Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Phân tích tình hình kinh doanh ngoại tệ tại NHNo&PTNT Thành phố Đà Nẵng gia đoạn 2002-2003

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
kết hợp với lượng ngoại tệ giao dịch để xác định số đối khoản cần phải trao đổi
với nhau giữa 2 bên mua bán vào ngày hiệu lực thông thường
2.2 Nghiệp vụ chuyển hối :
Arbitrage là một kỹ thuật nghiệp vụ rút ra từ nghiệp vụ hối đoái giao ngay . Kỹ
thuật này nhằm giao dịch trực tiếp ngoại tệ với ngoại tệ mà không thông qua b tệ . Để tiến
hành nghiệp vụ này người kinh doanh cần phải xác định rõ :
+ Những tỷ giá chéo cần được xác định ?
+ Trị giá khoản tiền cần được áp dụng là bao nhiêu ?
+ Nếu còn dư thì giải quyết theo tỷ gia nào ?
+ Có lợi hơn so với việc xác định tỷ giá thông qua bản ngoại tệ không ?
Thực chất của kỹ thuật Arbitrage là tận dụng sự chênh lệch giữa tỷ giá của các ngoại tệ là
khác nhau để tiến hành giao dịch trực tiếp ngoại tệ với nhau . Người ta chỉ giao dịch qua
bản tệ đối với bộ phận ngoại tệ dư (hoặc thiếu) mà thôi .
Có 2 loại Arbitrage
+ Chuyển hối thông thường : là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để chuyển từ đồng tiền
này sang đồng tiền khác .
+ Chuyển hối đầu cơ hay còn gọi là nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch tỷ giá . Thực
chất là lợi dụng sự chênh lệch giá của đồng tiền trên những thị trường khác nhau để kiếm
lời.
2.3 Nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn .(Forward)
* Nghiệp vụ hối đoái có kỳ hạn là nghiệp vụ biểu hiện bằng một hợp đồng giữa một
bên là ngân hàng và một đối tác khác nhằm đổi một loại tiền này lấy một loại tiền khác tại
một thời điểm khác trong tương lai nhưng các dữ kiện như tỷ giá , loại tiền , số lượng ,
ngày hiệu lực đều đã được hai bên xác định cụ thể vào lúc k hợp đồng
Hợp đồng kỳ hạn có ưu điểm là đáp ứng được của cả hai bên về quy mô giao dịch
lẫn ngày tiến hành hoán đổi . Nhưng nhược điểm của loại hợp đồng này là không được hủy
bỏ đơn phương . Do vậy đây không phải là hợp đồng mang tính linh hoạt và dễ bán
* Tỷ giá trên thị trường có kỳ hạn được xác định căn cứ trên cung và cầu của ngoại tệ
trái với tỷ giá hối đoái trao ngay , không có dự định giá cho giao dịch có kỳ hạn . Tỷ giá có
kỳ hạn được xác định ngay khi thỏa thuận , dựa vào tỷ giá giao ngay về các đồng tiền đó
trừ đi hay cộng thêm vào phần chênh lệch giữa lãi đi vay phải trả và lãi cho vay sẽ nhận
được trên số ngày cụ thể của kỳ hạn .
Nếu gọi ký hiệu :
x
*
: Tiền gởi có kỳ hạn
x : Tỷ giá giao ngay
Trang: 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
m : Tỷ giá mua
b : Tỷ giá bán
n : Số ngày
t : Lãi suất (% năm)
1 : Đồng tiền yết giá
2 : Đồng tiền định giá
v : Vay
cv : Cho vay
t
1
v
: Lãi suất đi vay của đồng tiền yết giá
t
2
cv
: Lãi suất cho vay của đồng tiền định giá
Tính x
m
*
(Tiền gởi mua có kỳ hạn) A/B
Giả sử 1 công ty có 1 đơn vị tiền tệ A sau n ngày nữa
Ký hợp đồng n +1A
Công ty đến NH bán có kỳ hạn n ngày 1 đơn vị A lấy B . NH đồng ý mua theo tỷ giá mua
có kỳ hạn ngày (x
m
*
)
 3 giao dịch cùng thực hiện một lúc
• Công ty sẽ đi vay 1 số tiền XA để sao cho sau n ngày với lãi suất t
1
cv
, công ty sẽ
trả vốn gốc và lãi đúng bằng 1 đơn vị tiền tệ A
An
cv
1*
36000
*XX
t
1
=+

AX
t
cv
*
36000
1
1
1
+
=
∞ Công ty sẽ bán XA để lấy đồng tiền B theo x
m
. Công ty được
)(*
36000
*
1
1
1
B
n
x
t
m
cv
+
Trang: 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
∞ Công ty cho vay lượng tiền B có được trong n ngày với lãi suất
t
v
2


1A
Trả nợ
& lãi vay

x
m
*

n
nn
t
x
t
x
t
x
v
m
cv
m
cv
m
*
36000
**
36000
*
1
1
*
36000
*
1
1
2
11
*
+
+
+
=

n
nnn
n
n
t
tttx
t
tx
x
cv
cvvcv
m
cv
v
m
m
*36000
)***36000(
*36000
)36000*(
1
121
1
2
*
+
−++
=
+
+
=

n
nn
t
tt
xx
cv
cvv
mm
*36000
**
*
1
12
+

+=

x
m

Chênh lệch TG mua có kỳ hạn
với TG mua giao ngay
∞ Ngược lại hoàn toàn với trên ta cũng tính được:

n
n
t
t
t
xxx
v
v
cv
bbb
*36000
*)
*
1
1
2
*
(
+

+=

x
b



0
>∆

x
bm
Điểm gia tăng

0
<∆

x
bm
Điểm khấu trừ
Với nghiệp vụ này nhà kinh doanh có thể tính toán trước hiệu quả kinh tế của từng
nghiệp vụ đồng thời tránh được rủi ro do sự biến động tỷ giá .
2.4 Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (swap)
Nghiệp vụ swap là một nghiệp vụ kết hợp đồng thời giữa các giao dịch mua (bán)
ngoại tệ giao ngay với các giao dịch bán (mua) ngoại tệ có kỳ hạn cho cùng một khoản
ngoại tệ nhất định
Trang: 7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
Swap : Spot : mua Với cùng 1 lượng
Forward : bán ngoại tệ
Swap : Spot : bán Với cùng 1 lượng
Forward : mua ngoại tệ
Nghiệp vụ swap có thể đáp ứng nhu cầu đầu tư kinh doanh bằng các lại ngoại tệ
khác nhau cho các nhà kinh doanh , nhưng vẫn tránh được rủi ro do sự biến động của tỷ giá
hối đoái và đảm bảo một mức lợi nhuận dự kiến tối đa
Với các ngân hàng thì nghiệp vụ swap thường được sử dụng để kiếm lợi nhuận và
bảo toàn vốn
Tính chất của swap được xem như là vay đồng thời . Ngân quỹ của ngân hàng và
khách hàng (ngân hàng khác , công ty ) đều không thay đổi . Phần chênh lệch khi thanh
toán là do sự chênh lệch của lãi suất .
2.5 Nghiệp vụ mua bán quyền chọn (option transaction)
• Option ngoại tệ là hợp đồng cho phép người mua quyền nhưng không bắc buộc ,
được mua bán một số lượng ngoại tệ nhất định ở một mức giá xác định trong
(vào) một thời gian xác định trước .
• Có hai loại quyền chọn:
Quyền chọn mua (call option): là hợp đồng quyền chọn cho phép người mua
nó có quyền, nhưng không bắt buộc được mua một số lượng ngoại tệ nhất định ở một mức
giá xác định vào một thời gian được xác định trong tương lai .
Quyền chọn bán (put option): là hợp đồng quyền chọn cho phép người mua
nó có quyền nhưng không bắt buộc được bán một số lượng ngoại tệ nhất định ở một mức
giá xác định vào một khoảng thời gian được xác định trước trong tương lai .
• Có 2 kiểu quyền chọn :
Quyền chọn kiểu châu Âu: chỉ cho phép người mua quyền sử dụng quyền
của mình trong một ngày nhất định
Quyền chọn kiểu Mỹ: cho phép người mua quyền được sử dụng quyền trong
khoảng thời gian hiệu lực của hợp đồng
• Hợp đồng option ngoại tệ cho phép người mua quyền giới hạn tối đa thiệt hại
của mình nếu tỷ giá không tăng như dự đoán . Nhưng đối với người bán thì
không giới hạn được tổn thất nếu xảy ra rủi ro về tỷ giá .
3 . Các Rủi Ro Có Thể Trong Kinh Doanh Ngoại Tệ :
Những rủi ro trong kinh doanh ngoại hối là :
+ Rủi ro về tỷ giá hối đoái
Trang: 8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
+ Rủi ro về tỷ lệ Swap
+ Rủi ro thực hiện hợp đồng
+ Rủi ro nghiệp vụ và chuyển đổi
Trong số các trường hợp nêu trên chỉ có rủi ro tỷ giá là rủi ro đặc trưng cho kinh
doanh ngoại hối . Còn các rủi ro khác cũng xuất hiện trong các nghiệp vụ khác của ngân
hàng đặc biệt là rủi ro thực hiện và rủi ro tỉ kệ Swap (rủi ro lãi suất) . Nhưng rủi ro trong
chuyển đổi cũng quan trọng không chỉ trong kinh doanh ngoại hối . Đương nhiên những
rủi ro vừa nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối hơn là
những nghiệp vụ ngân hàng khác , vì những ngân hàng kinh doanh ngoại hối phụ thuộc
một phần vào sự phát triển ở nước ngoài và như vậy , khó tập hợp và khó kiểm tra hơn là
những rủi ro tương ứng ở trong nước .
3.1 Rủi ro tỷ giá hối đoái
Rủi ro tỷ giá hối đoái là sự rủi ro có ý nghĩa rộng lớn của nghiệp vụ kinh doanh
ngoại hối . Nó sẽ xuất hiện , nếu một “vị thế” được tạo ra , ví dụ : một ngân hàng mua của
một khách hàng hay của một ngân hàng khác một lượng USD với tỷ giá nào đó , thì cho
đến lúc bán lại khối lượng này , ngân hàng mới hết lo lắng về rủi ro tỷ giá . Rủi ro chỉ tồn
tại trong khoảng thời gian mà “vị thế” này tồn tại , nhưng nó cũng quan trọng ngay cả khi
khoảng thời gian giữa lúc hình thành và khóa sổ “vị thế” này , thậm chí chỉ trong vòng một
phút .
Khi chỉ có một biến động nhỏ về tỷ giá thì điều đó , đã dẫn đến hậu quả của một
thất thoát lớn , nếu khối lượng ngoại tệ kinh doanh nhiều . Nếu tỷ giá USD , khi bán ra
giảm xuống thì ngân hàng này sẽ thiệt hại . Nếu giả sử , ngân hàng vẫn giữ khoảng này
thêm qua đêm thì rủi ro còn lớn hơn nữa . Mối nguy hiểm và thiệt hại này không hề phụ
thuộc vào hệ thống tỷ giá hối đoái , tức là bất kể đồng tiền này được thả nổi hay theo tỷ giá
hối đoái cố định . Thật ra , biến động hàng ngày của tỷ giá đồng USD đã mở rộng nhiều
trong giai đoạn chuyển sang cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi , thế nhưng trong hệ thống tỷ giá
hối đoái cố định lại có rủi ro khác , đó là tăng hoặc giảm giá trị hối đoái của đồng tiền .
Nhằm tránh thất thoát quá mức , từ lâu các ngân hàng đã áp dụng hạn mức hình
thành các “vị thế” cho các phòng kinh doanh ngoại hối . Mức độ của giới hạn này phụ
thuộc vào doanh số hoạt động của ngân hàng , khả năng chấp nhận rủi ro và lòng tin vào
khả năng kinh doanh của người điều hành kinh doanh ngoại hối.
3.2 Rủi ro tỷ lệ swap .
Rủi ro tỷ lệ Swap trở nên quan trọng , nếu “vị thế” thời hạn với khối lượng kinh
doanh đã thỏa thuận xong . Nhưng thời hạn thanh toán thì chưa chấm dứt . Nếu , ví dụ một
ngân hàng mua 5 triệu USD theo 3 tháng và bán theo thời hạn 4 tháng , thì 2 khoản này về
giá trị là bằng nhau nhưng thời hạn thì lại không đồng nhất . Điều đó có nghĩa là , ở đây
không có rủi ro về tỷ giá , nhưng lại có rủi ro về tỉ lệ Swap , tức rủi ro sẽ nảy sinh vào cuối
tháng 3 , nếu “vị thế” này được hình thành qua thực hiện một nghiệp vụ Swap mà tỉ lệ
Swap lại phát triển không thuận lợi .
Trang: 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
Rủi ro tỉ lệ Swap có ý nghĩa , một mặt trong nghiệp vụ ác-bít về tỷ giá thời hạn về
mặt khác , là trong nghiệp vụ khách hàng . Trong giao lưu với khách hàng , các ngân hàng
thường phải ký kết các nghiệp vụ thời hạn với thời hạn “vòng” , tức là những thời hạn mà
lúc đó , thị trường không hoạt động . Sau đó các ngân hàng ký thực hiện nghiệp vụ đối ứng
với thời hạn tiếp theo trong thị trường và khắc phục những bất đồng về thời điểm , bằng
cách ký các hợp đồng Swap ngắn hạn và luân chuyển (ví dụ Swap theo ngày) .
Khi hạch toán , các ngân hàng thường căn cứ vào tình hình lức ký kết nghiệp vụ
thời hạn . Theo nguyên tắc , các ngân hàng cũng dự tính một khoảng an toàn nhất định ,
nhưng khi xét đến góc độ cạnh tranh , ngân hàng không thể dự tính khoảng an toàn lớn
được .
3.3 Rủi ro thực hiện :
Với mỗi một nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối do ngân hàng ký kết , luôn xuất hiện
rủi ro do bên đối tác không thực hiện trách nhiệm của họ và hậu quả là hoạt động này sẽ
kết thúc bằng lỗ . Giả sử một ngân hàng bán cho một khách hàng hay một ngân hàng khác
5 triệu với tỷ giá USD/DEM là 2,8005 và mua lượng này từ một ngân hàng khác theo tỉ giá
USD/DEM là 2,8 . Sau khi đã ký kết hợp đồng với người mua thì người mua bị phá sản và
không thể thực hiện được trách nhiệm của mình . Tỉ giá của USD/DEM trên thị trường lại
hạ xuống còng 2,75 . Ngân hàng đã mua 5 triệu USD theo tỉ giá 2,8 nhưng không bán tiếp
theo tỉ giá này được và phải chịu một khoản lỗ là 250.000 DEM , mà không thể xem chỉ
với lượng này cũng có thể làm cho ngân hàng bị phá sản . Nhưng trên nguyên tắc , ngân
hàng chỉ phải trả lại một phần .
Rủi ro thực hiện trong nghiệp vụ có thời hạn lớn hơn là nghiệp vụ giao ngay do thời
gian thực hiện dài . Điều này xảy ra không chỉ trong giao dịch chuyển đổi với khách hàng
mà cả với các ngân hàng khác . Trong giao dịch với các ngân hàng , rủi ro xuất hiện ở dạng
“ngoại tệ bù trừ rủi ro” , có một phạm vi lớn hơn so với nghiệp vụ với khách hàng . Vì
trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối giữa các ngân hàng , hai hoạt động , mua và bán
được thực hiện ở các địa điểm khác nhau , nên hai đối tác trong hợp đồng khi phân chia
nhiệm vụ thanh toán không biết được liệu bạn hàng có thực hiện trách nhiệm của họ hay
không .
Như vậy , rủi ro thực hiện phụ thuộc vào uy tín thanh toán của bạn hàng , người ta
thường gọi rủi ro này là rủi ro uy tín thanh toán hoặc rủi ro mất địa chỉ .
Các ngân hàng xử lý vấn đề rủi ro thực hiện này (tức là rủi ro uy tín và khả năng
thanh toán) bằng cách chọn lựa kỹ bạn hàng , quy định hạn mức song phương cho khối
lượng ngoại hối giao dịch , cũng như trong giao lưu với khách hàng đòi hỏi một khoản bảo
hiểm theo tỷ lệ phần trăm nhất định thường là 20% so với doanh số giao dịch trong hợp
đồng.
3.4 Rủi ro kinh doanh .
Kinh doanh ngoại hối trong nghĩa rộng , bao gồm cả rủi ro thuộc chính bản thân
hoạt động kinh doanh , tức là chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh này không thể bù
đắp đủ bằng doanh thu . Trên nguyên tắc , các giao dịch thường có thu nhập cao và những
chi phí cho thiết bị văn phòng thường lớn , tức là những chi phí cho “back office” , những
chi phí tất toán nghiệp vụ và giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ngoại tệ . Nếu không
Trang: 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
có nhiều khách hàng giao dịch và hoạt động đầu cơ , hay hoạt động ác-bít không suôn sẻ
thì ngân hàng giao dịch này có thể sẽ phải gánh chịu tổn phí rất tốn kém cho hoạt động này
.
II . THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ LIÊN NGÂN HÀNG &
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NGOẠI TỆ CỦA
NGÂN HÀNG.
1. Thị Trường Ngoại Tệ Liên Ngân Hàng .
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thuộc ngân hàng Nhà nước Việt Nam được
chính thức thành lập từ ngày 20/9/1994
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức và
điều hành , nhằm hình thành thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các ngân hàng
thương mại với nhau , làm cơ sở cho việc ra đời thị trường hối đoái hoàn chỉnh ở Việt Nam
.
Các thàn viên tham gia vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng phải là hội sở chính
của các tổ chức tín dụng được phép kinh danh ngoại tệ , có hệ thống thông tin nội bộ nối
mạng với NHNN Việt Nam . Và cuối cùng để trở thành thành viên của thị trường này thì
cần phải có giấy phép tham gia do thống đốc NHNN cấp . Đối với các tổ chức khác chưa
có giấy phép thì không được quyền tham gia trực tiếp . mà chỉ gián tiếp tham gia thông qua
ngân hàng phục vụ cho mình .
Hiện nay, các thàn viên được tham gia vào thị trường này bao gồm : Ngân hàng
thương mại quốc doanh , ngân hàng đầu tư và phát triển , ngân hàng thương phần , chi
nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động ở Việt Nam , ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng
Việt Nam với ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam , ngân hàng nhà nước Việt
Nam .
Phương thức giao dịch trên thị trường ngoai tệ liên ngân hàng được thực hiện bằng
một trong các phương tiện sau : điện thoại , telex , fax hay qua mạng vi tính .
Đồng tiền giao dịch bao gồm : USD , EUR , GBP , JPY , HKD , VND
Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ bao gồm 3 loại sau :
+ Nghiệp vụ giao ngay – SPOT
+ Nghiệp vu có kỳ hạn – FORWARD
+ Nghiệp vụ hoán đổi – SWAP
Tỷ giá giao dịch được thực hiện trên cơ sở tỷ giá chính thức của NHNN và biên độ
do thống đốc NHNN quy định . Trên cơ sở này , giám đốc sở giao dịch NHNN quy định tỷ
giá mua , bán cỉa NHNN với các thành viên của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng .
Mọi việc thanh toán đều thông qua phương thức thanh toán chuyển khoản qua các
tài khoản của các thành viên mở tại NHNN hoặc tại ngân hàng nước ngoài
Trang: 11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
Việc mua bán thị trường được thực hiện theo các nguyên tắc sau :
+ Các ngân hàng thương mại được thực hiện mua bán ngoại tệ với các khách hàng
của mình theo quy chế hiện hành . Việc cân đối cung cầu ngoại tệ trong toàn hệ thống
được thực hiện thông qua hội sở chính của từng ngân hàng thương mại .
+ Trường hợp ngân hàng thương mại không tự cân đối được cung cầu ngoại tệ
trong hệ thống của mình , thì các ngân hàng thương mại thực hiện mua bán với nhau .
+ Nếu các ngân hàng thương mại đã thực hiện mua bán với nhau nhưng vẫn chưa
cân đối được nhu cầu ngoại tệ , thì ngân hàng thương mại sẽ giao dịch với ngân hàng Nhà
nước . Khi cung lớn hơn cầu ngoại tệ NHNN sẽ tiến hành việc mua bán ngoại tệ nhằm cân
đối cung cầu ngoại tệ và làm tăng quỹ điều hòa ngoại tệ của nhà nước . Ngược lại nếu
cung nhỏ hơn cầu , NHNN sẽ sử dụng quỹ điều hòa ngoại tệ để bán ra .
Nhờ vậy , trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng . NHNN thực hiên vai trò là người
mua , người bán cuối cùng để can thiệp vào thị trường một cách có hiệu quả , có nhằm
thực hiện chính sách tiền tệ , tỷ giá của Nhà nước .
Trong những năm qua , hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam
đã được những kết quả đáng ghi nhận . Nó đã đáp ứng được một phần nhu cầu ngoại tệ
cho nhập khẩu , góp phần ổn định tỷ giá , khuyến khích xuất khẩu . Tuy nhiên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng của Việt Nam còn rất nhiều hạn chế như : các nghiệp vụ giao dịch
còn đơn giản , chủng ngoại tệ còn ít , chưa phản ánh được thực trạng tổng cung , tổng cầu
ngoại tệ trong nền kinh tế . Tóm lại , thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chỉ mới là tiền thân
của thị trường ngoại hối ở Việt Nam .
2 . Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hoạt Động Mua Bán Ngoại Tệ Của Ngân Hàng .
Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ của ngân hàng có rất nhiều rủi ro . Bản thân ngoại tệ
cũng luôn tiềm ẩn nhiều biến động , nên hoạt động kinh doanh ngoại tệ chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan như : Tỷ giá , nhu cầu ngoại tệ của doanh
nghiệp , tâm lý , hoạt động xuất nhập khẩu , lãi suất của đồng ngoại tệ , chính sách quản lý
ngoại hối , lượng ngoại tệ dự trữ , tính cạnh tranh v v…
- Hoạt động mua bán ngoại tệ luôn gắn liền với vấn đề tỷ giá . Có thể xem tỷ giá là
yếu tố đầu tiên tác động trực tiếp đến hoạt động mua bán ngoại tệ của chi nhánh . Nếu tỷ
giá có xu hướng tăng (đồng ngoại tệ lên giá) thì cung ngoại tệ sẽ nhỏ hơn cầu ngoại tệ .
Bởi vì ai cũng muốn mua ngoại tệ sớm và người có ngoại tệ lại không muốn mua bán
sớm , do vậy hoạt động mua ngoại tệ trở nên khó khăn . Ngược lại , khi tỷ giá hối đoái
giảm (đồng ngoại tệ xuống giá) thì hoạt động mua ngoại tệ của ngân hàng sẽ trở nên dễ
dàng hơn và hoạt động mua bán ngoại tệ trở nên khó khăn .
- Nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp : phần lớn hoạt động mua bán ngoại tệ của
ngân hàng là phục vụ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu . Hoạt động xuất nhập khẩu
của các doanh nghiệp này thường có tính thời vụ cao , nên hoạt động mua bán ngoại tệ của
ngân hàng cũng ít nhiều có tính thời vụ
- Một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ mà ngân
hàng không thể kiểm soát được , đó là yếu tố tâm lý . Nếu trước đây người dân Việt Nam
Trang: 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
thường dùng vàng làm phương tiện cất trữ thì ngày nay người ta thường thích cất trữ bằng
ngoại tệ mạnh (đặc biệt là USD) hơn là trữ vàng . Do vậy , khi có một điều bất thường xảy
ra (như khủng bố , chiến tranh , thiên tai …) làm cho tỷ giá biến động thì họ thường hành
động theo số đông , cùng bán ra hoặc cùng mua vào ngoại tệ . Điều này ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng . Mặt khác , người dân Việt Nam
vẫn còn thói quen giao dịch mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do , nên hoạt động kinh
doanh ngoại tệ của ngân hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng .
- Hoạt động mua bán ngoại tệ còn bị quản lý , kiểm soát chặt chẽ bởi cở chế quản
lý ngoại hối do Nhà nước ban hành . Đồng thời các chi nhánh ngân hàng còn
phải tuân theo quy định về trạng thái ngoại tệ hằng ngày của ngân hàng trung
ương .
Trang: 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
PHẦN II
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG MUA BÁN
NGOẠI TỆ NGÂN HÀNG N
o
& PTNT ĐÀ NẴNG
GIAI ĐOẠN 2002 – 2003
Trang: 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét