn 2007-2009 sẽ là 8 triệu việc làm, điều này sẽ giúp cho tỷ lệ thất nghiệp
của năm 2009 giảm còn 6,6%. Bên cạnh đó EU còn quan tâm hơn đến sức khoẻ
của người dân thông qua việc phát triển các nguồn thực phẩm phục vụ hàng
ngày cũng như tăng cường chất lượng và tiện ích của các dịch vụ trong đời sống
như tiến hành hạ cước phí điện thoại di động khi thực hiện các cuộc gọi giữa các
nước là thành viên EU, cũng như được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện và khí
đốt cho mình. Cũng trong thời gian này Eu cũng rất chú ý đến các dịch vụ đi lại
tiện ích cũng như bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng như sự kiện Microsoft bị
thua kiện do sử dụng vị thế độc quyền của mình để giới hạn việc chuyển dữ liệu
với các hệ điều hành qua đó giới hạn khả năng lựa chọn của người dân.
*) Đối với khu vực SNG
Trong những năm đầu thập niên 90, kinh tế của khu vực này liên tục rơi
vào suy thoái giảm sút. So với những năm trước đó, GDP năm 1992 giảm
khoảng 14%, năm 1995 GDP giảm 5,3% trong đó ngay cả những nước được coi
là phát triển nhất của khu vực mhư Nga, Ukraine cũng liên tục sụt giảm kinh tế.
Năm 1992, GDP của Nga giảm 14,5%, của Ukraine giảm 9,9% đến năm 1995
con số này của Nga là giảm 4,1%, của Ukraine là giảm 12,9%. Cũng trong giai
đoạn này mức lạm phát của khu vực luôn ở mức hai con số. Tuy nhiên trong
thời gian từ năm 2000 trở lại đây, kinh tế của khu vực này đã có nhiều khởi sắc.
Mức tăng trưởng kinh tế của khu vực luôn ở mức khá cao như năm 2000 GDP
của khu vực tăng 8,3%, năm 2003 con số này là 7,8% và năm 2005 con số này
là 6,8%. Tuy nhiên mức độ lạm phát của dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao trên
hai con số. Về vấn đề xã hội thì khu vực này vẫn còn nhiều bất ổn về chính trị,
xã hội vẫn còn nhiều biến động, tiêu cực. Đời sống của người dân vẫn còn ở
mức thấp, tỷ lệ người thất nghiệp vẫn còn ở mức cao. Việc thực thi pháp luật
6
còn lỏng lẻo, tuỳ tiện thiếu nghiêm túc. Điều đó ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã
hội khu vực này.
Bảng 2: Nhịp độ tăng trưởng của một số nước khu vực SNG
trong những năm gần đây
Tên nước 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Belarut 5,8 4,7 4,7 7 11,4 9,2
Nga 9 5 4,3 7,3 7,2 6,4
Ukraine 5,9 9,1 4,1 9,6 12,1 2,6
Grudia 1,9 4,5 5,4 11,1 5,9 9,3
Acmenia 5,9 9,6 12,9 11,2 10,2 26,4
Mondova 2,1 6,1 7,2 6,6 7,4 7,1
Cadacxtan 11,1 9,9 10,6 9,3 9,6 9,5
Nguồn: Tạp chí kinh tế Nga+ www.cisstat.com
1.2.2 Đặc điểm thị trường tiêu thụ thủy sản châu âu
*) Về tập quán, thị hiếu tiêu dùng của thị trường châu âu
Với thị trường EU do mỗi quốc gia có một đặc điểm tiêu dùng riêng nên
có thị trường châu âu có nhu cầu vô cùng phong phú và đa dạng về các mặt
hàng.Tuy nhiên do có trình độ phát triển kinh tế, xã hội văn hoá khá tương đồng
nên người dân châu âu cũng có các đặc điểm chung khi tiêu dùng. Đối với hàng
thủy sản, người tiêu dùng châu âu ngày nay có xu hướng sử dụng nhiều đồ thủy
sản hơn so với các loại thịt. Ngoài ra họ cũng sẽ không sử dụng các mặt hàng bị
nhiễm độc do các tác động của môi trường hoặc do sử dụng các chất không
được phép theo quy định.Với các sản phẩm thủy sản đã được chế biến thì họ chỉ
sử dụng các sản phẩm có ghi rõ nguồn gốc xuất xứ, các điều kiện bảo quản.
Hiện nay mặt hàng thủy sản xuất khẩu vào thị trường châu âu đang bị hàng rào
kỹ thuật khống chế rất khắt khe. Đặc biệt người tiêu dùng châu âu thích tiêu
dùng các nhãn hiệu nổi tiếng, có chất lượng dù giá có đắt hơn so với các sản
phẩm khác cùng loại nhưng không có thương hiệu, không đảm bảo chất lượng.
7
Với thị trường SNG, nhìn chung thị hiếu người tiêu dùng được chia làm
hai loại. Loại một là những người có thu nhập cao thì họ có xu hướng giống với
người tiêu dùng ở thị trường EU là hàng phải có uy tín chất lượng cao, nguồn
gốc xuất xứ rõ ràng dù giá có cao cũng được. Loại hai là những người có thu
nhập thấp thì họ chỉ mua hàng rẻ tiền, chất lượng chấp nhận được. Do đó hành
thủy sản của Việt Nam khi xâm nhập thị trường này cần xác định rõ đối tượng
khách hàng của mình là ai để có thể đáp ứng nhu cầu của họ.
*) Về kênh phân phối của thị trường châu âu
Hiện nay, hệ thống các kênh phân phối của châu âu được xem là một
trong những hệ thống phức tạp nhất trên thế giới hiện nay. Chúng bao gồm
nhiều thành phần khác nhau trong đó nổi bật là các công ty xuyên quốc gia. Các
công ty này tổ chức mạng lưới tiêu thụ từ khâu mua hàng cho đến khâu phân
phối hàng cho các mạng lưới bán lẻ do đó họ luôn có mối quan hệ vô cùng chặt
chẽ với các nhà thầu nước ngoài. Với các công ty xuyên quốc gia này, hệ thống
phân phối của EU hình thành một mạng lưới rất chặt chẽ. Hai hình thức phổ
biến nhất của các kênh phân phối bao gồm theo tập đoàn và không theo tập
đoàn. Theo hình thức phân phối theo tập đoàn, các nhà sản xuất của tập đoàn chỉ
cung cấp hàng cho các hệ thống cửa hàng, siêu thị của tập đoàn mà không cung
cấp cho các nhà bán lẻ bên ngoài. Còn hình thức không theo tập đoàn thì nhà sản
xuất hay nhập khẩu có thể cung cấp hàng cùng lúc cho nhiều hệ thống bán lẻ
trên thị trường
Bên cạnh các công ty bán lẻ và các siêu thị ở thị trường châu âu thường
không mua hàng trực tiếp từ các đầu mối nước ngoài mà thông qua các trung
tâm thu mua lớn ở châu âu. Nhờ đó mà đảm bảo cho việc cung cấp nguồn hàng
luôn ổn định và đảm bảo về mặt chất lượng. Hình thức phân phối của thị trường
châu âu tạo ra một chuỗi liên kết rất chặt chẽ thông qua các hợp đồng kinh tế, vì
vậy đây sẽ là điều khó khăn cho các nhà xuất khẩu muốn xâm nhập thị trường
châu âu (trong đó có Việt Nam ). Chính vì vậy hang thủy sản Việt Nam muốn
xâm nhập thị trường châu âu cần tìm các nhà nhập khẩu để xuất khẩu trực tiếp
8
(có thể tìm thông qua các đại sứ quán các nước hoặc các thương vụ Việt Nam ở
châu âu) hoặc liên doanh với các công ty xuyên quốc gia ở châu âu để trở thành
công ty con
Bảng 3: Các trung tâm thu mua lớn tại châu âu
Nguồn: eurostar
*) Về chính sách ngoại thương của châu âu
Đối với liên minh châu âu EU thì tất cả các nước thành viên đều áp dụng
một chính sách ngoại thương chung với các nước ngoài khối. Chính sách ngoại
thương của EU gồm: chính sách thương mại tự do và chính sách thương mại
chung đảm bảo các nguyên tắc không phân biệt đối xử, cạnh tranh công bằng:
+) Biểu thuế quan chung của EU. Khi xem xem xét về vấn đề này thì cần
chú ý đến quy định biểu thuế quan liên quan đến xuất xứ của hàng hoá. Đối với
sản phẩm được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ các nước được hưởng ưu đãi thuế
quan GSP thì được xem như có xuất xứ và được hưởng GSP. Với các sản phẩm
sản xuất tại các nước hưởng GSP phải đạt 60% tổng giá trị hàng hoá liên quan,
tuy nhiên đối với một nsố mặt hàng thì con số này có thể thấp hơn. Đây là
những đặc điểm mà các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam cần hết
sức lưu ý khi xuất khẩu hàng sang EU.
+) Để giúp cho hàng hoá của các nước đang phát triển có thể xâm nhập
vào thị trường EU thì liên minh châu âu đã đề ra chương trình hỗ trợ thuế quan
GSP để giúp đỡ cho hàng hoá các nước này. Chương trình này được xây dựng
STT Trung tâm Nước Doanh số
(tỷ Franc)
1 Bigr Đức 280
2 Eurogroup Đức 240
3 Cem Bỉ 240
4 Deurobuying Thụy Sĩ 310
5 Naf Đan Mạch 240
9
trên các nguyên tắc tự nguyện, không đòi hỏi có đi có lại và đơn phương quyết
định. EU chia sản phẩm dược hưởng GSP thành 4 nhóm chính trong đó các sản
phẩm bán nhạy cảm bao gồm các mặt hàng như thủy sản đông lạnh, hàng công
nghiệp dân dụng được hưởng mức thuế GSP bằng 35% mước thuế suất thông
thường. Đây là mặt hàng được khuyến khích nhập khẩu.
Trong tương lai thì hàng nhập khẩu của các nước đang phát triển sẽ
không được hưởng GSP nữa khi đó sẽ tạo ra nhiều khó khăn và thách thức đối
với các nước này.
+) Ngoài ra EU còn áp dụng chính sách chống bán phá giá với các hàng
hoá vào thị trường EU. Từ khi gia nhập WTO thì EU chỉ được áp dụng chính
sách chống bán phá giá trong trường hợp các ngành của EU bị ảnh hưởng do các
hàng nhạp khẩu bán phá giá. Đến năm 1996 thì quy chế áp dụng chính sách
chống bán phá giá chỉ được áp dụng trong các trường hợp:
-) giá xuất khẩu của sản phẩm bán trên thị trường EU thấp hơn giá bán
các sản phẩm đó ở thị trường nước xuất khẩu.
-) hàng xuất khẩu của nước xuất khẩu có thể gây ra tổn thất cho các
ngành kinh doanh ở EU.
-) chi phí mà EU bỏ ra thực hiện các biện pháp không được tỷ lệ nghịch
với lợi ích thu được.
+) Quyền lợi của người tiêu dùng EU phải luôn được bảo vệ do đó EU đã
đề ra các biện pháp bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng của mình. Khác với
trước đây, ngày nay EU đã tiến hành kiểm tra các sản phẩm buônlưu thông trên
thị trường ngay từ nơi sản xuất và các nước thuộc EU đã có sự liên kết với nhau
để đảm bảo an toàn ngày càng cao cho người tiêu dùng. Ngoài ra các tổ chức
nghiên cứu đại diện cho quyền lợi người tiêu dùng cũng đưa ra các quy chế
chuẩn theo từng quốc gia hay dùng chung cho toàn EU. Hiện nay ở EU tồn tại
song song cùng lúc các cơ quan định chuẩn là ủy ban châu âu về định chuẩn, ủy
ban châu âu về định chuẩn điện tử, viện định chuẩn viễn thông châu âu. Dưới
đây là một số quy chế bảo đảm an toàn mà EU áp dụng với những loại sản phẩm
10
tiêu dùng trong đó với sản phẩm thủy đóng hộp (như thủy sản đóng hộp) phải
ghi rõ tên sản phẩm, thành phần, nhãn mác, trọng lượng tịnh, thời gian bảo quản,
cách sử dụng, nơi sản xuất, điêù kiện bảo quản. Còn với sản phẩm thủy sản tươi
sống thì cần phải vượt qua được sự kiểm tra sát sao của các cơ quan kiểm tra
chất lượng của EU và phải đăng ký . Nếu được các cơ quan có thẩm quyền cho
phép thì mới được lưu thông trên thị trường EU.
+) Bên cạnh đó EU còn áp dụng các hàng rào phi thuế quan như:
-) Hạn ngạch: là công cụ để hạn chế số lượng hoặc giá trị một số mặt
hàng nhập khẩu vào EU và nó cũng ảnh hưởng tới việc phân bổ hạn ngạch cho
các nước đang phát triển theo chương trình GSP. Hiện một số mặt hàng thủy sản
của Việt Nam đang phải chịu sự quản lý này.
-) Hàng rào kỹ thuật: là quy chế nhập khẩu chung và là biện pháp bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng EU thông qua 5 tiêu chuẩn bắt buộc của sản phẩm
gồm tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn,
tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động. Trong đó các mặt hàng
như thủy sản phải thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn này. Nếu thiếu bất kỳ
một tiêu chuẩn nào thì các mặt hàng (trong đó có thủy sản) sẽ gặp rất nhiều khó
khăn khi muốn xâm nhập và phát triển trên thị trường này.
-) Các công cụ hành chính khác để quản lý nhập khẩu. Ngoài các biện
pháp đã áp dụng như chính sách chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu thì
EU còn áp dụng một số các biện pháp khác như không nhập khẩu các mặt hàng
ăn cắp bản quyền. Bên cạnh đó thì trong một thời gian dài EU coi Việt Nam là
một nước không có nền kinh tế thị trường do đó hàng hoá của Việt Nam luôn bị
đối xử phân biệt gây bất lợi cho các mặt hàng của Việt Nam. Mãi cho tới
14/05/2000 thì EU mới chính thức coi Việt Nam là một nước áp dụng kinh tế thị
trường thì hàng hoá của Việt Nam mới được đối xử công bằng như các nước
khác.
Với thị trường SNG, trong những năm gần đây các nước của khu vực này
đã thông qua nhiều văn bản luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh , thương mại
11
thuế tạo điều kiện cho hàng hoá các nước xâm nhập thị trường này. Và với Việt
Nam, dù đã có nhiều động thái tích cực song lượng hàng xuất khẩu của Việt
Nam sang khu vực này vẫn rất hạn chế (bao gồm cả thủy sản).
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu thuỷ sản
1.3.1 Các nhân tố bên trong
+) Nguồn lực con người
Từ xưa đến nay con người luôn có một vai trò vô cùng quan trọng trong
mọi hoạt động của đời sống. Ngày nay khi máy móc, thiết bị hiện đại phát triển
thì vai trò của con người ngày càng quan trọng hơn. Máy móc phải có con người
diều khiển mới có thể vận hành tốt, làm ra những sản phẩm, hàng hoá có ích.
Một doanh nghiệp muốn phát triển phải có người lãnh đạo, đề ra các mục tiêu
chiến lược, các định hướng để đạt được các mục tiêu đó. Cũng cần có con
người, đặc biệt là những người có trình độ cao để tiếp nhận các thông tin, từ đó
tiến đến xử lý các thông tin rồi ra các quyết định cho phù hợp. Bởi vậy nguồn
lực con người có tính quyết định tới sự thành công hay thất bại của một dự án,
công trình. Trong ngành xuất khẩu thuỷ sản cũng vậy, nếu những người lãnh đạo
không có năng lực không đề ra được các chiến lược phương hướng đúng đắn,
công nhân không có tay nghề cao thì sản lượng thuỷ sản xuất khẩu đi sẽ thấp và
ngược lại.
+) Năng lực tài chính
Năng lực tài chính có thể được hiểu là quy mô vốn và khả năng thanh
toán của mỗi doanh nghiệp. Điều đó cho phép doanh nghiệp thường xuyên nâng
cao, cải tiến về kỹ thuật công nghệ từ đó góp phần nâng cao chất lượng sản
phẩm, thay đổi mẫu mã cho phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Đối với mặt hàng
thủy sản thì vấn đề về tài chính cũng vô cùng quan trọng. Nếu một doanh nghiệp
xuất khẩu thủy sản có khả năng tài chính lớn thì doanh nghiệp đó sẽ có nhiều cơ
hội thâm nhập các thị trường cũng như khả năng tiêu thụ các sản phẩm cao hơn.
+) Năng lực công nghệ
12
Là điều kiện để có thể tăng sức cạnh tranh của các mặt hàng do tạo ra
được các sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, giá thành hạ từ đó có thể
xâm nhập vào các thị trường các nước và có thể cạnh tranh với hàng hoá các
nước đó. Điều này rất quan trọng đói với ngành xuất khẩu thủy sản của ta do các
thị trường thủy sản lớn của ta đều là các thị trường khó tính đòi hỏi chất lượng
sản phẩm rất cao như thị trường EU, Nhật, Mỹ. Do đó năng lực công nghệ có
vai trò thúc đẩy để hàng thủy sản Việt Nam có thể xuất khẩu sang các nước bạn.
+) Văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp có thể được hiểu là cách ứng xử của những người
trong cùng một doanh nghiệp với nhau hoặc giữa những người trong doanh
nghiệp với các đối tác, khách hàng của doanh nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp ở mỗi doanh nghiệp thì rất khác nhau do nó được
xây dựng từ các triết lý kinh doanh và các sứ mệnh khác nhau mà doanh nghiệp
đang theo đuổi. Và đó cũng là sự khác biệt giữa các doanh nghiệp.
Nếu văn hoá doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở hoà thuận, thân
thiện thì nó sẽ tạo điều kiện cho các nhân viên trong doanh nghiệp phát huy hết
khả năng cũng như sức sáng tạo của mình để cống hiến cho công ty. Ngược lại
thì các nhân viên sẽ chán nản không thích cống hiến nhiều khi gây ra không khí
thù địch, gây mất đoàn kết nội bộ. Do đó văn hoá doanh nghiệp ảnh hưởng đến
khả năng phát triển của một doanh nghiệp. Chính vì vậy các doanh nghiệp muốn
phát triển phải tạo ra được một sự đồng lòng trong nội bộ, sự bình đẳng để người
lao động yên tâm đóng góp cho doanh nghiệp.
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài
+) Về chính trị
Một quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào để phát triển thị
trường trong nước thì yếu tố đầu tiên phải tính đén đó là chính trị. Không một
nhà đầu tư nước ngoài nào lại đem tiền của mình đầu tư vào một nước có nền
chính trị mất ổn định, đảo chính bạo loạn đánh nhau xảy ra triền miên bởi những
yếu tố đó sẽ gây ra các rủi ro mà họ không lường trước được và khả năng mất
13
trắng là rất lớn. Bởi vậy yếu tố chính trị có tác động rất lớn đến các hoạt động
kinh tế cũn như hoạt động xã hội khác( xuất khẩu thủy sản cũng không nằm
ngoài quy luật đó).
+) Về chính sách pháp luật
Bất kỳ quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải có hệ thống
chính sách và pháp luật đồng nhất. Trong quá trình xuất khẩu và phát triển kinh
tế cũng vậy, chính sách pháp luật có vai trò và ảnh hưởng lớn đến các quyết định
của các nhà đầu tư cũng như các nhà xuất khẩu. Một quốc gia nếu có chính sách
pháp luật thuận lợi, hợp lý sẽ thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển nhanh cũng
như thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn nếu chính sách pháp luật không
hợp lý gây khó khăn cản trở cho các hoạt động giao lưu trao đổi mua bán. Đối
với hoạt động xuất khẩu thủy sản thì chính sách này càng có ý nghĩa quan trọng.
Các đơn vị xuất khẩu phải tìm hiểu rõ các chính sách pháp luật của thị trường
mình định xuất khẩu sang tránh các trường hợp vi phạm có thể dẫn tới bị phạt
gây ảnh hưởng đến số lượng và kim ngạch xuất khẩu.
+) Về cạnh tranh
Một thị trường nếu có nhiều nhà cung cấp cùng cạnh tranh với nhau thì
thị trường đó sẽ không còn hấp dẫn đối với các nhà đầu tư cung cấp mới. Thực
chất khi một thị trường có quá nhiều đói thủ cạnh tranh thì việc các đói thủ
không có đủ tiềm lực năng lực bị loại khỏi cuộc đua là điều dễ hiểu. Bên cạnh
đó co nhiều đói thủ thì lợi nhuận kỳ vọng sẽ bị giảm chưa kể đến những kẻ đến
sau sẽ rất khó chiếm được thị trường do những kẻ đến trước đã giành được. Mà
các doanh nghiệp của Việt Nam thì tiềm lực có hạn, chất lượng sản phẩm dù đã
có cải thiện tuy nhiên để cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn thì đó là điều hết
sức khó khăn. Do vậy cạnh tranh cũng là yếu tố tác động lớn đến việc lựa chọn
thị trường và hình thức kinh doanh của doanh nghiệp.
+) Về thị hiếu tập quán của người tiêu dùng nước nhập khẩu
Đây là một yếu tố mà các nhà xuất khẩu muốn đạt được thành công phải
hết sức chú ý. Nếu các sản phẩm ta xuất khẩu sang thị trường đó phù hợp với
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét